Trang Thơ Của Thi Sĩ Vĩnh Nhất Tâm

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30

Kính gửi quý Độc Giả,

Chúng tôi (Vĩnh Nhất Tâm) kính chuyển bài việt này, dù bài này tuy đã viết cách đây khoảng trên dưới 10 năm. Chúng tôi không lầm là đã có phổ biền trên Nguyệt San Việt Nam Online. Và nay vẫn thấy bài viết còn có thể gửi lại dành cho các bạn trẻ trong và ngoài nước, có cơ hội tìm hiểu thêm về tinh thần bất khuất và sự cương cường của tiền nhân từ thời chống thực dân Tàu đến chống thực dân Pháp, và các bậc lãnh đạo tinh thần của các Tôn-giáo trong nước, và nhất là những ý hay và lời vàng ngọc của tiền nhân mà chúng tôi đã mạo muội và mạn phép chép lại cho các bạn rõ thêm về thế nào là vai trò lãnh đạo chống xâm lăng của Việt-tộc.

Trân trọng,

Vĩnh Nhất Tâm
TB Khi phổ biến lại chúng tôi có thêm bớt vài chữ và có bỏ vài đoạn, nếu có gì làm các bạn khó hiểu, chúng tôi xin sẵn sàng cùng với các bạn trao đổi. Địa chỉ email: vinhnhattam@aol.com

QUAY VỀ QUÁ KHỨ VỚI TIỀN NHÂN ĐỂ XÂY DỰNG MỘT TƯƠNG LAI CHO HẬU THẾ

...

Nguyễn Thái Học cất tiếng:

“Thưa các Đồng Chí,

Chúng ta làm cách mệnh bằng sắt máu, bao giờ cũng phải lấy lực lượng quân đội làm phần chủ lực. Nay Phạm Thành Dương đã tạo phản, phần chủ lực đã bị sứt mẻ rồi! Phần khác, số khí giới dự trữ cũng bị địch khám phá được rất nhiều. Nếu nay chúng ta không hành động ngay; thế tất,  số võ trang đồng chí và số võ khí còn lại, cũng sẽ bị địch làm tan vỡ hết ! Đến khi ấy chỉ còn lại một số ít bom  soàng, dáo nhụt, với những đội Tiện Y ô hợp, thì liệu chúng ta có thể chiến đấu với những đạo quân có tổ chức và được huấn luyện kỹ càng, cùng khí giới tinh nhuệ được không ?

“Người ta bảo: cần đứng trước ở chỗ không thua! Nhưng chúng ta thì đứng trước chỗ thua mất rồi!

“Thế nhưng liệu chúng ta hãy hoãn để tổ chức lại rồi mới đánh có được không? Tôi tin rằng không thể được!  Cuộc đời là cả một canh bạc, gặp canh bạc đen, người ta có thể thua sạch hết cả vốn.

“Gặp thời thế không chìu mình; Đảng chúng ta có thể tiêu hao hết lực lượng. Một khi lòng sợ sệt đã xen vào trong đầu óc quần chúng, khiến họ hết hăng hái, hết tin tưởng, thì phong trào cách mệnh có thể nguội lạnh như đám tro tàn, rồi của sẽ không tiếp, người sẽ bị bắt lần, vô tình đã xô đẩy anh em vào cái chết lạnh lùng mòn mõi ở các nơi phòng ngục nhà giam âu là chết đi, để lại cái gương hy sinh phấn đấu cho người sau nối bước.

Chúng ta KHÔNG THÀNH CÔNG THÌ THÀNH NHÂN” có gì mà ngần ngại!”
(Trích từ Việt Nam Quốc Dân Đảng của cụ Hoàng Văn Đào)

Cuộc khởi nghĩa Yên Bái trong nhất thời thất bại, nhưng tuyệt nhiên về mặt tinh thần quật khởi ngày càng lan rộng, đã khiến cho thực dân Pháp phải nao núng. Dù chúng có muốn duy trì chế độ thực dân tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, cũng không thể tồn tại được trên cái ngôi vị thực dân. Từ sự nao nung đó, đang trong thời kỳ bước vào vòng tranh chấp của hai khối Tư Bản và Cộng Sản ngày càng lớn mạnh, tìm cách thao túng chính trường cả Đông Tây, cùng lúc thực dân Pháp phải rơi vào con đường tiến thối lưỡng nan. Chính trong những năm, thực dân Pháp lúng túng, đã là cơ hội cho bọn tay sai  của Cộng Sản Quốc tế do Hồ Chí Minh cầm đầu.  Chúng có rất nhiều cơ hội vừa trá hình yêu nước, vừa phỉnh gạt nhân dân và độc hại hơn nữa là mượn tay thực dân Pháp để tiêu diệt thành phần  đảng phái quốc gia chân chính trong khối toàn lực của dân tộc.

