Xin mời ủng hộ VNmilitaryhistory trên Facebook. Đa tạ

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương 

Tin Tức Thời Sự

Nếu Việt cộng thua !!!

Trần Trung Chính

Cách nay ít lâu, anh bạn đồng môn của tôi là nhà văn Trần Văn Giang ở miền Nam California có viết một tiểu luận có tựa đề “NẾU ViỆT NAM CỘNG HÒA THẮNG” , tiểu luận này mô tả những ước mơ ( có thể thực hiện được) của người dân Việt Nam Cộng Hòa để đối chiếu với tình trạng tồi tệ hiện nay mà bọn Việt Cộng đã tạo nên sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Bài viết của tôi không phải là để phản bác những ước mơ của anh bạn tôi, vì theo quan điểm chủ quan của tôi những gì đã xảy ra trong thực tế (sau khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ) đã vượt khỏi sự hiểu biết thông thường của người Việt Nam, cho nên đã có những hí hửng đắc chí của “bên thắng cuộc” cũng như đã có những ngậm ngùi uất hận của “bên thua cuộc”.

Tiếng súng đã ngưng từ 40 năm qua, nhưng chiến tranh ý thức hệ chưa có dấu hiệu chấm dứt. Hoa Kỳ đã cho giải mật những văn kiện và tài liệu có từ thời chiến tranh Việt Nam (giai đoạn 1960 – 1975), nhưng vẫn còn quá nhiều bí ẩn chưa được tiết lộ, có lẽ vì những bí ẩn này không được viết thành tài liệu và không có lưu trữ trong văn khố, nên cá nhân tôi khi viết bài này chỉ dựa trên những sự kiện đã xảy ra để mà luận suy (các luật sư gọi là những lý đoán) những bí ẩn trong quá khứ. Vì vậy, những độc giả quen với lề lối đòi hỏi người viết phải có reference quy ước, thì xin nói trước là người viết không thể có được. Suy ra, vấn đề tin tưởng hay không tin tưởng vào những suy tưởng trong bài viết của tôi hoàn toàn tùy thuộc vào từng cá nhân người đọc.

Thông thường , người đời cho rằng “thông tin” là cách của người viết muốn người đọc suy nghĩ giống như suy nghĩ của người viết. Và “tuyên truyền” là cách người viết muốn người đọc “hành động” theo sự kêu gọi của người viết. Tôi xác định rõ giới hạn của bài viết này là “thông tin” , đó là tôi muốn chia xẻ sự suy tưởng của mình với tất cả độc giả, tôi không tuyên truyền cho Hoa Kỳ, cho Việt Nam Cộng Hòa hay cho Việt Cộng gì cả : vì vậy những phản bác thô lỗ tục tằn hay những nịnh bợ trâng tráo cho “bên thắng cuộc” đều là những điều không cần thiết.

Cuộc chiến Việt Nam khởi đầu từ lúc nào ? Ý định nuốt chửng miền Nam Việt Nam bằng điều khoản Hiệp Thương vào năm 1956 thất bại vì chính phủ của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm không ký vào Hiệp Định Geneve 1954 chia đôi đất nước ( dĩ nhiên không có điều khoản bắt buộc VNCH phải tuân thủ những điều khoản mà mình không ký ) và sau đó trong những mật đàm về Hiệp Thương Thống Nhất, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đòi hỏi phải Tổng Tuyển Cử cả 2 miền Nam – Bắc, trong khi Hồ chí Minh thì nhất quyết chỉ có miền Nam bỏ phiếu tuyển cử mà thôi : do đó, cuộc thống nhất 2 miền bằng hiệp thương vào năm 1956 đã không xảy ra !. Đến cuối năm 1959, Hồ chí Minh thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Hà Nội để bắt đầu chiến tranh xâm lược miền Nam. Quân Đội Hoa Kỳ thực sự trực tiếp chiến đấu tại miền Nam Việt Nam vào khoảng tháng 3 hay tháng tư năm 1965 ( Bác sĩ Phan Huy Quát thành lập nội các vào ngày 16 tháng 2 năm 1965, sau đó một thời gian ngắn, chính Thủ Tướng Phan Huy Quát ký văn thư mời quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam giúp chống lại Cộng quân Bắc Việt đã và đang ồ ạt tấn công khắp nơi trên lãnh thổ VNCH).

