Trang Thơ Của Thi Sĩ Vĩnh Nhất Tâm

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30

Kính gửi quý Độc Giả,

Chúng tôi (Vĩnh Nhất Tâm) kính chuyển bài việt này, dù bài này tuy đã viết cách đây khoảng trên dưới 10 năm. Chúng tôi không lầm là đã có phổ biền trên Nguyệt San Việt Nam Online. Và nay vẫn thấy bài viết còn có thể gửi lại dành cho các bạn trẻ trong và ngoài nước, có cơ hội tìm hiểu thêm về tinh thần bất khuất và sự cương cường của tiền nhân từ thời chống thực dân Tàu đến chống thực dân Pháp, và các bậc lãnh đạo tinh thần của các Tôn-giáo trong nước, và nhất là những ý hay và lời vàng ngọc của tiền nhân mà chúng tôi đã mạo muội và mạn phép chép lại cho các bạn rõ thêm về thế nào là vai trò lãnh đạo chống xâm lăng của Việt-tộc.

Trân trọng,

Vĩnh Nhất Tâm
TB Khi phổ biến lại chúng tôi có thêm bớt vài chữ và có bỏ vài đoạn, nếu có gì làm các bạn khó hiểu, chúng tôi xin sẵn sàng cùng với các bạn trao đổi. Địa chỉ email: vinhnhattam@aol.com

QUAY VỀ QUÁ KHỨ VỚI TIỀN NHÂN ĐỂ XÂY DỰNG MỘT TƯƠNG LAI CHO HẬU THẾ

LNV: Bắt nguồn từ sự nhận thức về quá trình đấu tranh của dòng chính sử, người viết xin mạo muội dựa vào nguồn sử liệu, các tác phẩm văn học và báo chí  liên hệ, với mục đích là dành cho thế hệ trẻ trong và ngoài nước thuần nhất về mặt đấu tranh giữ nước của tiền nhân, trong dịp Lễ Tưởng Niệm Mười Ba Vị Anh-Hùng Yên Bái lên đài vinh-quang đền nợ nước tại pháp trường vào mờ sáng tinh sương 17-06-1930. Và đồng thời cho lớp trẻ hiểu về sử qua tinh thần dân tộc, không phải qua nhản quan một triều đại hay chế độ, để tránh sự ngộ nhận sau này của một số trẻ  về dân tộc sử quan và cái gọi là “duy vật sử quan” của cs.  Và mong thế hệ trẻ tìm tòi để hiểu rõ hơn: Tại sao mà người Việt phải đành đoạn bỏ nước ra đi?

Người viết một lần nữa ! Xin thưa rằng; chắc chắn sự thiếu sót, vụng về và kém cỏi về phần suy luận không thể nào tránh được, mong quý bậc trưởng thượng, sử gia, thức giả và đồng hương niệm tình thứ cho.

 ***

Quay về quá khứ với tiền nhân, muôn dân ai mà không hãnh diện ? Một lịch sử đầy hào hùng và bất khuất của tiền nhân từ  thời dựng và giữ Nước với một huyền thoại  “CON RỒNG CHÁU TIÊN”, mang một bản sắc thật đặc biệt  trong tinh thần hướng thượng. Dù dân tộc Việt Nam  đã phải trãi qua trong cái lò trầm luân của nhân loại đã lâu, nhưng vẫn tiếp nối truyền thống với tâm hồn luôn luôn son trẻ, nhiệt thành và dũng cảm trong một niềm tin đầy sinh khí, theo đà tiến hóa của nhân loại mà đấu tranh cho quyền sống và bình đẳng của con người cùng với cộng đồng nhân loại.

Một chiều dài lịch sử hơn bốn ngàn năm để tồn tại, bên cạnh một đế quốc phong kiến của  phương Bắc (Tàu). Chúng tìm bằng mọi cách để thống trị dân tộc Việt một cách rất bạo tàn, không ngưng nghỉ. Dân tộc Việt Nam  phải chịu trần ai, cơ cực trãi qua non  mười thế kỷ, sau khi triều đại Triệu Đà mất vào tay  nhà Hán. Sự chịu đựng trong tinh thần nung đúc đến lúc trưởng thành và  bùng nổ, đó là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đứng lên đánh đuổi nhà  Hán, chính là cuộc cách mệnh khởi đầu cho một nền “TỰ CHỦ”.

