Trang Thơ Của Thi Sĩ Vĩnh Nhất Tâm

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30

Vĩnh Nhất Tâm

TÂM SỰ CÙNG EM

Quê hương Việt, bên kia bờ biển Thái
Nay biến thành địa ngục của trần gian.
Mấy mươi năm với chủ nghia vô thần,
Đã đảo nguợc cả luân thuờng đạo lý.

Có phải vậy không em? Buồn quá nhỉ!
Những phố phường, hàng quán của ngày nao.
Có còn chăng...chỉ trong giấc chiêm bao,
Anh tin chắc cỏ cây còn ủ rũ.

Và đâu nữa những bạn thân, thầy cũ,
Những con đuờng hoa trắng có còn không?
“Ðảng” bắt đi... đày đến những nông truờng
Biến muời ngón tay thon thành… sỏi đá

Hẳn Em biết nhiều hơn anh hết cả;
Một “thiên đuờng Cộng Sản” quá điêu ngoa.
Chúng bắt Em: con“ngụy”phải thi đua,
Hòng tẩy não thành “cháu ngoan của Bác”

Em tuyệt đối không thể nào con “ngụy”,
Vì cha Em đâu theo Mỹ, Tàu, Nga
Ruớc ngoại nhân vào chuốc khổ trầm kha,
Phá luôn cả giang sơn và tổ quốc.

Cha của Em là nguời lo giữ nuớc,
Ðịnh nghĩa thế nào Cộng bảo “ngụy  quân”?
Phường loạn ngôn nên dân mãi cơ hàn,
Ai cũng rõ trò trả thù, ngược đãi .

Chúng chém giết bất nhân,  không hối cãi,
Phản tiền nhân còn dìm cả giống nòi.
Để ngoại nhân sai bảo tợ tôi đòi,
Mà cứ tuởng mình đứng ngang thiên hạ.

Còn cấm vận thu hồi... đâu có lạ?
Mở thương trường đường rộng rải ăn chơi.
Đóng thêm đinh, cửa “Ngục” đến ngạt hơi,
Gom tiền của, mặc tình tiêu hoang phí.

Thật ấu trỉ, một “thiên đường” quái quỷ
Dân càng nghèo, xã hội lắm đảo điên.
Vác đau thương,  mang trên cổ xích xiềng
Vì “ơn đảng” nên khổ DÂN, mất NUỚC?

Em là một chứng nhân cho đất nuớc,
Từ trong tay của lũ giặc vô thần:
Đi  đến truờng nhồi sọ “Mác-Lê-nin”
Chiều về thấy tên côn đồ “vĩ đại”

Anh cảm phục tuổi em dù nhỏ dại,
Sống trong bùn vẫn trong sạch như sen.
Chẳng nhuộm màu, chẳng tráo trở, bạc đen,
Nên tâm sự với em lòng nhớ nước.

Hơn mười năm như xa dần từng bước
Lòng dặn lòng từ ngày vuợt biển Ðông
Phải cứu dân ra khỏi ách cùm gông,
Đưa dân tộc thoát khỏi hầm tai vạ.

Thôi chừng ấy, dòng thơ anh tâm sự:
Nỗi niềm đau viết bằng máu thấm hồn.
Trao tặng em mang dòng máu Triệu, Trưng,
Mưu trí lớn, anh thư dòng giống Việt.

Nhớ nghe em! Dẫu mai nầy cách biệt,
Kẻ đầu non, người cuối bể: một lòng.
Quyết đấu tranh cho nòi giống Tiên Rồng
Cho Việt-tộc sớm thanh bình hạnh phúc.

Viết sau ngày Mỹ “bỏ  cấm vận” 1990 (Thi tập Cõi Lòng)

GIẢI PHÓNG

Ngày “giải phóng”, ta làm Người Mất Ðất?
Sống lang thang trên xứ lạ không Nhà
Nơi quê hương giòng nước mắt Mẹ già
Ðêm trăn trở... trông con mòn năm tháng.

Ngày “giải phóng”, ta sống đời Tỵ Nạn
Bỏ Mẹ hiền ngày tháng đợi chờ mong
Cả vợ con, có ngày thấy, ngày không
Cứ như thế mà đó đây: chí cả...

Ngày “giải phóng”, ta ôm tình biển cả
Nghĩ quê hương khi dân tộc đọa đày
Mơ chí lớn theo tinh thần YÊN BÁI:
“Sống vì dân và chết cũng vì dân.”

Ngày “giải phóng”, ta nửa đời lận đận
Nơi xứ người, lòng chất nặng niềm đau
Đến bây giờ đất nước vẫn chìm sâu...
Trong uất hận, làm thân Người Mất Ðất.

Ngày “giải phóng”, ta nửa đời lây lất
Cùng dăm ba người trẻ quyết kiên cường
Dù cuộc đời phải đối diện thê lương
Lòng vẫn sống hiên ngang, tình máu Việt.

Ngày giải phóng đã làm tan nước Việt
Khiến toàn dân lòng căm hận vô biên
Biết bao giờ đất nước được bình yên?
Cho dân tộc thoát khỏi vòng lao lý.

Ngày “giải phóng”, ta nhớ Người Yên Bái
Thắp lửa thiêng trong khí thế siêu phàm
Tiếp tiền-nhân đi lấy lại giang san
Trong tay giặc, bọn thực dân thống trị.

Sau “giải phóng” người-anh-hùng tuổi trẻ
Ðốt lửa thiêng để tiếp bước phi thường
Theo tinh thần Yên Bái: cứu quê  hương:
Trần Văn Bá  sáng ngời trong thế kỷ.

Ta mài bút biến thơ thành vũ khí
Lấy đau thương hun đúc chí can cường
Thơ đêm ngày canh cánh với quê hương
Quyết tiêu diệt: quái thai loài quỷ đỏ.

18.02.08 (Thi tập Cõi Lòng)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30

Quân Sử Việt Nam (TOP)