Ghi chú của người viết : một số khá đông người Việt lại cho rằng : Hoa Kỳ trực tiếp can dự vào Việt Nam vào tháng 7 năm 1954 khi chính phủ Mỹ tán trợ cũng như tài trợ cho ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ Tướng chính phủ và thành lập nội các . Nhưng vào năm 1968, khi ra tranh cử Tổng Thống, ứng cử viên Richard Nixon đọc bài diễn văn trong có có đoạn :”…dân chúng Hoa Kỳ đừng thắc mắc nước Mỹ tại sao tham chiến tại Việt Nam và tham chiến vào lúc nào, mà vấn đề quan trọng hiện nay là phải tìm cách rút chân ra khỏi “vũng lầy “ Việt Nam như thế nào. Do đó, tôi cam kết là nếu đắc cử Tổng Thống, nhiệm vụ đầu tiên của tôi là đem binh đội Hoa Kỳ, đem con em của chúng ta trở về nước…..”. Vì vậy, để tránh khỏi tranh cãi về vấn đề này, tôi viết “ Quân Đội Hoa Kỳ trực tiếp chiến đấu tại miền Nam Việt Nam” chứ không nói “ chính phủ Hoa Kỳ… “ .

Có một số điểm cần lưu ý – nhất là độc giả Việt Nam, sau khi Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập MTGPMN vào cuối năm 1959 cũng có nghĩa là CSVN phát động “chiến tranh nhân dân” đặt “chính trị” là mũi nhọn và quân sự là mặt hỗ trợ. Như vậy HCM và Đảng CSVN muốn dành lấy chính quyền miền Nam từ chính phủ Ngô Đình Diệm thông qua “sự nổi dậy của nhân dân” chứ không phải “dành chính quyền từ chiến tranh quy ước” như kiểu Hitler xâm lăng Bỉ, Hòa Lan, Pháp…hồi 1939 -1940. Tôi chắc chắn rằng HCM tuân theo chỉ thị của Mao Trạch Đông tiến hành “chiến tranh nhân dân” vì Mao Trạch Đông vừa mới nếm mùi cay đắng trong trận chiến Triều Tiên 1950 – 1953 (sử dụng 01 triệu chí nguyện quân dưới quyền chỉ huy của nguyên soái Bành Đức Hoài mà cũng chỉ cù cưa qua lại ở vĩ tuyến 38 !!!) . Nghe đến “chiến tranh nhân dân” là nghe đến “3 mũi giáp công”, là nghe đến “ nông thôn bao vây thành thị” và “nhân dân trong các đô thị do Mỹ - Ngụy tạm chiếm vùng lên biểu tình cướp chính quyền” … v…v…và … v…v… Đối phó với kiểu “chiến tranh nhân dân “do HCM sao chép (copy) từ Mao Trạch Đông và ĐCSTH , chính quyền của chính phủ VNCH đặt ra quốc sách “Ấp Chiến Lược” để bao vây và cô lập các cán bộ Cộng Sản tại các vùng nông thôn của miền Nam.

Chính quyền của Tổng Thống John F. Kennedy cũng đặt ra học thuyết “Chiến tranh Chống Nổi Dậy” và đưa 16,000 cố vấn quân sự sang VNCH để trợ giúp VNCH. Theo nhận xét của tôi, Chiến Tranh Nhân Dân và Chiến tranh Chống Nổi Dậy đều chỉ là “hư chiêu” , bởi vì sau cái chết của 2 anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu, phía Việt Cộng không sử dụng Chiến Tranh Nhân Dân nữa mà ồ ạt đem các đại đơn vị cấp sư đoàn vào miền Nam tấn công tới tấp theo mô thức “vận động chiến”- nghĩa là “chiến tranh xâm lăng quy ước”, nhân dân miền Nam tưởng chừng như Việt Cộng đã toàn thắng từ hồi 1964 – 1965 !!!. Phía Hoa Kỳ thì đầu năm 1965, do lời yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát cũng đem hơn ½ triệu binh sĩ vào Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Đại Tướng Westmoreland, cùng lúc các đồng minh của Hoa Kỳ cũng vào Việt Nam để trợ giúp VNCH như 8,000 quân của Australia – New Zealand trú đóng tại tỉnh Phước Tuy, 50,000 quân của Đại Hàn (gồm 2 sư đoàn bộ binh Mãnh Hổ và Bạch Mã, 01 lữ đoàn TQLC – mang tên Thanh Long và 01 sư đoàn công binh) trú đóng tại Bình Định – Phú Yên và phần đất phía Bắc của tỉnh Khánh Hòa , 12,000 binh sĩ thuộc sư đoàn King Cobra (Mãng Xà Vương) của Thái Lan trú đóng tại vùng Long Thành – Long Bình cận kề thủ đô Sài Gòn, Philippines không có binh sĩ chiến đấu mà chỉ có 2,000 người trợ giúp về y tế và công tác Dân Sự Vụ, trú đóng tại Tây Ninh….

