Thơ Văn nguyễn duy ân

Mỗi Độ Tháng Tư Về

1, 2

nguyễn duy ân

Chữ ký trên bản Hiệp định Paris chưa ráo mực, Cộng Sản Quốc tế vẫn ồ ạt tuồn luơng thực, bom mìn súng đạn cho Hà Nội để ráo riết tấn công quyết chiếm Miền Nam Việt Nam, giữa lúc Hoa Kỳ chấm dứt mọi nguồn hỗ trợ tối thiểu cho cuộc chiến đấu của Quân Dân VNCH đang nỗ lực bảo vệ phần đất Tự do trong vô vọng! Ngày 30 tháng Tư-1975 giặc Cộng đã đạt được mục đích, những nguyên nhân đưa đến thành công của chúng đã ngày càng được phơi bày, sáng tỏ qua tài liệu được giải mật từ Hoa Thịnh Đốn, Mạc Tư Khoa, Bắc Kinh, Paris… Còn hậu quả là Miền Nam Tự Do hứng chịu một cuộc cướp bóc, trả thù ghê rợn vừa tinh vi vừa trắng trợn!

Những ngày đầu với lời rêu rao: “Cách mạng không tơ hào một cây kim, sợi chỉ, cho đến một cọng rác của nhân dân Miền Nam!” Nhưng chỉ vài hôm sau, từng đoàn xe lũ lượt chất đầy mọi thứ từ thượng vàng hạ cám ùn ùn chở ra Bắc. Tiếp theo là những đợt hành quân lùng sục vàng bạc, châu báu trong chiến dịch “đánh tư sản mại bản!” Khi đó người dân mới ngộ ra rằng: “Cọng rác hay cây kim, sợi chỉ… thì lấy làm gì?”

Đài BBC ngây thơ báo động: “Sẽ có tắm máu sau khi Cộng quân chiếm được Sài Gòn!” Đã làm cho Hà Nội cười thầm!

 Đối với CSVN thì lò thiêu của Hitler, hay lò sát sinh của Pôn Pốt là hạ sách. Kinh nghiệm Tết Mậu Thân mà chúng đã chôn sống hàng ngàn người đã gây dư luận căm phẫn và ghê tởm trên hầu khắp Thế giới. Những trại tập trung “học tập” trá hình được dựng lên từ Nam chí Bắc với vỏ bọc nhân đạo đã giết dần mòn “đối phương” bằng đói khát và lao động khổ sai, một hình thức đổ máu ngầm. Chưa kể là những hành hạ tinh thần: nhục mạ qua phê bình kiểm điểm, cưỡng ép “kẻ thù” tự đấu tố nhau, thi đua nhau, thúc đẩy nhau lao động dưới mức súc vật!

Nếu không có những biến chuyển thời cuộc, thì chắc chắn sẽ không còn người tù “cải tạo” nào sống sót để trở về nhà!

Bị Tầu Cộng trừng trị về cái tội phản phúc, rồi kinh tế kiệt quệ, buộc chúng phải thả tù để nhân viện trợ như hình thức mua bán, đổi chác!

Ra khỏi nhà tù lại thấy đời sống người dân cơ cực, khốn cùng không hơn gì kiếp tù! Nhiều người đã nung nấu ý chí kháng cự. Công cuộc “Phục Quốc” đã có ngay từ sau tháng Tư-1975, hết đợt nầy đến đợt khác. Nhiều người đã vượt biên ra ngoại quốc rồi tổ chức lực lượng để xâm nhập trở về.

Những cuộc ra đi bất đắc dĩ sau nầy mang đầy tâm sự buồn chán phải “lìa quê” đành gởi tâm sự cho người ở lại, như nỗi lòng của nhà thơ Tam Kỳ Quảng Nam Phạm Cây Trâm:

Gửi Cố Nhân

Chống Cộng lìa quê xa cố nhân           
Trời mây dằng dặc nhớ trăm phần
Đâu ngày tha thiết đường công vụ
Rồi lúc tâm tình chuyện nước dân
Gió lộng Trường Sơn phơi chí cả
Sóng gào Đông Hải rõ tình thân
Giả từ cạn chén hồn say tỉnh
Cỏ nội ngàn mây nhẹ gót trần
                     *
Cỏ nội ngàn mây nhẹ gót trần
Đường đời xuất xử cốt “thành nhân”
Tề gia mong ở người hiền đức
Trị nước cần xa bọn nịnh thần
Bè bạn bể dâu ai dũng khí
Nước non hưng phế cảnh phù vân
Dư đồ nhìn lại chiều mưa gió
Tâm sự lìa quê bước tủi thân
                     *
Tâm sự lìa quê bước tủi thân
Tội công rõ rệt sá chi cân
Đường cùng chẳng ngại lòng yêu nước
Cảnh khốn đâu sờn chí đạt nhân
Hướng nghĩa vì dân lo diệt Cộng
Đồng tâm báo quốc giữ tinh thần
Xuân về văng vẳng câu đồng vọng
Đêm tối mây tan nguyệt tỏ dần
                      *
Đêm tối mây tan nguyệt tỏ dần
Lời nào thề ước diệt Vương Tần
Thành công ví được hưng nhân nghĩa
Quyết chiến dù thua giữ nghĩa nhân
Bốn biển keo sơn tình chiến hữu
Một đời son sắt chữ thân dân
Tâm tư đốt nến soi chân lý
Rằng sử công bằng việc giả chân
                     *
Rằng sử công bằng việc giả chân
Nào đâu hùng khí thuở canh tân
Bụi mờ quá khứ buồn kinh sử
Lời sáo ngày nay tủi bản thân
Áo vải cờ lau nên nghiệp cả
Thanh gươm ngọn bút có khi cần
Những ai vị quốc còn tâm huyết
Đây tấc lòng son gửi cố nhân.

Sài Gòn
Cuối Xuân Tân Mùi  1991
Phạm Cây Trâm

Người ở lại, nhà thơ Thái Tâm với những lời cổ vũ tha thiết:

Bài họa 1
Gửi Cố Nhân

Bôn ba thương bạn gót hành nhân
Dằng dặc mây che dặm tử phần
Đất khách ngỡ ngàng sầu ngoại tộc
Tình quê khắc khoải xót lương dân
Tương tàn xương cốt Trường Sơn hận
Ân nghĩa tình giao tứ hải thân (1)
Đã nguyện đem thân lo nạn nước
Đường xa chi ngại bước phong trần
                        *
Đường xa chi ngại bước phong trần
Thiên nhất phương hề, vọng cố nhân
Gió xé biên cương gào phục quốc
Trăng soi cổ độ xót cô thần
Lạnh lùng tuyết giá cành xuân thụ
Man mác sương mờ bóng mộ vân (2)
Đòi đoạn tâm tư cơn quốc biến
Chẳng đâu là chỗ để an thân
                        *
Chẳng đâu là chỗ để an thân
Một bước sầu vương, nặng một cân
Tóc dựng người đi thề báo quốc
Gan sôi kẻ ở giận phi nhân
Giang sơn hoài vọng trang anh tuấn
Dân tộc điêu linh loạn tặc thần
Gió trót dật dờ buồn quá khứ
Tâm tư se sắt mỗi canh Dần.( 3)
                         *
Tâm tư se sắt mỗi canh Dần
Hừng hực quê hương lửa bạo Tần
Rải trắng thâm sơn xương chiến hữu
Loang hồng Đông hải máu thuyền nhân
Lệ tuôn theo nến nhòa bi sử
Máu chảy thành thơ gởi Quốc Dân
Đã quyết chung tay xoay vận nước
Dù cho mỏi gối chẳng chùn chân.
                     *
Dù cho mỏi gối chẳng chùn chân
“Nhựt nhựt tân rồi hựu nhựt tân”
Bốn bể dâng cao triều tự quyết
Năm châu siết chặt mối tình thân
Mài gươm Sát Đát, lòng dân ứng
Tung bút Bình Ngô, thế nước cần
Nhờ gió tha phương, trăng viễn xứ
Đem tâm sự gửi bạn hiền nhân.

(1)        Mượn ý câu:”Ân nghĩa quảng thi, nhân sanh hà xứ bất tương phùng”
(2)        Khi Lý Bạch về Vị Bắc, Đổ Phủ làm thơ gởi có hai câu: “Vị Bắc Xuân thiên thụ. Giang Nam nhật mộ vân”
(3)        “Nhất nhật chi kế tại ư Dần” 

 Sài Gòn tàn Đông Tân Mùi 1992
Thái Tâm

1, 2

Quân Sử Việt Nam (TOP)