Khi HCM chiếm được ưu thế, mới dở cái mặt nạ và đồng lõa với ngoại bang xé nước Việt Nam ra làm hai mảnh. Lấy con sông Gianh và biến thành con sông máu và nước mắt của toàn dân.

Trên thực tế: “các nhà lãnh đạo phe thế giới dân chủ (Tư Bản) như Truman, Churchill, và De Gaulle nhất quyết không trao Đông Dương cho Đảng Cộng Sản Đông Dương vì họ không muốn Staline mở rộng bức màn sắt từ Đông Âu qua Đông Á” (Trích trong bài thuyết trình của Luật Sư Nguyễn Hữu Thống tại Câu Lạc Bộ Văn Hóa Việt Nam đầu năm 2000 tại Nam California ). Nhưng ngược lại,  Cộng Sản Quốc Tế điều nghiên một cách kỹ lưỡng trên mặt chỉ đạo đối với các tay sai và chư hầu nhất là đối với Hồ Chí Minh.

Nhìn lại trang sử đầy hào-hùng và bất khuất, để thấy tại sao CSQT cần lợi dụng và khai thác mầm mống phản quốc của HCM ?  Cách đây, hơn bảy thế kỷ mà thế giới cũng phải công nhận; nếu không phải là một dân tộc đoàn kết và bất khuất qua trang sử oanh oanh, liệt liệt  thời đuổi Nguyên của Hội Nghị Diên Hồng,  thì dân tộc Việt Nam đã phải rơi vào thuộc Mông từ đó? Một lục địa rộng lớn như Tàu, trong đó có nhiều nước cọng với Vạn Lý Trường Thành kiên cố, mà vẫn phải rơi vào tay Mông Cổ; huống chi một nước nhỏ như nước Việt chúng  ta vào thời đó. Ngay “Tại Hung gia Lợi, giáo chủ và giai cấp phong kiến vừa mới tạm yên thì Mông Cổ như trận cuồng phong ào tới, vua Bela tử trận...máu người Hung chảy như nước suối...Đầu thế kỷ thứ VIII, Hồi Quốc đang thịnh đạt và một đế quốc khá lớn gồm Ba-Tư, Tiểu Á -–Tế Á và Cận Đông, bề ngang kéo dài từ Ấn Độ đến Bagdad, dọc bờ biển Aral tới Vịnh Ba-Tư... cũng tan vỡ từ đấy...

Các quốc gia Tây Âu nghe tin này cũng vô cùng khủng khiếp coi như ngày tận thế đã tới. Giáo Hoàng Innocent IV và vua thánh Louis nước Pháp phải cử người sang cầu hòa với Mông Cổ.” (Trích từ Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn).

Chính sự nghiên cứu một cách kĩ lưỡng của CS quốc tế, nên chúng đã dùng  HCM không chỉ  riêng cho khối CSĐD mà cả vai trò lãnh tụ CS tại ĐNA. Staline cần HCM trong nhiều dụng ý khác nhau, đến nổi  bỏ quên cả Mao Trạch Đông đang trên đường triển vọng nắm được quyền sinh sát một khối dân đông nhất thế giới.  Cả khối Tư Bản từ trước cho đến nay cũng đã biết như vậy, chỉ có địa thế hiểm yếu và lòng bất khuất của một dân tộc như dân tộc Việt Nam mới có thể làm lá chắn, ngăn cản ngõ chính, mà CS Tàu sẽ tràn xuống để thực hiện mộng bá chủ thế giới, khi thế đủ mạnh. Lòng tham muốn từ óc phong kiến cố cựu của Tàu có thể  xảy ra trong tương lai dù bất kỳ dưới hình thức nào chăng nữa ! Nếu thế giới tự do, nhất là Mỹ và khối châu Âu không sẳn sàng cho một thế chiến lược đề phòng hay chận đứng trước một hiểm họa, khi cộng sản Tàu đủ sức khuynh loát, thì sự nguy hiểm không phải chỉ riêng cho Việt Nam, mà cả thế giới ?