Để minh chứng một cách hùng hồn về nền “TỰ CHỦ”, mà Hai Bà Trưng đã thực hiện cuộc cách mệnh giải phóng dân tộc đầu tiên trong Dòng Sử Việt. Tiếp sau đó, các bậc Anh-Hùng và Nữ-kiệt như: Triệu Trinh Nương, Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Mai Hắc Đế và Bố Cái Đại Vương ...Dòng Họ Khúc đến thời Vương Ngô Quyền sau một cuộc thủy táng trăm ngàn quân Nam hán trên dòng sông Bạch Đằng. Đó là thời điểm nỗi bật và thể hiện nền độc lập từ năm 938 một cách toàn diện.

Tiếp bước tiền nhân, những bậc minh quân và những thiên tài quân sự  đầy tài năng, thao lược và  uy-dũng  giữ nền độc lập một cách toàn diện và vĩnh cữu: Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn ( Quang Trung Nguyễn Huệ), chấm dứt nạn Bắc thuộc và sự thống trị bạo tàn của phong kiến phương Bắc không còn tiếp diễn trên giang sơn Đại Việt nữa kể từ đó.

Để gợi lại tinh thần bất khuất của một vị Hoàng Đế đã làm triều đại cuối cùng của phương Bắc là Mãn Thanh đến kinh hoàng và khiếp đảm, sau lời huấn thị với đoàn hùng binh, trước khi xuất quân ra Bắc đuổi xâm lăng :

“...Quân Thanh kéo quân xâm lấn, hiện đang chiếm cứ Thăng Long, các người “đã hay tin ấy ?

Trong vòng trời, đất chia theo phận sao Dực, Chẩn; Nam Bắc vẫn riêng một non sông. Người phương Bắc không phải nòi giống ta thì tất khác dạ. Từ nhà Hán về sau, “họ cướp đất đai ta: cá thịt nhân dân, vơ vét của cải, nông nỗi ấy thật khó chịu quá ! Người trong nước ai cũng phải nghĩ đánh đuổi đi.

Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Lê Đại Hành và Lý Thường Kiệt, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ. Các cụ không chịu bó tay ngồi nhìn quân ngoài tàn bạo, nên phải thuận lòng người, dấy quân khởi nghĩa, đánh “thắng rồi đuổi chúng về. Trong những khi  ấy, Nam Bắc đâu lại phận đó, bờ cõi yên ổn, vận nước lâu dài từ nhà Đinh tới nay, chúng ta không đến nỗi phải chịu cái khổ Bắc thuộc. Đó lợi, hại, được thua: chuyện cũ rành, rành là thế.

Nay, người Thanh không soi gương Tống, Nguyên, Minh lại sang mưu chiếm nước Nam ta, đặt làm quận huyện! Vậy ta phải vùng ra mà khử trừ đi!

Các anh em, hạng người có trí thức, có tài năng, phải cùng ta đồng lòng gắng sức , khiến cho việc lớn được nên, chớ đừng giở thoái nhị tâm đó! Hễ việc phản trắc lộ ra thì đừng trách rằng không  báo trước” (Trích từ Quang Trung Nguyễn Huệ Anh-Hùng Dân Tộc của tác giả Hoa Bằng).

Nạn Bắc thuộc đã được chấm dứt từ đó, đối  với dân tộc Việt Nam là một đại phúc, suốt trong một chiều dài lịch sử mà tiền nhân đã phải cam go lắm mới đuổi được chúng nó và giữ yên bờ cõi. Dòng Chính Sử đã để lại cho dân tộc Việt Nam một kho tàng kinh nghiệm, một tinh thần bất khuất, một sự hy sinh thật cao cả của toàn dân và  một không gian gắn bó để tồn tại. Thế mà vận nước vẫn chưa thoát khỏi nạn tai ương, khởi đi từ  óc vọng ngoại của những tư tưởng phong kiến tối tăm, tiếp tục đưa dân nước vào vòng đô hộ của thực dân Pháp, kéo dài non một thế kỷ.