Cho đến bây giờ (2015) , các bình luận gia về chính trị của phía Việt Cộng và cả phía Hoa Kỳ và VNCH đều có một nhận định khá giống nhau là : phía Cộng Sản là kẻ chiến thắng trong khi kẻ chiến bại là phía Hoa Kỳ và VNCH. Thực sự thì phía chính phủ Hoa Kỳ không chính thức tuyên bố gì cả, về phía VNCH chỉ có những cá nhân dính líu nhiều trong guồng máy chính quyền miền Nam lên tiếng trách móc chính phủ Mỹ như Tổng Trưởng Nguyễn Tiến Hưng, đại sứ Bùi Diễm, luật sư + nhà báo Phạm Kim Vinh…Phía Việt Cộng thì “nổ còn hơn lựu đạn” với những đại tác phẩm như “ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN” của Đại Tướng Văn Tiến Dũng chẳng hạn, các loa tuyên truyền của Ban Tuyên Huấn ĐCSVN cũng như của Bộ Thông Tin chính phủ Việt Cộng đều ra rả nào là “chiến thắng tên đế quốc đầu sỏ” , nào là “chiến thắng thần thánh” (vô thần mà lại tin có thần thánh , và khôi hài nữa là chiến thắng thần thánh nên phe Cộng Sản không có tổn thất nhân mạng).

Sau hơn 25 năm định cư tại Mỹ, nhận định của tôi lại hoàn toàn khác, đó là :

1/ NHẬN ĐỊNH THỨ NHẤT : Chính phủ Hoa Kỳ (qua nhiều đời Tổng Thống) đã kiểm soát các diễn biến của cuộc chiến Việt Nam theo chiều hướng tối thiểu hóa các tổn thất và tối đa hóa các thắng lợi. Tôi không nói chính phủ Hoa Kỳ khống chế được chiến tranh Việt Nam mà nói rằng chính phủ Hoa Kỳ kiểm soát được diễn biến cuộc chiến vì phía khởi động cuộc chiến là phía Cộng Sản do Hồ chí Minh được khối Cộng Sản ủy nhiệm tiến hành . Chính phủ Hoa Kỳ không thể thay đổi được “tư tưởng xâm lược miền Nam” của Hồ chí Minh và các lãnh tụ của Việt Cộng nên buộc lòng phải tham chiến giúp đỡ chính phủ và nhân dân VNCH ngăn chặn làn sóng xâm lăng của đế quốc Cộng Sản.

2/ NHẬN ĐỊNH THỨ HAI : Chính phủ Hoa Kỳ quá khéo léo giăng bẫy để Hồ chí Minh và các lãnh tụ Việt Cộng “sụp bẫy”, điều nghịch lý là kẻ “bị sụp bẫy” lại diễu cợt kẻ “giăng bẫy” là “khờ khạo và ngớ ngẩn ”.

Dẫn chứng 2-1 : Hoa Kỳ chịu ký Hiệp Định Genève 1962 về Lào để 3 phe Trung Lập, phe Pathet Lào và phe Hữu lập chính phủ Liên Hiệp khiến cho Bắc Việt dễ dàng đưa quân đội vào Nam qua đường mòn HCM (thực tế là xa lộ và 90% chiều dài con đường này nằm trên lãnh thổ của Lào). Trước khi Hiệp Định Genève 1962 được ký kết, chính ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu đã bực bội cho rằng chính phủ Hoa Kỳ “khờ khạo” vì chuyện dễ thì không làm mà lại làm chuyện khó, ông đặt câu hỏi là tại sao chính phủ Kennedy không sử dụng 5,000 quân “green beret” ở Thailand (Lực Lượng Đặc Biệt) sang giúp Hoàng Thân Souvana Phouma giữ vững lãnh thổ Lào mà lại cho phép lập chính phủ 3 thành phần ?

Dẫn chứng 2-2 : Quốc sách Ấp Chiến Lược của VNCH (mô phỏng của Sir Robert Thompson ở Malaysia) bị thất bại vì địa hình địa thế của VNCH có dãy Trường Sơn, các Ấp Chiến Lược của VNCH không ngăn chận được quân ngoại nhập từ miền Bắc, trong khi Malaysia là một bán đảo 3 mặt là biển, quân Cộng Sản Malaysia không thể nhận tiếp viện nhân vật lực từ bên ngoài. Chính phủ Hoa Kỳ muốn thay thế chính phủ của Tổng Thống Diệm để có thể đem quân đội Hoa Kỳ trực tiếp đối đầu với quân đội Bắc Việt, có lẽ vì không hiểu được “cái bẫy của Hoa Kỳ” nên Tổng Thống Diệm nhất quyết chống lại đưa tới kết quả bi thảm là 2 anh em của ông bị giết. Sau đó là một thời kỳ xáo trộn với các lãnh tụ chính trị và quân sự chỉ lo tranh dành quyền lực tại Sài Gòn chứ chẳng có kế sách chống Cộng. Hồ chí Minh vá các lãnh tụ Việt Cộng thấy vậy tưởng là ngon ăn, nên Bộ Chính Trị họp kín bàn kế hoạch “tiếp thu” miền Nam bằng vũ lực (trong năm 1964 và đầu năm 1965, các đại đơn vị cấp sư đoàn quân chính quy Bắc Việt vượt Trường Sơn vào Nam mở các trận đánh lớn tại Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giả, Pleime, Toumorong, Dakto, Ba Gia, Thạch Trụ…cũng như xóa bỏ vùng phi quân sự tại địa đầu giới tuyến Quảng Tri). Cho đến bây giờ (2015), các lãnh tụ Việt Cộng vẫn vui mừng tuyên bố là “người Mỹ đã dâng cho chúng tôi một quà vô giá khi giết Ngô Đình Diệm”

