Trang Điện-Ảnh - Đời Sống - Nghệ-Thuật - Văn-Học - Thơ Văn - Triết-Học

Nguyễn-Thái-Sơn | Chiến Tranh Chín Khúc Tưởng-Niệm

Lời thưa:Tôi viết Trường ca này trong khoảng một năm (cuối năm 2007 đến cuối năm 2008), bản thảo hoàn chỉnh được xin xuất bản ở các nhà xuất bản (theo thứ tự): 1/NXB Trẻ, 2/NXB Văn Hoá Sài Gòn, 3/NXB Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh, 4/NXB Lao Động, cả 4 nhà xuất bản này đều trả lại bản thảo, giải thích là “không thể in”, “không dám in”, “in thì…chết”. Cuối cùng, Chi nhánh NXB Văn Học tại Sài Gòn đồng ý cấp giấy phép, với điều kiện “phải sửa”.

Sách in ra, có một số dư luận chính: trên nhiều trang mạng ở nước ngoài: Dân Luận, Talawas, và một số trang Web, Blog khác:

Talawas, NhanQuyenChoVN, BaoMoi, 4Phuong, NhaVantphcm

chiến tranh chín khúc tưởng niệm

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Nhất

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Hai

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Ba

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Tư

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Năm

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Sáu

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Bảy

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Tám

Khúc Tưởng-Niệm Thứ Chín

Khúc thứ Năm

HÌNH NHƯ AI CŨNG KHỔ

“…Người Việt chẳng sợ ai 
chỉ sợ lẫn nhau

và sợ chính mình !...”

NHẰN VỎ TRẤU NUỐT HẠT GẠO

Đã mấy triệu năm
dòng điện ngủ vùi trong lưu tốc sông Xêsan sông Đà
dầu ứ đọng trong các địa tầng
dưới thềm lục địa
chủ Pháp cũ giám đốc Việt mới vét sạch sành sanh
những vỉa than lộ thiên Hồng Gai Cẩm Phả
chỉ còn than béo than non ăn ngầm
thăm thẳm đất sâu

những giống ngô nuốt vào bụng giấu trong búi tóc
mang về từ xứ người đã mấy trăm năm
gầy guộc thấp tè chen với cỏ gừng cỏ gấu
thóc lép mỏng nhân dày trấu
thoái hoá hai vụ chiêm mùa
thóc Ỏn, gạo Dự, nếp Quýt, tám Xoan dẻo ngọt thơm bùi
sàng sẩy mỗi sào dăm bảy thùng
nia thừa nong thiếu
gà ri nhẹ như trái dứa 
lợn Ỷ lợn Mường nhỉnh hơn đon lúa

dai dẳng chiến tranh suốt đời túng đói
câu ca buồn bao đời truyền lại
“tứ thời rau muống tứ thời tương”
đình miếu thấp le te 
chùa Một Cột nho nhỏ xinh xinh
“gánh” hát
“chiếu” chèo
chéo khăn
mụn vải
nước lọ cơm niêu ngô đèo khoai rãi…

da ếch bịt trống bầu khô làm đàn 
quạt mo gối nan
tương cà gia bản “vẩy cá lá rau”
chõng nứa giường tre một đời chồng vợ

râu tôm ruột bầu 
xuống bể mò cua lên rừng hái bứa
ngả vại tương bần 
trưa chấm sắn luộc tối trộn ngô bung
con mơ thịt vịt dầm tương
vợ thèm bánh đúc       
chén mắt trâu hạt mít chồng nhắp dè từng giọt
mật sắn rượu khoai

khi chó Laika cưỡi Tàu Phương Đông bay vào Vũ trụ
người quê tôi đau bụng vẫn chỉ nuốt gừng
nhức đầu xông ngải cứu cúc tần
bong gân quệt vôi
dập xương bó lá
thầy giáo làng thu tiền học bằng mẹt khoai, xâu cá

