Trang Điệp-Mỹ-Linh

Tùy Bút Chiều Tưởng-Nhớ

Ðể tưởng niệm nhà thơ Mây-Ngàn

ĐIỆP-MỸ-LINH

Tiếng chuông chùa đòng vọng, vang xa trong không gian buốt lạnh của một chiều cuối Ðông khiến quang cảnh quanh chùa trông thật tịch liêu. Mặt trời nghiêng về phía quê xưa. Những tia nắng mong manh nhẹ nhàng ve vuốt từng phiến đá gầy trước sân chùa. Khung cảnh này gợi nơi hồn tôi những câu thơ rất gợi cảm của Mây-Ngàn:

Nắng có màu không? Tím lẫn hồng?
Hay nắng không màu, nắng rất trong!
Nắng về tươi thắm ngàn hoa thắm
Sưởi ấm lòng ai chiều cuối Ðông.

Lúc này, đối với tôi, bút hiệu Mây-Ngàn cũng như bút hiệu của nhiều nhà văn, nhà thơ tôi quý mến chứ không có gì khác biệt. Nhưng khi vào trong chánh điện, thấy ảnh và bài vị đặt giữa chánh điện tôi mới bàng hoàng xúc động để nhận thức được sự thật mà suốt mấy tuần qua tôi cứ cố tình chối bỏ: Mây-Ngàn Nguyễn-Phúc Bửu-Châu không còn nữa!

Bằng hữu thường gọi Anh một cách thân mật là Anh Châu hoặc là Anh Bữu-Châu chứ ít ai gọi Anh là Mây-Ngàn hay là bác-sĩ Bửu-Châu.

Từ ngày quen biết Anh, tôi hầu như quên bẳng Anh là một y-sĩ mà tôi chỉ nghĩ anh là một nghệ sĩ; một nghệ sĩ tài tử rất nặng lòng với bạn bè và văn học nghệ thuật. Khi ngồi lặng lẻ trong chánh điện, nghe bạn hữu nói về Anh tôi mới tỉnh trí để “nhìn lại Anh” ở một góc độ mà tôi đã vô tình quên bẳng:

Bác-sĩ Bửu-Châu tốt nghiệp Y-Khoa bác-sĩ năm 1968. Anh không bị trưng dụng vào Quân-Y vì lý do sức khỏe. Năm 1974 bác-sĩ Bửu-Châu thi đậu văn bằng Master of Public Health tại Singapore và Anh về dạy tại trường Ðại-Học Y-Khoa Huế. Năm 1975, di tản sang Mỹ, Anh định cư tại Mississippi. Tại đây, Anh nhận chức Medical Health Director. Sau một thời gian Anh trở thành Assistant District Health Officer for the Mississippi Department of Health. Năm 1979 anh dời về Houston, làm giáo sư phụ giảng tại Baylor College of Medicine. Một thời gian sau Anh về làm việc cho tòa thị chính Houston với chức vụ Chief of Health Department for the City of Houston. Anh đậu “Board” về Y-Khoa phòng ngừa. Chính bác-sĩ Bửu-Châu thành lập chương trình y-tế chuyên lo về bệnh viêm gan (Hepatitis) cho người Á-Ðông. Mấy năm sau cùng Anh chuyển sang quận hạc Harris, giữ chức vụ Harris County Acting Deputy Director. Sau đó Anh trở thành Director of Heath Department cho đến khi Anh nghỉ hưu. Anh nhận được rất nhiều bằng khen thưởng của chính quyền và các trường đại học.(1)

Là một người rất năng động và nặng tinh thần xã hội và giáo dục, bác-sĩ Bửu-Châu dùng thời gian hưu trí của Anh vào việc tham gia vào tổ chức Khuyến-Khích Tự Lập để nâng cao giáo dục tại Huế. Tổ chức này đang xúc tiến việc xây cất nhiều trường học tại Thừa-Thiên. Trong thời gian này bác-sĩ Bửu-Châu được đại học Y-Khoa Saigon mời làm giáo sư thỉnh giảng và Anh đã nhận lời.

Sau vài tháng trở lại Mỹ để theo dõi tình trạng sức khỏe, Bác-Sĩ Bửu-Châu lâm bệnh, phải ra, vào bệnh viện nhiều lần. Ðến tháng 11-06 bác-Sĩ Bữu-Châu cảm thấy khỏe hẳn nên quyết định về lại Việt-Nam để tiếp tục thúc đẩy công việc của tổ chức Khuyến-Học Tự Lập – mặc dù các bạn đồng môn với Anh đều khuyên ngăn Anh nên đình hoản chuyến đi này.

