vietnam, viet nam, cờ việt nam,

Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch-Sử Quân-Sử Việt-Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa

Thần Việt Điện_Thập Bát Đại Thần Tướng Việt Nam thời cận đại 

quan su viet nam, quân sự việt nam, danh tưóng lịch sử  việt nam, 18 vị tướng thần lớn của việt nam thời cận đại

Thập Bát Đại Thần Tướng Việt Nam - thời cận đại

Điện Thần Việt tôn thờ chư tướng thần
Sinh ra là Tướng chết đi thành thần
Thế, Đông, Ân, Thanh, Đạt, Vinh, Thà, Phúc, Tùng, Thông, Hiếu, Long, Phú, Vỹ, Hai, Hưng, Nam, Cẩn
Ngàn năm sau ghi nhớ gương anh hào.

Trúc Lâm Lê An Bình sưu khảo; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính năm 2011; 10-2013; 01-2014; 09, 10-2014. (trích Thần Việt Điện tức Tân U Linh Việt Điện)

8/ Anh-hùng, tướng thần Nguyễn-xuân-Phúc (1946-1972)

nguyễn xuân phúc, trung tá nguyễn xuân phúc, thủy quân lục chiến việt nam cộng  hòa

Anh-hùng Nguyễn-xuân-Phúc sinh năm 1938 tại Phú Thọ, Hưng Yên, trong một gia đình giàu có, danh tiếng.

Di cư vào Nam năm 1954 cùng với gia đình, Nguyễn-xuân-Phúc  học ở trung học Chu-văn-An rồi đại học Khoa Học Sài Gòn. Tốt nghiệp bằng Toán Lý Hóa (chứng chỉ MPC), NXP tình nguyện gia nhập trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam khóa 16.

Cũng cần nói thêm trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam được tổng thống Ngô-đình-Diệm cải-tổ chương trình học 4 năm cho sinh viên sĩ quan tương tự như trường West Point của Hoa Kỳ. Mục đích lâu dài nhằm đào tạo những nhà lãnh đạo đất nước xuất sắc về cả hai mặt chính trị và quân sự.

Từ sau năm thứ nhất, Phúc đã trội hẳn các bạn đồng khóa về các mặt văn hóa, quân sự, do đó, được đề cử đảm trách chức vụ Sinh-viên Sĩ-quan Cán-bộ Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu-đoàn Sinh-viên Sĩ-quan.

Ra trường ngày 22-12-1962 với bậc Á khoa, Nguyễn-xuân-Phúc cùng 9 người bạn đồng khóa đều tình nguyện về phục vụ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến.

Chiến thắng đầu đời binh nghiệp là chiến thắng Đầm Dơi, đánh tan tiểu đoàn U-Minh của Việt cộng  (ngày 9, 10-09-1963) với chức vụ đại đội phó đại đội 3 dưới quyền đại đội trưởng Nguyễn-năng-Bảo, thuộc Tiểu đoàn 2 Trâu Điên TQLC, TĐT là  đại úy Nguyễn-thành-Yên.

Chiến dịch Lam Sơn 719, Thiếu tá Nguyễn-xuân-Phúc Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trâu Điên TQLC thuộc Lữ đoàn 258 TQLC đã làm kinh hồn táng đởm quân thù. Tuy nhiên, sự thao lược của TĐT Nguyễn-xuân-Phúc cũng như dũng cảm của các chiến sĩ cọp biển không bù đắp được sự thiếu thống nhất chỉ huy giữa các đơn vị lớn của QLVNCH hành quân trên chiến trường Hạ Lào.

Trên đường rút về hậu cứ Khe-Sanh, quân Trung cộng, Việt cộng xâm lược đã dùng chiến thuật biển người (sư đoàn 324) tấn công với mục đích chận đường về, tiêu diệt các chiến sĩ TQLC/VNCH.

Hơn 750 chiến sĩ TQLC cùng với TĐT Nguyễn-xuân-Phúc dũng cảm, gan dạ vượt qua vòng vây trùng trùng điệp điệp của địch quân. Thiếu tá Phúc đã gào lên trong hệ thống liên lạc Không Lục với Không quân Hải quân Mỹ ""I am Crazy Buffalo bataillon commander. Go ahead! Drop your bombs...!" - ngưng trích.

Nhìn cảnh mất mát của các binh sĩ dưới quyền cũng như các đơn vị bạn, trung tá Nguyễn-xuân-Phúc (được đặc cách vinh thăng tại mặt trận) đã có quyết tâm cải tổ quân đội từ trên xuống dưới để chiến thắng quân thù. Nguyễn-xuân-Phúc hãnh diện vỗ ngực nói rằng: "Một thằng tiểu-đoàn-trưởng Việt-cộng làm sao giỏi bằng tao được. Một tiểu-đoàn VC làm sao đánh lại tiểu-đoàn Trâu Điên của tao. Mẹ bố chúng nó chỉ có chết thôi." -ngưng trích- "ROBERT LỬA" Nguyễn Xuân Phúc, tác giả Trần Ngọc Toàn K16.

