vietnam, việt nam, cờ việt nam

Trang Nguyễn Nhơn

Nguyễn-Nhơn | Quê-Hương Việt-Nam Mến Yêu

Quê hương tôi bên kia bờ Đại Dương. Đẹp não nùng, e ấp như cô gái đẹp Việt Nam. Những ngày tù đày, gian khổ trên đỉnh Hoàng Liên Sơn. Đói và lạnh, đêm trằn trọc, thao thức. Mõi mòn thiêm thiếp lúc tàn canh. Bừng mắt dậy: Hoa bang trắng xóa một màu trên sườn đồi bên song sắt nhà giam. Mùa xuân đến mang về sức hồi sinh. Cửa tù mở, xa xa đỉnh Fansipan hùng vĩ: Tuyết phủ một màu trắng xóa. Cửa tù mở, đi vào cỏi thiền. Trời đất, núi non, cảnh vật hòa đồng. Lòng thanh thản, không còn gì đói lạnh. Ngọn đồi sỏi đá, trơ trọi. Tay run run đào xới. Từng hóc và từng hóc nhọc nhằn. Hom cũ mì bỏ xuống đợi chờ. Ngày tháng dài trôi qua bằng bặt. Sườn đồi sỏi đá xanh tươi. Những cũ mì bụ bẩm. Tù trồng trọt nuôi thân. Những năm dài chay tịnh. Cũ mì băm tên gọi sắn dzui. Dzui cũng như vui cho được đở dạ. Những dêm dài thao thức, nhớ về Miền Nam: Nắng ấm chan hòa.

Hè về dưới chân rặng Trường Sơn: Nắng như đổ lửa. Đêm về, tù già không thở được, đứng tựa song sắt khò khè. Tù trẻ trăn trở, mơ màng. Mơ về dòng suối mát quê làng Miền Nam.

Chiều tà trên Bến Ngọc xứ Bắc, nhớ về ánh nắng vàng rơi rụng bên kia dòng sông xứ Thủ, Bình Dương.

Dốc Phục Linh bên rặng Trường Sơn cao dòi dọi. Tù nhọc nhằn, oằn vai gánh nặng ráng sức trèo. Dốc Mơ, Gia Kiệm, trên đường đi Đà Lạt vừa cao vừa dài. Những ngày vui thơ mộng. Xe vượt qua thênh thang, những nụ cười âu yếm, đôi tình nhân trẻ. Yêu nhau mấy núi cũng trèo. Mấy sông cũng lội, vạn đèo cũng qua. Những ngày thơ mộng ấy. Đà Lạt trăng mờ, tay cầm tay lặng bước. “ Ta nhẹ dìu nhau như tiếng thở. Thương nầy, thương cho bỏ lúc đợi chờ.”

Suối A Mai dưới chân rặng Trường Sơn hùng vĩ. Mùa khô trong vắt, dịu dàng. Mùa mưa lũ, tràn ngập bãi bờ, ào ạt, dũng mãnh, ngựa bất kham. “Dòng An Giang, sông sâu, nước biếc. Dòng An Giang nên thơ khiến nhớ...” Tuổi học trò bơi lội. Giắt lá sả theo mình, phòng cá nóc đớp, khoét thịt da.

Năm xưa, ra thăm xứ Huế. Dòng sông Hương tình tứ. Câu hò mái đẩy vẳng đưa. Chùa Thiên Mụ cổ kính. Lăng Tự Đức u trầm. Học trò Đồng Khánh áo dài trắng, nón lá bài thơ. “Học trò xứ Quảng ra thi. Thấy cô gái Huế, bước đi không đành!”

Đèn Sài gòn, ngọn xanh, ngọn đỏ

Đèn Sài gòn, ngọn xanh, ngọn đỏ...Những đêm trường thao thức, nhớ người yêu lỗi hẹn, nhịp bước trên phố vắng, buồn hiu.

Kinh Xà No, người không lo đói. Gạo Nàng Mau vừa dẽo vừa thơm. Chiều tà lặng ngấm chiếc cầu ván bắc qua rạch Nàng Mau đẹp như tranh thủy mạc. Rừng U Minh xanh ngắt một màu. U Minh như quỉ mị đầy chết chóc. Chiến trường máu đổ, tử vong.