Tiếng súng xâm lăng của thực dân Pháp bắt đầu từ cửa bể Đà Nẳng và  tiếp tục lan rộng, gieo rắc tang thương trên khắp ba miền Nam Trung Bắc để thỏa mãn cái dòng máu thực dân man rợ của chúng.  Các bậc sĩ-phu, các nhà chí-sĩ  dấy động lên những cao trào từ  Cần Vương, Văn Thân...Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Quang Phục và cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên... quyết một lòng đánh đuổi thực dân, giành lại độc lập và mang dân tộc ra khỏi vòng kềm kẹp và sự đô hộ của thực dân Pháp từ phương Tây.

Sau gần sáu mươi năm, cảnh tang thương, tù tội và  đầy dẫy chết chóc trên quê hương Việt Nam dấu yêu, mà thực dân Pháp đã cố tình mang đến. Sau tiếng bom tại  Sa-điện của vị  anh-hùng Phạm Hồng Thái  mưu sát tên Méc-lanh (Merlin) nắm chủ chốt toàn quyền Đông Dương. Việc tuy không thành, nhưng ảnh hưởng rất lớn cho tinh thần đấu tranh cách-mệnh của giới trẻ thời đó.

Nguyễn Thái Học xuất hiện với bầu nhiệt huyết thương nước yêu nòi, không ngần ngại hay sợ sệt, kể cả mạng sống. Vì  lẽ, Ông  còn tin tưởng rằng; ít nhất trong bè lũ thực dân Pháp vẫn còn có những người con dân nước Pháp, học hỏi được tinh thần hướng thượng của tiền nhân họ như ông Jacques Rousseau, La Fontain, Montesquieu, v.v.. đã từng đấu tranh đòi nhân quyền và  tự do cho dân tộc Pháp, để xứng đáng làm một con người trong một xứ văn minh mà tiền nhân họ đã dày công xây dựng.

Bắt nguồn từ đó, sự gặp gở Varenne, tên toàn quyền Đông Dương của nhà Cách-Mệnh Nguyễn Thái Học với mục đích duy nhất là trao bản đều trần trong một thái độ rất cởi mở và tương kính với tấm lòng bao dung. Bản điều trần gồm những đề nghị:  Cải cách nền công, thương Việt Nam, và nhất là thiết lập một trường Cao Đẳng Công Nghệ ở Hà Nội, và kèm theo cả dự án giúp đỡ dân nghèo, được sống cuộc đời tương đối dễ chịu hơn. Hắn (Varenne) đã không thực hiện lời đề nghị trong bản điều trần, mà còn áp dụng chính sách ngặt nghèo và khó thở hơn. Nhà Cách Mệnh Nguyễn Thái Học vẫn điềm nhiên gởi tiếp thêm bức thư cùng một nội dung đầy đủ vẫn không thấy phúc đáp. Ông không thất vọng mà còn  gởi tiếp lá đơn đến tên “Thống sứ Bắc-kỳ”, xin phép xuất bản một nguyệt san lấy tên là “Nam Thanh” mong phổ biến và nâng cao trình độ dân trí, nhưng cũng không được nhà cầm quyền thực dân Pháp chấp thuận, còn viện dẫn đủ lý do để né tránh.

Tiếp nối tiếng “TRỐNG MÊ-LINH” đuổi xâm lược nhà Hán và lập nên nền “TỰ CHỦ” là ngọn  “CỜ YÊN BÁI” quyết  thực hiện cuộc cách-mệnh đuổi thực dân và lập nên nền “DÂN CHỦ” vào cuối thập niên 1920 (tức là ngày 25 tháng 12 năm 1927), lúc giao thời giữa Đông Tây theo tiến trình văn minh của cộng đồng nhân loại.