Con người của Robert Lửa Nguyễn-xuân-Phúc, bên ngoài, ồn ào, vui vẻ thích nhậu, náo nhiệt. Nhưng trong tận đáy lòng là cả một tấm lòng rộng lớn đối với quân đội và tổ quốc. Biệt hiệu Robert Lửa do một phóng viên báo chí lớp đàn em của NXP phong tặng cho Phúc từ năm 1972. Từ đó về sau, biệt hiệu Robert Lửa đã gắn liền với cái tên Nguyễn-xuân-Phúc.

Trong trận chiến cuối cùng, Trung tá Nguyễn-xuân-Phúc, lữ đoàn trưởng lữ đoàn 369 TQLC cùng với lữ đoàn phó Đỗ-hữu-Tùng vĩnh viễn ra đi để lại muôn ngàn thương tiếc cho gia đình, đồng đội và đồng bào khắp nơi.

Kể từ sau ngày 29-03-1975, là ngày Trung tá Nguyễn-xuân-Phúc trở thành người lính không bao giờ chết trong tâm khảm mọi người.

Trung tá Nguyễn-xuân-Phúc là một anh-hùng xuất chúng của QLVNCH, đồng thời là một bậc tướng thần thứ tám trong mười tám vị tướng thần lớn của Việt Nam thời cận đại.

Trúc-Lâm Nguyễn-việt phúc-Lộc

***

Sự tích, thần tích liên quan:

"ROBERT LỬA" Nguyễn Xuân Phúc

Trần Ngọc Toàn K16

nguyễn xuân phúc

Với mục tiêu tái lập an ninh lãnh thổ, những lực lượng xung kích của Miền Nam Việt Nam đã mở chiến dịch tràn qua địa phận Cao Miên, nằm sát ngã ba biên giới Việt-Miên-Lào, năm 1970, dưới quyền Tư-lệnh Hành-quân là Trung-tướng Đỗ Cao Trí, đương nhiệm Tư-lệnh Quân-đoàn 3. Tiểu-đoàn 2 Trâu Điên (TQLC) dưới quyền chỉ huy của Thiếu-tá Nguyễn Xuân Phúc, đã tung hoành ngang dọc trên lãnh thổ Miên suốt từ Neak Luong đến Prey Veng. Đơn vị đã tiêu diệt hàng trăm quân Việt-cộng đang trấn giữ vùng đất an toàn của chúng, tịch thu hàng trăm vũ khí nặng nhẹ và góp công phá hủy toàn bộ hậu-cần của địch trên địa giới của nước Cao Miên trung-lập dưới thời của nhà vua Sihanouk. Đây cũng  chính là một trạm tiếp-vận của Ha-nội với cảng Sihanouk ở vịnh Thái Lan và đường mòn Hồ Chí Minh nằm phía tây rặng núi Trường Sơn, dọc biên giới Lào-Việt. Từ mặt trận Kumpuchia trở về, chỉ một thời gian ngắn sau, Tiểu-đoàn 2 TQLC cùng với toàn bộ Sư-đoàn được không vận ra vùng địa đầu giới tuyến tham dự cuộc hàng quân Lam Sơn 719, năm 1971, bên kia biên giới Việt-Lào, với trục quốc lộ 9 từ Quảng Trị đâm thẳng sang Tchépone của đất Lào. Chiến dịch nhằm phá vỡ hậu-cần của địch và đường chuyển quân từ Miền Bắc vào Nam Việt Nam với đường ống dẫn dầu từ Trung Cộng tiếp tế cho đại pháo và chiến xa viện trợ của Nga Sô.

Ngoài sự bất lực của Tướng Tư-lệnh chiến trường cùng các bộ tham mưu các đại đơn vị tham chiến lần đầu tiên mở một cuộc hành quân cấp quân-đoàn, việc thống nhất chỉ huy cũng vô hiệu lực từ việc Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư-lệnh Quân-đoàn I, không đủ tư cách chỉ huy Tướng Lê Nguyên Khang của Sư-đoàn TQLC và Tướng Dư Quốc Đống của Sư-đoàn Nhảy Dù, đã đưa đến hậu quả tai hại gây tổn thất lớn cho quân đội trên đường rút quân trở về lãnh thổ sau khi đã phá vỡ toàn bộ hệ thống quân cụ, binh lính của Cộng-sản miền Bắc Việt Nam tại trạm tiếp-vận lớn này.