Cũng nên ngưng tại đây về phần nguyên nhân nào, đã đưa Hồ Chí Minh nhuộm đỏ được miền Bắc và tiếp sau đó là miền Nam vào 30-04-1975, để khỏi phải lặp lại những điểm then chốt, mà đâu đó rất nhiều thành phần trong giới trẻ đã thấu hiểu, cũng như phần kết luận cuộc thuyết trình của LS Nguyễn Hữu Thống  như sau:

“Nói tóm lại:

1)     Phủ nhận chủ nghĩa dân tộc ĐCSĐD (Đông Dương Cộng Sản Đảng) đã phạm sai lầm chiến lược khi liên kết với QTCS (Cộng Sản Quốc Tế) để đấu tranh bạo động võ trang khiến dân tộc ta phải hy sinh xương máu ròng rã trong 40 năm.

2)     ĐCSĐD không có công giành độc lập vì Việt Nam đã được độc lập từ 1949 chiếu Hiệp Định Elysée năm 1949. Hơn nữa, Việt Nam đã được đăng ký tại LHQ (Liên Hiệp Quốc) là một quốc gia độc lập từ năm 1947.

3)     Đảng Cộng Sản không có công thống nhất đất nước vì Việt Nam đã được thống nhất năm 1949 khi Quốc Hội Nam Kỳ giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị và sáp nhập Nam Phần vào lãnh thổ quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất. Trên bình diện dân tộc 3 cuộc chiến tranh Đông Dương là những cuộc chiến tranh vô ích, nếu không nói là tai hại.

4)     Vì vậy ĐCSĐD không có tư cách và tính chính thống để độc quyền lãnh đạo quốc gia từ trước tới nay và nhất là từ nay về sau.

Vì những lý do nói trên, chế độ CS phải được giải thể để cho người dân được quyền mưu cầu hạnh phúc trong một chế độ dân chủ pháp trị trong đó có các dân quyền và nhân quyền được tôn trọng, kinh tế quốc gia được phát triển và công bằng xã hội được thực thi.”

Vận nước phải tiếp tục nổi trôi, sau ngày HCM cùng ngoại bang chia đôi đất nước. Dân của  hai miền Nam Bắc thế nào thì sau 30-04-1975, cả nước ai cũng biết đâu là sướng, đâu là  khổ, đâu là tự do và đâu là nô lệ? Còn ở đây, người viết chỉ thuần nhất là gợi lại nét son trong tinh thần tiếp bước tiền nhân, để an dân và giữ  nước của biết bao nhiêu bậc anh-hùng đã hiên ngang bước vào chính sử và đặc biệt là  năm (5) vị Tướng:   Nguyễn  Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai và Phạm Văn Phú đã tuẫn tiết trong khí phách của một vị  tướng quân, là biểu tượng sáng ngời của miền Nam tự do cho thệ hệ trẻ trong và ngoài nước biết thêm về dòng chính sử  của Việt Tộc, mà tác gỉa đã viết một cách khái quát ở trên.

Cái gọi là “thống nhất” đất nước của csVN, đã trãi qua từ  26 năm ròng rã, cả  thôn quê đến thành thị từ thức giả đến dân giả, từ các vị tu hành đến các bậc lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo về mặt tâm linh,  không được quyền tự do hành đạo. Còn ngược đãi đồng bào hơn thời Bắc thuộc và Tây thuộc.

 “Thế cùng tất biến” là  định luật chung đưa  các bậc lãnh đạo tôn giáo trong tinh thần đấu tranh bất bạo động, đòi nhân quyền và tự do tôn giáo cho dân tộc Việt Nam. Đồng bào thiểu số tại những vùng Tây Nguyên cũng đồng lúc đứng lên đòi đất đai và của cải mà cs đã áp bức và chiếm đoạt. Chưa hết ! Còn nhiều tập thể quần chúng đang chiến đấu âm thầm như: sinh-viên, thành phần trí thức và thành phần đối lập v.v...