Dẫn chứng 2-3 : để có cớ đem quân vào miền Nam cũng như oanh tạc “có giới hạn” tại miền Bắc, Hoa Kỳ dàn dựng ra biến cố tàu Maddox. Thủ Tướng dân sự Phan Huy Quát thành lập nội các ngày 16 tháng 2 năm 1965, không lâu sau đó, ông là người cầm đầu ngành Hành Pháp của VNCH chính thức viết văn thư yêu cầu quân đội Hoa Kỳ vào Việt Nam để giúp VNCH chống đỡ cuộc tấn công toàn diện của cộng quân Bắc Việt. Cần ghi nhận rằng sau khi quân đội Hoa Kỳ danh chính ngôn thuận vào VNCH thì những cuộc xáo trộn chính trị bị dẹp bỏ : không biết được điều này, cho nên Thích Trí Quang và tập đoàn tăng lữ Bình Trị Thiên khi gây ra biến cố BIẾN ĐỘNG MIỀN TRUNG năm 1966 đã bị Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan – đại điện của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ - vô hiệu hóa.

Dẫn chứng 2-4 : trận đánh tại Ấp Bắc xảy ra vào năm 1962 được Việt Cộng thổi phồng ,thực tế chỉ cốt để tuyên truyền. Phía Hoa Kỳ và VNCH coi đây là trận đánh để thử nghiệm học thuyết “chống nổi dậy”, tổn thất của binh sĩ sư đoàn 7 do Đại Tá Bùi Đình Đạm làm Tư Lệnh sư đoàn chỉ có nghĩa là cộng quân đã đổi qua “vận động chiến quy ước” trong khi Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao – Tư Lệnh vùng IV và Đại Tá Bùi Đình Đạm vẫn còn áp dụng công thức “Chống Nổi Dậy”. Sau trận Ấp Bắc , quân lực VNCH được rèn luyện kỹ hơn về “vận động chiến” và công thức “Chống Nổi Dậy” đã hoàn toàn bị dẹp bỏ. Theo ý kiến trích từ suy nghĩ của tướng Trần Quốc Tuấn thời nhà Trần : khi áp dụng vận động chiến, cộng quân đã từ bỏ “sở trường “ của chiến tranh nhân dân để sử dụng “sở đoản” là “Vận động chiến” đối địch với “sở trường vận động chiến” của quân đội Hoa Kỳ và VNCH, thì đương nhiên Cộng quân không thể thắng được.

Sau 1963, tướng Dương Văn Minh ký văn thư dẹp bỏ chương trình Ấp Chiến Lược và cho tới nay những người ủng hộ Tổng Thống Diệm vẫn hậm hực lên án tướng Dương Văn Minh về việc này. Công bằng mà nói, tướng Dương Văn Minh dẹp bỏ chương trình Ấp Chiến Lược vì chính phủ Hoa Kỳ (qua trung gian cơ quan USAID và Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sàigon) ngưng không cấp ngân khoản cho chương trình ẤP CHIẾN LƯỢC nữa. (Chả lẽ tướng Minh bỏ tiền riêng để trả lương cho cán bộ chương trình ẤP CHIẾN LƯỢC hay sao ?).

Dẫn chứng 2-5 : thói quen sở trường của Hoa Kỳ từ lĩnh vực kinh doanh , sang đến lĩnh vực thể thao cũng như lĩnh vực quân sự là “speed” (tức là nói đến tốc độ nhanh), vậy mà không một ai lại để ý đến thái độ kỳ quặc của Tổng Thống Johnson khi ông sử dụng “chiến tranh leo thang từ từ” trong giai đoạn 1964 -1965. Phải chăng phương thức “chiến tranh leo thang từ từ” của Tổng Thống Johnson đã chiêu dụ được Hồ chí Minh và các lãnh tụ Việt Cộng đem “đại quân “ kéo vào Nam để rồi bị hỏa lực khủng khiếp của máy bay B-52 và hỏa lực của bộ binh Hoa Kỳ và VNCH tiêu diệt ?