Tại Huế, trong cuộc diễn binh tưởng thưởng công lao các đơn vị tham chiến cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Lào, Thiếu-tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu-đoàn 2 TQLC đã được đặc cách thăng cấp Trung-tá tại mặt trận. Nhưng từ đây, vị trung-tá mới 28 tuổi đã từng lăn lộn trên khắp chiến trường nóng bỏng, từ Đầm Dơi, Cà mâu ra đến Đông Hà, Quảng Trị, vào sinh ra tử với hai lần chiến thương trên người, đã trở nên ưu tư và bừng bừng nộ khí xung thiên. Anh là biểu tượng của lớp thanh niên yêu nước của thế hệ trẻ đầu tiên trên mảnh đất của quốc gia Việt Nam lần đầu dành được độc lập, tự do và dân chủ, sau cả trăm năm thuộc địa Pháp được giáo dục bằng chương trình học tiếng Việt. Ngay chính trong cuộc hành quân qua Lào, trên đỉnh cao điểm 450, phía nam quốc lộ 9, bên kia thung lũng nổi tiếng Khe Sanh, là lực lượng đoạn hậu cho cuộc rút quân của Lữ-đoàn 258 TQLC, anh đã gào trên hệ thống máy liên lạc vô tuyến với không lực của hạm đội Hoa Kỳ: "I am Crazy Buffalo batalion commander. Go ahead! Drop your bombs...!"

nguyễn xuân phúc, khóa 16 trường võ bị quốc gia việt nam

Với chiến thuật biển người, Sư-đoàn 324 cộng-sản Bắc Việt đã xua quân tràn ngập lên cao điểm căn cứ hỏa lực yểm trợ hành quân, trong đêm tối, do Tiểu-đoàn Trâu Điên chống giữ tập hậu. "Robert Lửa" Nguyễn Xuân Phúc đã đích thân gọi vô tuyến cho máy bay dội bom xuống ngay trên đầu mình để tiêu diệt cộng quân bu quanh đông như kiến cỏ. Với ám hiệu một tay áo bỏ dài và một tay áo xăn cao, anh đã cùng cả tiểu-đoàn với hơn 750 quân sĩ mở đường máu, cận chiến với địch, trong bom đạn loé nổ không ngừng, rút quân về lại Khe Sanh trong đường tơ kẽ tóc, với cả ngàn quân thù bám sát như bầy thú dữ.

Anh đã trở về, không suy suyển nhưng đau lòng nhìn lại đoàn quân với bao nhiêu đàn em mất mát, ngã gục ở chiến trường. Từ đó, anh nuôi ý chí phải chấn chỉnh lại quân đội, từ dưới lên trên, để từ rày về sau, chỉ có thắng chứ nhất quyết không thể để thua nữa. Anh đã hãnh diện vỗ ngực nói: "Một thằng tiểu-đoàn-trưởng Việt-cộng làm sao giỏi bằng tao được. Một tiểu-đoàn VC làm sao đánh lại tiểu-đoàn Trâu Điên của tao. Mẹ bố chúng nó chỉ có chết thôi."

"Robert Lửa" đầu đàn Trâu Điên không bao giờ thua, dù Cộng-sản có treo giá sinh mạng của anh hàng triệu bạc. Anh chỉ hi sinh ngoài mặt trận, với đồng đội, anh em và chiến hữu, cho dân tộc và tổ-quốc.

Nguyễn Xuân Phúc sinh năm 1938 tại Phú Thọ, Hưng Yên, trong một gia đình vọng tộc danh thế, với nhiều anh chị em mà trong ấy có một người em trai đã cùng nhau tình nguyện vào Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà Lạt. Thân sinh là một kỹ sư tốt nghiệp từ Pháp về. Những năm hai anh em Phúc thụ huấn ở Trường Võ Bị, ông cụ là Giám-đốc Nha Địa-dư Quốc-gia tại Đà Lạt. Theo gia đình từ bắc di cư lánh nạn Cộng-sản vào Nam năm 1954, Phúc theo học ở trung học Chu Văn An rồi lên Đại-học Khoa-học Sai-gòn. Sau ngày lấy chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa), anh đã tình nguyện nhập học khóa 16 của Trường Võ Bị Quốc Gia, lúc ấy vừa cải tổ theo chương trình 4 năm đại học theo mẫu Trường West Point của Hoa Kỳ, dưới thời Tổng-thống Ngô Đình Diệm. Từ sau năm thứ nhất, anh đã nổi lên với thành tích cao cả về văn-hóa lẫn quân-sự và đảm nhiệm chức vụ Sinh-viên Sĩ-quan Cán-bộ Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu-đoàn Sinh-viên Sĩ-quan.