Thế đấu tranh tại quốc nội ngày càng dử dội, thời gian gần đây mà truyền thanh và báo chí đã loan tin trãi rộng khắp thế giới là Hòa Thượng Thích Quảng Độ đòi hỏi cs VN phải thay đổi  theo 8 điểm, nêu lên trong thông điệp đã phổ biến một cách công khai.  Linh-Mục Nguyễn Văn Lý dõng dạc với  lời tuyên bố bất khuất “ Tự do tôn giáo hay là chết” và nhiều bản tuyên cáo lên án HCM  của Linh Mục Nguyễn Văn Lý qua làn sóng truyền  thanh. Phật giáo Hòa Hão có  Cụ Lê Quang Liêm lãnh đạo và hưởng ứng tinh thần đấu tranh của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, đồng thời lập Hội Đồng Liên Tôn của ba tôn giáo lớn tại Việt Nam: Phật-giáo, Công-giáo và Phật-giáo Hòa Hão. Thêm việc Cụ Bà Nguyễn Thị Thu tự thiêu để đấu tranh cho công lý và quyền đạo pháp...

Diễn trình đấu tranh đòi hỏi nhân quyền, tự do tôn giáo và dân chủ tại quốc nội từ muôn mặt,  hầu đạp đổ một chế độ độc tài phi dân tộc; dưới một ngụy thuyết lỗi thời của Mác-Lê do bọn phỉ quyền cs VN mang về cung phụng, để đày đọa dân tộc trong suốt mấy mươi năm. Đâu khác chi nền thống trị bạo tàn của phong kiến thực dân phương Bắc và thực dân đô hộ của phương Tây, mà còn hiểm độc hơn thế nữa trong cùng một màu da chủng tộc.  Đó là một sự sỉ nhục và tàn hại nhất trong dòng lịch sử của dân tộc cần phải chấm dứt.

Một thành trì vững chắc khởi đi từ niềm tin của dân tộc cùng với mặt trận tâm linh và người Việt tị nạn tại hải ngoại đang vận động trở thành  mặt trận quốc tế, để yểm trợ quốc nội về cuộc đấu tranh: nhân quyền, tự do tôn giáo và dân chủ trên đất nước Việt Nam cho dân tộc Việt Nam. Bọn cs VN đang trong thế vẫy vùng là hiện tượng sắp chết của một con vật,  sau cuộc điều trần tại Quốc Hội Mỹ về nhân quyền và tự do tôn giáo. Chỉ sau hai tiếng đồng hồ, cs đã quay sang bắt Linh Mục Nguyễn Văn Lý, công an bao vây Thanh Minh Thiền Viện  như muốn vồ bắt Thượng Tọa Thích Quảng Độ và bao vây tư thất Cụ Lê Quang Liêm một cách đe dọa. Thật đúng! Bọn cs VN chỉ là một chính quyền rất ấu trỉ, lỗi thời và lạc hậu hay nói một cách khác hơn là một kẻ mù mà phân định màu sắc.

Thượng Tọa Thích Quảng-Độ, Cụ Lê Quang Liêm và Linh Mục Nguyễn Văn Lý  là những bậc đấu tranh cho chân lý thì đâu có bao giờ nghĩ đến chuyện bản thân về tù tội hay sát hại. Ngày xưa, hiền triết Socrate đấu tranh cho chân lý, ngài cũng bị vua chúa thời đó kết án ngài là một phản thần và bị xử án: Một là phủ nhận những đều ngài đã truyền giảng  về chân lý, hai là phải uống thuốc độc mà chết. Ngài đã nâng chén thuốc độc uống và  Ngài chết cho chân lý sống.

Diễn trình đấu tranh của dân tộc Việt Nam trong hiện tại, cho một nền dân chủ pháp trị sẽ và phải lên ngôi, mà Hoàng Đế Lê Thánh Tông  là sáng lập viên về luật nhân quyền và dân quyền từ Bộ Luật Hồng Đức đã ra đời  năm 1483, cách đây 5 thế kỷ, còn  trước cả Luật Dân Quyền của Anh Quốc 1689, Luật Dân Quyền Pháp Quốc 1789, và Luật Dân Quyền Hoa-Kỳ năm 1791. Tuy là một nước Việt Nam nhỏ bé, còn phải thường xuyên đối đầu với một nước khổng  lồ đầy ắp phong kiến, tàn bạo và hiểm độc ở bên hông, mà đã ra đời với một Bộ Luật đi trước cả Tây phương hơn ba trăm năm. Một Bộ Luật thật phong phú từ quyền bình đẳng đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa thì dân tộc Việt Nam đâu có thể bỏ quên được ?

Vĩnh Nhất Tâm 17.06.2001

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30

Quân Sử Việt Nam (TOP)