Vào ngày 23 tháng 01 năm 2006, trong một cuộc họp, cô Quỳnh-Trang, một thành viên trong nhóm Khuyến-Khích Tự Lập, đã tường trình rất nhiều chi tiết về những hoạt động của nhóm với bác-sĩ Bửu-Châu. Sau đó Quỳnh-Trang đưa bác-sĩ Bửu-Châu viếng thăm hai trường mẫu giáo đã hoàn tất.

Bốn giờ 20 chiều, Quỳnh-Trang đưa bác-sĩ Bửu-Châu về nhà Anh, tự dưng Quỳnh-Trang cảm thấy không an tâm. Quỳnh-Trang hỏi thăm tình trạng sức khỏe của Anh. Anh bảo vẫn khỏe. Về đến nhà cô, 04 giờ 45, Quỳnh-Trang cũng vẫn không an tâm nên cô điện thoại đến tư thất bác-sĩ Bửu-Châu để vấn an. Không ai trả lời điện thoại.

Hôm sau, ngày 24-01-06, lúc 02 giờ chiều, Quỳnh-Trang nhận được tin bác-sĩ Bửu-Châu qua đời.

Bác-sĩ Bửu-Châu qua đời ngay trong ngôi nhà mà Anh đã được sinh ra và lớn lên.

Trong khi bạn hữu tiếc thương và nhắc lại những hoạt động không ngừng nghỉ của bác-Sĩ Bửu-Châu trong địa hạt y tế, xã hội và giáo dục thì - như phần dẫn nhập tôi đã thưa - tôi lại nghĩ đến nếp sống nội tâm mà Anh vô tình hé lộ:

Đường đời đó, vinh quang hay tủi nhục
Còn lại gì? Danh vọng cũng tàn phai.
Khi xuôi tay, cát bụi mảnh hình hài
Không hay có cũng chỉ là ảo tưởng!

Tôi không hiểu làm thế nào một người rất tích cực trong cuộc sống - như Anh - lại mang một tư tưởng nặng triết lý Phật-Giáo đến như vậy! Tôi không nghĩ Anh yếm thế; bởi vì một người yếm thế không thể nuôi dưỡng được trái tim chan chứa tình yêu:

Nói yêu em, lời nào cho hết ý?
Tình mênh mông như sóng biển trào dâng.
Hồn tương tư nên ngây dại bâng khuâng
Cho nhung nhớ nghẹn ngào đêm cô tịch...

Trong Anh, tình yêu đôi lứa nhiều khi dạt dào, mênh mông, tha thiết; nhưng trên hết vẫn là tình yêu cao cả Anh dành trọn vẹn cho quê hương:

Người ơi, hãy nói giúp giùm ta
Biết tả làm sao nỗi nhớ nhà!
Không hương, không vị mà da diết
Nỗi nhớ rung từng thớ thịt da!

Tôi đến Huế chỉ vài lần, sống ở Huế chỉ vài ngày và mang trong người chỉ “một nửa Huế” thôi. “Rứa mà” bốn câu thơ sau đây Anh vẽ ra một hình ảnh tuyệt vời cho đến nỗi tôi chỉ mong tôi là người Huế chính gốc để được yêu thương, được thấm nhập trọn vẹn trong hương cau thơm ngát của vùng không gian huyền diệu này.

Quê tôi ửng nắng mấy hàng cau
Thoáng gió đong đưa mấy dặm bầu
Con đò ngược bến Văn-Lâu đó
Có còn in bóng nước sông sâu?

Trong tất cả những bài thơ tình cảm Anh dành cho Huế, tôi thích nhất bài Nhớ Huế:

Ta nhớ vô cùng em biết không?
Nhớ đồi Vọng-Cảnh, gió ru thông.
Nhớ hồ nước Tịnh, sen soi bóng
Nhớ bến Văn-Lâu, chạnh tất lòng!

Ta nhớ vô vùng em biết không?
Nhớ mái trường xưa phượng thắm hồng
Nhớ mái tóc thề chiều tan học,
Nhớ nẽo em về một cuối đông!

Ta nhớ vô cùng em biết không?
Nhớ trăng thôn Vỹ, nắng Kim-Long.
Nhớ sông Bến-Ngự, con đò nhỏ.
Nhớ má ai kia ửng nắng hồng.

Ta nhớ vô cùng em biết không?
Nhớ chiều buông nhẹ tiếng chuông ngân
Nhớ dòng Hương dịu ôm thành Huế,
Nhớ quá làm sao nhớ lạ lùng!

Bài thơ này dường như ra đời vào khoảng giữa thập niên 80, được Song-Ngọc phổ nhạc và ca sĩ Khánh-Hà trình bày rất nhiều lần. Bản nhạc này, ngay sau khi Song-Ngọc vừa hoàn tất, chính anh Bửu-Châu đã đàn và hát tại nhà Anh vào một buổi họp mặt bằng hữu. Tôi nhận thấy Anh Châu hát rất “có hồn”. Nhưng phải đợi đến khi nghe Khánh-Hà hát tôi mới nhận biết mối tình cảm sâu kín của một người “Huế lai” trong tôi bừng dậy, để rồi trở nên dịu dàng, tha thiết theo mỗi giai điệu, mỗi tiếng láy ở cuối phân đoạn và cách phát âm những địa danh thương mến.