3/ NHẬN ĐỊNH THỨ BA : Hoa Kỳ có suýt soát 1 triệu quân hiện dịch , như vậy khi Tổng Thống Johnson di chuyển 550,000 quân qua Việt Nam chiến đấu, chắc chắn phải nằm trong kế hoạch đã được soạn thảo kỹ lưỡng từ trước. Đây cũng là lý do tôi bác bỏ ý tưởng cho rằng Tổng Thống Johnson hành xử do cảm tính vì cộng quân Bắc Việt sắp sửa chiếm được miền Nam Việt Nam ? Kế hoạch này được soạn thảo từ lúc nào và do ai soạn thảo thì tôi không biết vì không có tài liệu giải mật nào đề cập đến chuyện này. Nhưng rõ ràng là quân đội Hoa Kỳ với quân số 550,000 sang Việt Nam không phải để vượt vĩ tuyến 17 kéo ra Bắc để lật đổ chính quyền CSBV, mà là quân lực Hoa Kỳ vào Việt Nam để triệt hạ “tiềm năng chiến tranh” của Việt Cộng, sau 8 năm chiến đấu hơn 3 triệu quân của Bắc Việt đã bị tiêu diệt thì Tổng Thống Nixon ra lệnh rút quân về nước là điều quá dễ hiểu (con số 3 triệu quân Bắc Việt còn đang là con số tranh cãi, gần đây ông Nguyễn Minh Cần nói là có tới 6 triệu người đã hy sinh, tuy nhiên con số 3 triệu được mọi người chấp nhận và khả dĩ tin cậy được vì không có một ai đưa ra con số thấp hơn con số 3 triệu).

4/ NHẬN ĐỊNH THỨ TƯ : Dù có quân số vượt mức cần thiết và có hỏa lực lấn át tuyệt đối, chính phủ Hoa Kỳ biết rằng chiến tranh Việt Nam không đem lại thắng lợi kiểu “knock-out “ cộng quân Bắc Việt như hồi 1945, Hoa Kỳ đã chiến thắng Đức Quốc Xã ở Âu Châu và Nhật Bản ở Á châu. Lý do chính là Việt Nam có dãy Trường Sơn và Hoa Kỳ không thể ngăn chặn Bắc Việt tăng viện người và vũ khí chiến cụ vào Nam được (Hoa Kỳ cũng biết rõ tập đoàn lãnh đạo CSVN hy sinh đến người dân cuối cùng để đạt được mục tiêu chiếm miền Nam Việt Nam). Tương tự như Đô Đốc Yoshida – Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Nhật Bản, hỏi Đô Đốc Yamamoto trước khi quân đội Nhật tấn công Trân Châu Cảng hồi tháng 12 năm 1941 : “nếu làm Tư Lệnh quân đội Nhật tại Thái Bình Dương, ông làm chủ tình hình được bao lâu ?”. Đô Đốc Yamamoto trả lời “ Tối đa chỉ được 18 tháng” . Ngạc nhiên , Đô Đốc Yoshida hỏi lại : “ Sao ngắn quá vậy ? “ . Đô Đốc Yamamoto nói : “ Tôi đã đi du học Mỹ, tôi biết khả năng kỹ nghệ Hoa Kỳ thừa sức lấp đầy các thiệt hại về chiến cụ, trong khi nước Nhật chúng ta không có khả năng bù khuyết kịp thời các tổn thất đó. Nhờ đó quân nhân của họ mau chóng được huấn luyện và cũng mau chóng trở nên thiện chiến “. Thực tế đã chứng minh nhận định của Đô Đốc Yamamoto hoàn toàn chính xác : trước khi Đô Đốc Yamamoto bị phi cơ chiến đấu của Hoa Kỳ phục kích bắn hạ ở đảo Bougainville vào năm 1943, hải quân Nhật đã liên tiếp thua trận, điển hình là trận đánh tại vùng biển quanh đảo Midway ở gần Australia !!

Chỉ thị của chính phủ Hoa Kỳ giao cho Đại Tướng Westmoreland suốt từ 1965 đến 1968 là LÙNG và DIỆT khiến cho cộng quân Bắc Việt thiệt hại nặng về nhân lực.

Dẫn chứng 4-1 : đầu năm 1968, khi Việt Cộng mở cuộc TỔNG TẤN CÔNG – TỔNG NỔI DẬY, quân đội Bắc Việt đã sử dụng lính dưới 18 tuổi rất nhiều.( Xin xem tập sách Trận Mậu Thân 1968 do Phòng Quân Sử của Bộ Tổng Tham Mưu / QLVNCH biên soạn)

Dẫn chứng 4-2 : tôi trích bài thơ của Chế Lan Viên sau đây :

AI ? TÔI !!

Mậu Thân 2,000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm, còn sống có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2,000 người đó ?

Tôi !

Tôi – người viết những câu thơ cổ võ

Ca tụng người không tiếc mạng mình

trong mọi cuộc xung phong.

Một trong 30 người kia ở mặt trận về sau 10 năm

Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ.

Quán treo huân chương đầy , mọi cỡ

Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ

Ai chịu trách nhiệm vậy ?