Mẹ chỉ đủ tiền mua dép lốp cho chị gái sang Phủ Lý học lớp ba
tôi vào lớp một
chân đất dẫm gai bồ quân 
tủi thân nằm ôm chó đá cổng đình 
nửa đêm Mẹ ra góc vườn ngồi khóc

tháng tám dốc bồ tháng ba giáp hạt
khói chỉ bay loãng tuếch trên mái bếp cuối ngày
nửa làng đi xin cả xóm ăn mày
trẻ trâu đói lả bẻ mía non
người lớn vặt trụi ngọn khoai lá đậu ngoài đồng

chết đuối - lặn xuống ao trộm cá
ngã gãy chân tay - trèo cây hái mít xanh
bần hàn cố đế túng quẫn thâm căn
vay mượn truyền đời nợ nần mãn kiếp
sợ hãi ngấm thịt xương
buồn đau hoà khí huyết… 

thiếu ăn nên thiếu máu                                 
ngồi xuống đứng lên choáng váng sa sẩm mặt mày
đói rỗng đầu hoa mắt run rẩy chân tay
bom đạn đi qua bão lụt đi qua xơ xác tiêu điều
đồng ruộng chiêm khê mùa thối
sân đình nước đọng à uôm ếch nhái
gạch Bát Tràng lát đường cậy bán từng viên

phòng khi thất bát
giàn bếp treo mươi túm khoai lang
đáy cót lúa dăm nồi
gạo trong ang vài đấu
sắn lát nửa nong ngô tẽ lưng bồ
ăn dè xẻn khoai chiêm thắc thỏm đợi lúa mùa 
cầu Trời lũ lụt đừng dâng bão dông chớ đổ !...

đeo đẳng mấy chục năm
ở Thế kỉ Hăm mốt vẫn không bỏ được thói quen 
mỗi khi gặp hột thóc lẫn trong bát cơm 
tôi nhằn vỏ trấu nuốt trôi hạt gạo

người đàn ông cuối cùng trong làng khoác lên mình áo lính
làng quê phố thị rặt con gái đàn bà
cõi nhân gian què quặt thê lương
đất nước có một thời hình như ai cũng khổ.

LÍNH NÔNG DÂN

Xứ sở lúa nước cá ruộng rau vườn
khi giặc dã lúc yên bình 
sung quân tuyển lính
quốc gia trông vào lực điền tráng đinh
thưa thớt người kẻ chợ

dấu Chân Lạp trên đôi tay chai sạn
chân Giao Chỉ bàn cuốc đen đúa to bè
gót chai rạn nẻ tứa máu tươi, ngón quặp ngón toè
mồ hôi dầu ướt đẫm vai u
da sần thịt bắp

chiến tranh chống ngoại xâm 
binh lính hai bên khác nhau tiếng nói
chiến thư - phiên dịch 
binh vận - thông ngôn

lính triều Lý đánh Tống, thời Trần chống Nguyên Mông
nghĩa quân Lam Sơn, tượng binh châu Diễn châu Hoan 
chém Liễu Thăng xua Mộc Thạnh
đuổi giặc Minh về  “quý quốc”

tử sĩ liệt sĩ được cúng tế hoa trái đèn nhang
bình đẳng ở miếu đền trường sinh trong sử sách
những người lính Việt xả thân giết giặc nhiều như cây rừng
trả xong thù nhà nợ nước
linh hồn siêu thoát nhẹ tênh…

lính Đàng Ngoài đánh lính Đàng Trong
lính Quang Trung chém giết lính Gia Long… 
người nghèo đâm chém người nghèo
nông dân giết nông dân 
đuổi được giặc ngoại bang lại cắn xé nhau
huynh đệ tương tàn 
“nồi da nấu thịt” !

lính nông phu thành thạo cuốc cày vụng về súng đạn
trứng chọi đá - đá trơ trứng vỡ
trứng của Mẹ Âu Cơ chọi nhau
tan ra nước, nát thành bụi thành tro

tay chém đứt chân răng nghiền nát lưỡi
những lính Việt bị giết
được tung hô ở miền này bị nguyền rủa ở vùng kia !
kể từ Trịnh - Nguyễn phân tranh
bao nhiêu người Việt chết vì người Việt ?