Giữa thập niên 80 không khí văn nghệ tại Houston rất sôi nổi. Và nhà Anh Bửu-Châu là tụ điểm của những buổi họp mặt vui và lành mạnh. Anh Châu và Luật Sư Nguyễn-Ngọc-Hải chơi Keyboard. Thường thường anh Châu, anh Hải và tôi hát chung, vì chúng tôi biết nhiều nhạc bản của thập niên 60. Một lần, tôi không hiểu do đâu Anh Châu biết tôi từng chơi Accordéon. Anh hỏi. Tôi xác nhận, nhưng thưa với Anh rằng tôi bỏ lâu quá nên chẳng còn nhớ được bài nào. Anh hỏi tôi thường chơi nhạc gì? Tôi đáp nhạc Pháp. Anh mở Cassette những bản bán cổ điển và những bản thịnh hành của thập niên 60-70. Tôi nhận ra được gần hết, nhưng vì bản nào cũng dài quá cho nên tôi không nhớ trọn. Ðến bản Etoile De Neige tôi vui mừng reo lên, vì bài này tương đối ngắn. Anh Châu cũng vui mừng, bảo sẽ đến nhà tôi lấy đàn đem lại để Anh, anh Hải và tôi cùng hòa đàn. Tôi cho Anh Châu biết rằng tôi không có đàn. Bác Sĩ Hồ-Vương-Minh bảo người con của anh ấy có một Accordéon và anh Minh sốt sắn đến nhà người con mượn, đem đến cho tôi.

Sau vài phút “rà” lại, tôi đàn bản Etoile De Neige và anh Châu, anh Hải đệm theo. Anh Châu cho biết, lúc còn đi học Anh rất thích Accordéon nhưng vì cây đàn nặng, tình trạng sức khỏe của Anh không cho phép. Nửa đùa nửa thật Anh Châu đề nghị Anh, anh Hải và tôi thành lập ban tam ca “Ba Con Mèo...Mun”.

Ðề nghị của Anh Châu, dù đùa hay thật, cũng không thể thực hiện được; vì Anh Châu lâm trọng bệnh, phải qua ba cuộc giải phẫu tim trong một thời gian rất ngắn.

Thời gian Anh trải qua ba cuộc giải phẫu, bệnh viện cần máu. Hầu hết bằng hữu của Anh đều đến bệnh viện hiến máu. Ðây là lúc mọi người thấy được sự quý mến của bạn hữu dành cho Anh Châu. Không ai bảo ai, nhưng trong lòng mọi người đều thầm lo, không biết Anh có “qua” được hay không!

Anh đã “qua” được, hồi phục nhanh và yêu đời hơn bao giờ hết. Anh quay cuồng trong điệu luân vũ. Anh lịch lãm trong từng bước Tango. Anh cười sảng khoái khi “ù” được một ván mà chược. Ngoài tài năng và kiến thức chuyên môn, không ai có thể hiểu được Anh lấy năng lực từ đâu để sống trọn vẹn với đời, để thực hiện những điều mà nhiều người mơ ước.

Anh để lại thi tập Chỉ Là Mơ Thôi. Trong thi tập này có những bức họa do Anh vẽ, màu sắc rất dịu dàng, tươi đẹp, khơi dậy một sức sống. Trong thi tập này cũng có những bản nhạc do chính Anh sáng tác và cũng có những bản nhạc do vài nhạc sĩ phổ nhạc từ thơ của Anh.

Tôi vừa nghĩ đến đây thì tiếng niệm kinh cũng vừa dứt.

Nhìn vạc nắng cuối ngày trải đều trên thềm cỏ úa, tôi ngậm ngùi nhớ đến mấy câu thơ rất thích rất hợp với tâm trạng của tôi lúc này.

Có những chiều buồn mây tím bay,
Tím cả hồn tôi em có hay?
Nẽo về tôi thấy ngàn sao rụng
Chân bước thẫn thờ, đôi mắt cay!

Không nén được nỗi buồn, tôi thở dài, chậm bước. Bất ngờ trạng thái chối bỏ lại trở về trong tôi. Tôi khẽ lắc đầu, thầm nhủ: “Chỉ Là Mơ Thôi”. (2)

ĐIỆP-MỸ-LINH
www.diepmylinh.com

1.- Những chi tiết này do bác sĩ Nguyễn Văn Thuận cung cấp.
2.-Tất cả những phân đoạn trên đây được trích từ tập thơ

Chỉ Là Mơ Thôi của Mây-Ngàn.

Quân Sử Việt Nam (TOP)