Lại chính là tôi !

Ngườii lính cần một câu thơ giải đáp về đời ,

Tôi ú ớ.

Người ấy nhắc những câu thơ làm người ấy xung phong

Mà tôi xấu hổ

Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay

Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ

Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười.

5/ NHẬN ĐỊNH THỨ NĂM : năm 1992, khi đến miền Nam California thăm viếng các cựu quân nhân VNCH, Đại Tướng Westmoreland có tâm sự rằng : “ Khi làm Tư Lệnh quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam, tôi được lệnh KHÔNG ĐƯỢC PHÉP CHIẾN THẮNG “. Không có một ai hỏi ngược lại Đại Tướng Westmoreland :”Ai đã ban lệnh đó cho Đại Tướng và Tại Sao không được CHIẾN THẮNG ? “

Bây giờ là lúc tôi sử dụng đến LÝ ĐOÁN để giải thích 2 ẩn số trong nhận định thứ năm vì không có bất cứ một tài liệu nào đề cập hay giải mật 2 ẩn số này.

Giải Thích Thứ Nhất : Thời 1945, Trung Tá Westmoreland phục vụ dưới quyền của Đại Tướng Mac Arthur tại chiến trường Á Châu. Tới năm 1965, ông lên chức Đại Tướng 4 sao và được Tổng Thống Johnson bổ nhiệm làm Tư Lệnh quân đội Mỹ tham chiến tại Việt Nam (quân số 550,000 người). Vậy trước khi bay sang Việt Nam nhận nhiệm sở, chắc chắn Đại Tướng Westmoreland được Tổng Thống Johnson và Ban Tham Mưu tiếp kiến tại Tòa Bạch Ốc. Vinh quang của một vị tướng là đoạt chiến thắng được địch quân, vì vậy mệnh lệnh KHÔNG ĐƯỢC PHÉP THẮNG nếu không được giải thích hợp lý thì thà Đại Tướng Westmoreland xin nghỉ hưu non còn hơn là mất danh tiếng của một Đại Tướng. Tôi suy đoán rằng Tổng Thống Johnson và Ban Tham Mưu đã đưa ra lý do là : quân đội Hoa Kỳ không thể vượt vĩ tuyển 17 ra Bắc được, vậy chỉ còn cách là “tiêu diệt tiềm năng nhân lực của Bắc Việt tại chiến trường miền Nam.”

Giải thích thứ hai : chính phủ Hoa Kỳ đem quân đội tham chiến tại Việt Nam, ngăn chận cộng quân nhuộm đỏ toàn thể Đông Dương là chuyện PHẢI LÀM (mang tính cách luân lý hay gọi là tính logique), trong khi đó việc kết thúc chiến tranh bằng cách cho phép Bắc Việt chiến thắng , lại căn cứ trên căn bản LỢI – HẠI.

Tháng 10/1972 , Bắc Việt không chịu ký vào bản Hiệp Định ngưng bắn vì nghĩ rằng sẽ làm cho Tổng Thống Nixon bị mất uy tín, sẽ thua phiếu thượng nghị sĩ Mac Govern, nhưng cuộc kiểm phiếu vào tháng 11 / 1972 cho thấy ông Nixon thắng phiếu cử tri đoàn tại 49 tiểu bang (cử tri Hoa Kỳ bầu cho ông Nixon vì ông rút quân có kế hoạch chứ không phải tháo chạy bỏ mặc như ông Mc Govern). Sau đó ông Nixon ra lệnh cho tái oanh tạc ra ngoài Bắc. Sau 12 ngày đêm oanh tạc long trời lở đất, có tin nói Bắc Việt đánh điện xin đầu hàng nhưng Hoa Kỳ không cho, và để ém nhẹm, Hoa Kỳ đã thay đổi toàn thể nhóm hiệu thính viên nhận bản văn đầu hàng. Dùng lý trí mà xét đoán, tôi tin là chuyện này có thật bởi các lý do sau đây :

  1. Ngay từ lúc ứng cử hồi 1968, Richard Nixon hứa là sẽ đem quân đội Hoa Kỳ về nước (cũng có ý nghĩa là rời bỏ sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam). Nay Bắc Việt xin đầu hàng thì Hoa Kỳ bắt buộc phải trở lại Việt Nam, do đó Hoa Kỳ không chấp nhận Bắc Việt đầu hàng.

  2. Trước khi tái oanh tạc miền Bắc vào tháng 12, Hoa Kỳ đã phong tỏa hải cảng Hải Phòng, điều đó cũng có nghĩa là Hoa Kỳ biết rõ Bắc Việt có bao nhiêu hỏa tiễn SAM và không thể nào nhập thêm vào để điền khuyết số hỏa tiễn đã sử dụng hao hụt.