nội chiến - người Việt thắng trận huy hoàng
thảm bại cũng là người Việt Nam

có những “thời đại” khiến ta hãnh diện tự hào
ngẩng mặt đỏ bừng
ngóng mặt trời bừng đỏ tít tịt trên cao
phấn hứng căng da nở thịt

người Việt chẳng sợ ai 
chỉ sợ lẫn nhau
và sợ chính mình !

kháng chiến trường kì trận mạc liên miên
đời cha còn giặc đời con “nện” tiếp
đàn bà vắng chồng
không chồng - con gái
trẻ con không được sinh ra
ai cầm súng thay người chết trận ?

người Việt miền Bắc người Việt miền Nam
mấy chục năm chiến tranh 
mỗi ngày bao nhiêu đạn bom mấy ngàn người chết 
chết trận chết đói chết rét 
chết cô đơn cô quả buồn phiền
mỗi tuần trăng khuyết trăng tròn 
mỗi con nước dềnh nước cạn
hàng ngàn tráng đinh chết trận 
như lá tre trong bão bay vèo
sung rụng lấp cỏ gà, dạt ao bèo tấm
những người thoát chết suốt đời thương cảm
đêm Rằm não lòng mùng Một rưng rưng…

lê thê dằng dặc mấy chục năm 
Thập niên Bốn mươi
Thập niên Năm mươi
Thập kỈ Sáu mươi…
nước mắt dân Việt chảy bợt môi sạm má
máu người Việt tuôn nhão đất đai
xiêu cây nẻ đá

ta vượt qua những năm tháng nặng nề bi thương ấy
người trong cuộc cũng không ngờ 
đi qua chiến tranh 
như sa cành khế
leo rễ đa
hóc xương gà

chắt lọc từ cơm cà chuối xanh rau má 
máu trong mỗi thân xác người Việt nhiều nhặn gì đâu
liệu có chứa đầy qủa bầu khô chứa nước mưa
người thợ cày tu cạn vẫn chưa hết khát !

may mà Cha Rồng Mẹ Tiên xót thương
mười tám Vua Hùng lo sợ
Tứ bất tử Thánh nhân giật mình
truyền dạy con dân nước Việt biết cách kết thúc chiến tranh 
để còn người trẩy Phong Châu Giỗ Tổ tháng Ba
mở Hội Phủ Giầy dâng hương Đền Gióng
dựng tháp Báo Thiên sửa đền Bát Đế 
kết đàn hoa tế Biển thả đèn lửa cầu Trời…

nhưng ta thầm đau thầm tiếc
giá Cha Lạc Mẹ Âu 
mười tám Vua Hùng
Tiên liệt Tiền nhân
Rùa Vàng từng tặng vuốt chế Nỏ Thần
Long Vương cho mượn kiếm báu - Lam Sơn tụ Nghĩa…
sớm giúp con cháu thần dân nước Việt
tránh những thế kỉ đau thương
cứu mấy chục triệu người Việt Nam khỏi chết !
đừng để chiến tranh ập đến
nếu chiến tranh nhất định phải xảy ra
đừng bị đẩy đến tận cùng khốc liệt

nhưng với mỗi quốc gia với từng dân tộc
lấy gì đo đếm để biết chiến tranh nào là “nhanh” 
hoà bình nào là “chậm”
chiến tranh nào không thể không đối mặt
chiến tranh nào có thể tránh xa
cuộc chiến nào vì nước  
cuộc chiến nào “ta chiến thắng…ta?

chiến tranh lùi vào dĩ vãng 
ngày ngày ta vặn hỏi
đêm đêm tự trả lời
những cuộc thi vấn đáp lặng lẽ trong tim trong dạ
giám khảo
thí sinh
cũng chỉ một người

đuổi chuột chạy   
bình hoa vụn vỡ ?…

Quân Sử Việt Nam (TOP)