Tuổi thanh xuân thích cảnh lạ. Hà Tiên thăm Thạch Động. Mủi Nai ngắm trời mây. Chùa Phù Dung huyền thoại. Bac Tô Châu pha đèn nhìn cá bay.

Tây Đô, Cần Thơ bên bờ Sông Hậu. Bến Ninh Kiều dập dìu tài tử, giai nhân. Vườn Thầy Cầu xinh xinh. Rạch Tham Tướng với truyện “ Dưới Rặng Trăm Bầu.”

Ngày Miền Nam hấp hối, đứng trên dốc Châu Thới bưổi chiều tà, nhìn về phi trường Biên Hòa mịt mùng trong khói lửa. Tỉnh lỵ mến yêu thời lập nghiệp, bên kia bờ sông Đồng chìm vào tăm tối. Lòng thê lương!

Nguyễn Nhơn
( Hè trên Đất Mỹ)

QUÊ HƯƠNG NỖI NHỚ

Trong lời kết bài “Con Mỹ gốc Việt”
Tác giả Trần Kiêm Đoàn tự hỏi
Ta đã ở đâu từ bốn nghìn năm trước
Và sẽ về đâu qua bốn nghìn năm sau ?
Quê hương nguồn cội ở nơi đâu?
Vẫn biết rằng theo kinh Phật
Trong tam thiên đại thiên thế giới
Đâu không phải là nhà?
Nhưng theo phong tục Việt Nam
Nước non vẫn nước non nhà
“ Cái nhà là nhà của ta
Ông cố ông cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm xây đắp nước nhà “
Cho nên thân lưu lạc xứ người
Lòng khoắc khoải không nguôi
Dẫu biết rằng Quê hương ngày nay
Cảnh tình đều biến đổi tang thương
Quê hương ngày nay chỉ để nhớ
Không phải nơi chốn để về
Không nơi chốn để về mới bơ vơ
Quê hương chỉ còn trong nỗi nhớ

QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM

Có ai hỏi, anh từ đâu đến?
Tôi trả lời, tôi đến từ Việt Nam
NTB
Quê tôi, bên kia bờ Đại Dương
Hình chữ S, giống Rồng, Tiên
Bốn ngàn năm trải dài lịch sử
Có sông Hồng, thành Thăng Long
Cố đô, Ngàn năm văn vật
Có sông Hương thơ mộng, tình tứ
Cửu Long giang, đất phù sa

Làng quê tôi có con suối nhỏ
Một vạt bưng hai bên bờ
Cây cầu ván bắc ngang
Nên gọi mộc mạc làng Bưng Cầu
Làng tôi có mội Thầy Thơ
Nước trong như lọc
Cội trâm già trĩu trái
Tím ngắt, vị ngọt ngào

Quê tôi Bình Dương, xứ Thủ
Có dòng sông êm ả, hiền hòa
Ven bờ có cây tàu sụp
Nửa nổi, nữa chìm
Như cuộc đời chìm nổi
Của người dân xứ Thủ, quê tôi

Kể từ ngày giặc dữ vô Nam
Đất nước tôi chìm đắm trong làn sóng đỏ
Thân tù đày trên rừng núi Hoàng Liên
Rồi nhọc nhằn kinh tế mới Di Linh
Rồi trôi giạt đến tận xứ Mỹ nầy

Nay tuổi đời chồng chất
Những mong “Lão giả, an chi”
Nhưng xót thân lưu lạc xứ người
Nhìn về bên kia bờ Đại dương
Dân Văn Giang trăm bề cay đắng
Nông dân Vụ Bản, khăn tang trắng cánh đồng
Hai mươi sáu ngàn hộ dân Thủ Thiêm
Đang chịu cảnh treo ngược chờ phán quyết
Mấy ngàn hộ đồng bào xứ Thủ, quê nhà
Bị cào nhà lập đô thị mới
Lang thang lứ thứ chưa biết về đâu?!

Chỉ cầu mong hoạn họa cọng sản sớm giải trừ
Để dân tôi được một ngày thảnh thơi
Sống vui thú theo thú vui mộc mạc
Như cụ Đồ mộc mạc ngày xưa:
“ Nước trong rửa ruột sạch trơn
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây
Sớm voi, tối vịnh vui vầy”

Nguyễn Nhơn
(Thương bà con Văn Giang, Vụ Bản)
9/5/2012

Quân Sử Việt Nam (TOP)