  3. Trong 12 ngày đêm oanh tạc Bắc Việt, ngoài số phi cơ thật ( B-52 và các khu trục cơ bảo vệ cũng như số oanh tạc cơ chiến thuật) Hoa Kỳ còn thả rất nhiều phi cơ không người lái để các hỏa tiễn bắn lên mau chóng bị cạn kiệt. Bọn cầm quyền Bắc Việt đánh điện xin đầu hàng vì sau 12 ngày oanh tạc , số hỏa tiễn đã được sử dụng hết, nếu máy bay Hoa Kỳ bay lượn trên bầu trời Hà Nội – Hải Phòng mà không thấy hỏa tiễn bay lên thì tinh thần binh sĩ và dân chúng hoàn toàn sụp đổ, họ sẽ nổi loạn cướp chính quyền, do đó đầu hàng thì vẫn còn giữ được quyền lực.

Nhưng Hoa Kỳ không cho đầu hàng nên Lê Đức Thọ ra lệnh cho Võ Văn Sung tại Paris xin ngồi vào bàn hòa đàm và Hiệp Định Paris 1973 được ký kết có hiệu lực ngày 27 tháng giêng năm 1973 trước lúc Tổng Thống Nixon nhậm chức nhiệm kỳ 2 một thời gian ngắn.

Như thế Việt Cộng có muốn THUA, Hoa Kỳ không cho phép THUA và dĩ nhiên VNCH có muốn THẮNG thì Hoa Kỳ cũng không cho phép THẮNG !!!

Tôi chỉ nêu ra những cái LỢI của Hoa Kỳ khi cho phép Việt Cộng THẮNG :

I.- Cho Việt Cộng THẮNG thì chiến tranh mới hoàn toàn chấm dứt , giả sử VNCH thắng thì Việt Cộng ngoan cố cứ đánh hoài.

II.- Biết Việt Cộng gian lận , tráo trở và đểu cáng sẽ tiến chiếm miền Nam bằng bạo lực (như biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đã xảy ra), bù lại Hoa Kỳ không tốn một xu teng nào cả (kể cả viện trợ nhân đạo cũng không) mà bọn Việt Cộng không kêu ca , kiện cáo hay khiếu nại gì được. Trường hợp của Việt Cộng giống như bọn cờ gian bạc lận hô hoán là thắng cuộc nhưng người ta không chung tiền vì biết là bị ăn gian.

III.- Cho Việt Cộng THẮNG, Hoa Kỳ phủi tay không chịu trách nhiệm về cái chết của 3 triệu binh sĩ Bắc Việt vì theo Công Pháp Quốc Tế, sau Hiệp Định Genève, Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là 2 thực thể riêng biệt được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận. Binh sĩ Bắc Việt sinh quán tại miền Bắc mà chết trên lãnh thổ Lào, trên lãnh thổ Cambodia, trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa đều là quân xâm lược, chưa bị truy tố về tội xâm nhập bất hợp pháp vào những quốc gia có chủ quyền thì chẳng có lý do pháp lý nào để đòi được bồi thường nhân đạo.

IV.- Cho Việt Cộng THẮNG , Hoa Kỳ khỏi phải trình bày biện hộ lôi thôi về cái gọi là “giết người hàng loạt”

Dẫn chứng 1 : theo quy trình hành quân của Không Quân, các máy bay đi chụp không ảnh các đơn vị của địch, sau đó các tư lệnh chiến trường xin oanh tạc bằng phi cơ chiến thuật hay phi cơ chiến lược B-52. Sau khi oanh tạc xong, phi cơ L-19 bay vào hiện trường để kiểm chứng có thêm cả phi cơ chụp không ảnh sau khi oanh tạc, rồi các toán biệt kích, Delta nhẩy trở lại hiện trường kiểm tra báo cáo. Chiến trường căn cứ Khe Sanh năm 1967, tướng Giáp sử dụng khoảng 25,000 quân Bắc Việt để bao vây 6,000 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ dự định tái lập chiến thắng Điện Biên Phủ thứ hai, nhưng sau biến cố Mậu Thân, 6,000 TQLC Mỹ lên xe tải rời Khe Sanh trở về Cam Lộ bình yên. Tướng Giáp có lẽ bị thiệt hại 15-20 ngàn quân xung quanh căn cứ này nên phải rút lui. Ai biết rõ số thiệt hại của quân Bắc Việt ? Chỉ có phòng không ảnh của không lực Hoa kỳ biết rõ vì họ có phi cơ chụp không ảnh trước và sau trận đánh, nhưng Hoa Kỳ không dại để mà tiết lộ “hình ảnh chiến thắng “ của họ.