Cuộc gặp gở và thư tín với tên toàn quyền Đông Dương không thành tựu. Ông cùng với một số thanh niên trí thức tại Nam Đồng Thư Xã, thành lập một Đảng Cách-Mệnh danh xưng Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ). Sau vụ giết tên Bazin  đã được thực hiện, mà nhà Cách-mệnh Nguyễn Thái Học đã để lại những lời thật vàng ngọc cho các Đồng-chí  Dân-chủ của mai sau lấy đó làm một bài học kinh nghiệm:

“Đứng trước cảnh thống khổ của đồng bào, một số Đoàn Viên Việt Nam Quốc Dân Đảng ở trong các xí nghiệp: Gô Đa, Poinsard et Veyret, Descourd et Cabaud... cử đại biểu là đồng chí Nguyễn Văn Viên là Ủy Viên trong Thành-bộ V.N.Q.D.Đ. được Thành-bộ trao phó trách nhiệm  lãnh đạo các Chi-đoàn Công-nhân, đến yêu cầu Tổng-bộ cho thi hành giết tên trùm mua bán nô lệ là Bazin, để trừ mối đại họa cho dân tộc.

Bước vào khách sạn Việt Nam (khách sạn Việt Nam là nơi  tổ chức kinh tài của Đảng)  Nguyễn Văn Viên gặp Nguyễn Thái Học, Hoàng Văn Đào và Nguyễn Hữu Đạt, đồng chí Viên đưa đề nghị của các đại biểu Chi-đoàn  Công-nhân yêu cầu Tổng-bộ xét, xin ra lệnh cho Ban Ám Sát giết Bazin. Đảng-trưởng Nguyễn Thái Học trả lời:

- Nếu nay vội giết Bazin, tất nhiên chính quyền thực dân sẽ khủng bố dữ dội, mà đa số đồng chí trong cấp lãnh đạo của Đảng chúng ta phần đông có tên  trong “SỔ ĐEN”  của sở mật thám. Thực dân sẽ bắt hết, Đảng sẽ tan lợi ít mà hại nhiều. Vậy khuyên các đồng-chí  nên bình tâm để rán sức làm việc lớn đang chờ đợi ở Đảng chúng ta. Bazin chẳng qua chỉ  là cái cành cây, cây mà đổ tức khắc cành phải héo.”  (trích từ V.N.Q.D.Đ. của Cụ Hoàng Văn Đào).

Sau, vụ ám sát tên mua bán nô lệ Bazin của một Đ/C trong Đoàn Ám Sát, biết là không giữ đúng như lời của nhà Cách-Mệnh Nguyễn Thái Học đã khuyên. Vì sự tàn ác vô nhân tính của tên trùm mua bán nô-lệ Bazin đành phải khử trừ, dù phải chịu tội trước kỷ luật Đảng... Từ đó,  trong tình thế căng thẳng và cấp bách phải dẫn đến hai cuộc hội nghị lịch sử tại Võng La và Mỹ Xá: “ Vì tình thế mỗi ngày mỗi bất lợi cho Đảng, Lãnh-tụ Nguyễn Thái Học cấp tốc từ Kinh Bắc trở lên Phú Thọ, triệu tập họp khẩn cấp vào ngày 26 tháng 1 năm 1930 tại làng Võng La.

Mặc dầu Nguyễn Thái Học, Xứ Nhu và Phó Đức Chính đã bị đội Dương phản bội  mưu bắt hụt tại Võng La này, nhưng nhờ địa  thế cũng như vấn đề nhân sự, việc tổ chức Đại biểu Đảng vẫn rất thuận lợi có bảo đảm.

Đại-hội khoảng 20 người, nhưng hầu hết đại biểu ở miền Trung Du, khi Nguyễn Thái Học từ ngoài tiến vào, các đại biểu mới an tọa, không khí phòng họp trở nên trang nghiêm.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30

Quân Sử Việt Nam (TOP)