Dẫn chứng 2 : tháng 4/1975, tướng Lê Minh Đảo – tư lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh với quân số khoảng 10,000 binh sĩ bị cộng quân có quân số gấp 4-5 lần tiến đánh tại vùng Long Khánh – Xuân Lộc. Ông yêu cầu tướng Nguyễn Văn Toàn – tư lệnh vùng 3 sử dụng bom CBU để chận đứng cộng quân, tướng Toàn trình Bộ Tổng Tham Mưu chớ tướng Toàn không có thẩm quyền ra lệnh cho Bộ Tư Lệnh Không Quân thi hành. Lúc đó tướng Cao Văn Viên đã rời Sài Gòn, và giới chức có thẩm quyền là Trung Tướng Đồng Văn Khuyên – quyền TTM Trưởng , đã chấp thuận yêu cầu của tướng Toàn. Bộ Tư Lệnh Không Quân cho vận tải cơ chở bom CBU đặt trên palette có 200 cây nước đá (để bom có thể hạ xuống thấp gần mặt đất), khởi đầu từ Sài Gòn bay về hướng biên giới Cambodia rồi mới đổi hướng bay về phía Xuân Lộc. Sau khi quả CBU nổ, bao nhiêu binh sĩ cộng quân Bắc Việt bị chết ? Chỉ có thám thính cơ chụp không ảnh của không quân biết, nhưng phòng không ảnh không biết vì chiếc phi cơ chụp không ảnh trở lại phi trường Tân Sơn Nhất thì tướng Nu – Trưởng Phòng 7 Bộ TTM và một số sĩ quan quân báo tiếp nhận không ảnh này. Dĩ nhiên, cũng giống như hình của căn cứ Khe Sanh 1968, Hoa Kỳ chẳng bao giờ công bố những bức ảnh chụp ở Xuân Lộc sau khi thả quả bom CBU này.

Gần đây, có rất nhiều bài bình luận về vai trò của ông Kissinger trong việc Hoa Kỳ cho Việt Cộng THẮNG, tôi nhận thấy mọi người có tiên kiến và chửi rủa ông Kissinger hơi nhiều, tôi cho là ông bị OAN vì :

1.- Ông có gốc Do Thái, nhưng việc làm của ông là phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ chứ không phải là ông Kissinger phục vụ cho quyền lợi của nước Do Thái hay tập đoàn Do Thái tại Hoa Kỳ. Nếu Tổng Thống Nixon dùng một trong hai ông gốc Đức là ông Haldeman hay ông Erichman thay thế cho công việc của ông Kissinger, chả lẽ người ta lại rủa các ông này phục vụ cho quyền lợi nước Đức hay sao ?

2.- Ông Kissinger là sứ giả của Tổng Thống Nixon đến Trung Hoa Lục Địa nói chuyện với Mao Trạch Đông Chu Ân Lai…Rõ ràng ông là nhân viên thừa hành chứ ông không có quyền “bán đứng” bất cứ một thứ gì. Cỡ Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai có biết ông Kissinger là ai nếu không có ủy nhiệm thư của Tổng Thống Nixon ?

3.- Hoa Kỳ không có kẻ thù muôn đời và cũng không có đồng minh muôn thưở. Nếu quyền lợi của Hoa Kỳ và Do Thái không có gì để chia chác cùng nhau thì Hoa Kỳ hà tất gì phải “phục vụ” cho quyền lợi của Do Thái ?

4.-Tuy bị tai tiếng về vụ Watergate, nhưng Tổng Thống Nixon là một “Tổng Thống Lớn” của Hoa Kỳ : chả thế mà sau khi đế quốc Liên Sô sụp đổ, quốc hội Hoa Kỳ đã trải thảm đỏ mời cựu Tổng Thống Nixon thuyết trình trước Lưỡng Viện Quốc Hội về việc “Hoa Kỳ phải làm gì khi đế quốc Liên Sô sụp đổ ?” . Phải chăng cứ chửi rủa, quay quắt bắt bẻ ông Kissinger chỉ vì không ai dám đụng đến cây cổ thụ Richard Nixon trong phương cách giải quyết chiến tranh Việt Nam ?

Quân dân VNCH chửi rủa ông Kisssinger thì rút tỉa được kinh nghiệm gì, hay chỉ để hả hê nỗi tức giận của những người có cảm tưởng mình bị đồng minh bỏ rơi ?

Nhận xét của tôi rất giản dị và thực tế (không phải là kiểu khen phò mã tốt áo, vì áo của phò mã thì hiển nhiên là tốt, khỏi cần khen mọi người đều biết áo tốt) , đó là “Tất cả những quốc gia kẻ thù của Hoa Kỳ cũng như những quốc gia ái mộ thân thuộc với Hoa Kỳ đều có một vấn đề chung : TẤT CẢ ĐỀU CẦN HOA KỲ (diễn dịch kiểu bình dân : không có Hoa Kỳ là không xong, là trớt qướt hết trơn)

San José ngày 3 tháng 3 năm 2015

Trần Trung Chính

Quân Sử Việt Nam (TOP)