nguyễn xuân phúc

Vốn tính vui nhộn và cởi mở, anh tham gia vào các hoạt động của tuổi trẻ và vui vẻ đứng ra tổ chức trình diễn vũ điệu "Trấn Thủ Lưu Đồn" rất sống động khiến các bạn cùng khóa khó ai quên. Với óc khôi hài và vui tính, chính anh sau này khi hành quân dài ngày trên các mặt trận, đã tự sáng tác ra những bài hát theo điệu dân ca khiến bạn bè, đàn em, lính tráng ai nghe cũng cười đến chảy nước mắt. Sau năm 72, chiến thắng tái chiếm cổ thành Quảng Trị đã nảy sinh ra khúc ca "Cờ Bay" cũng được anh chuyển ngữ sang Anh ngữ để cười đùa với mấy người bạn chiến đấu Hoa Kỳ, như "Flag flies" cho "Cờ bay"... Mấy cố vấn Mỹ sau này lên tướng ở Hoa Kỳ vẫn vui vẻ nhắc nhở lại như một kỷ niệm khó quên. Từ những năm học tập trong trường Võ Bị, cuối năm 1959, với khí thể của một thế hệ thanh niên độc lập, tự do mới, Phúc tốt nghiệp Á-khoa khóa 16, rồi cùng 9 bạn đồng khóa tình nguyện về phục vụ trong binh chủng TQLC. Khác với trước đây, những sĩ quan tốt nghiệp hạng cao đã chọn về phục vụ ở các văn phòng tham mưu hoặc đơn vị yểm trợ, tiếp vận... Từ đó, không lúc nào, trong suốt hơn 10 năm chinh chiến, anh rời khỏi binh chủng chiến đấu dù hai lần bị thương ngoài mặt trận. Đầu năm 63, khi cùng 9 người bạn về trình diện tại Bộ-tư-lệnh TQLC, anh đã được bổ nhiệm về làm trung-đội-trưởng ở tiểu-đoàn 2 TQLC, theo thứ tự A,B,C của tên họ những tân sĩ quan của khóa, do quyết định của phòng nhân viên. Mở đầu cho binh nghiệp lẫy lừng về sau của Phúc là chiến thắng Đầm Dơi của tiểu-đoàn 2 TQLC với những vũ khí nặng tịch thu như đại bác 75 ly được cộng sản chuyển vận tiếp tế từ Hà-nội vào nam bằng đường biển.

Đầu năm 65, khi làm đại-đội-trưởng anh đã cùng đơn vị dưới quyền chỉ huy của Thiếu-tá Lê Hằng Minh, đã đánh tan tiểu đoàn cơ động của Việt-cộng ở Tam Quan, Bồng Sơn. Cuộc giáp chiến nửa đêm ác liệt và dữ dội đã khiến cho kẻ thù đã gọi đơn vị của anh là "trâu điên". Từ đó, Tiểu-đoàn 2 TQLC đã nổi danh với hổn danh Trâu Điên. Cuối năm 65, khi chuyển quân từ Huế ra tăng cường cho mặt trận Quảng Trị, là đại đội trưởng anh đã cùng cả tiểu đoàn Trâu Điên đã đánh một cuộc phản phục kích tuyệt vời hiếm có trong quân sử, cùng với lực lượng cơ động của TQLC Hoa Kỳ trú đóng gần đó, đã tiêu diệt cả trung đoàn Việt-cộng địa phương, dù vị tiểu-đoàn-trưởng đã xả thân đền nợ nước. Chính Phúc cũng bị trúng đạn xuyên qua ngực phải và chỉ chịu tản thương sau khi quân ta đã làm chủ chiến trường.

Năm 68, từ mặt trận Miền Tây, Phúc đã cùng tiểu-đoàn Trâu Điên được trực thăng vận về giải tỏa cứu nguy Bộ Tổng Tham Mưu, rồi đánh đuổi địch quân ra tận Thành Cổ Loa, Gò Vấp, và chuyển quân sang tiêu diệt Cộng quân xâm nhập vào Chợ Lớn từ đường Hậu Giang đuổi ra Bà Hom, Bình Chánh.

nguyễn xuân phúc

Từ cấp bậc trung-úy lên đến trung-tá, anh đều được đặc cách thăng cấp ngoài mặt trận. Ngoài 16 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu tích lũy từ các công trận lập nên từ hàng trung đội trưởng lên đến lữ đoàn trưởng, vào năm 74, anh còn được ân thưởng 2 Chiến Thương Bội Tinh và Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Về phía Hoa Kỳ, anh còn được tặng thưởng một Silver Star và hai Bronze Star với huy hiệu chữ  "V" dành cho chiến công lập ngoài mặt trận. Anh vẫn thường chỉ ngón tay lên tấm chiến thương bội tinh với hai ngôi sao đỏ mang trên ngực áo, nói đùa: "Chỉ có cái này là không thằng nào dám làm lèo. Còn lại tụi nó mang lèo nhiều quá nên tao không thèm đeo những huy chương khác nữa."  Phúc tuy là người học giỏi với trình độ đại học khoa học, nhất là môn toán, nhưng lại là người chí tình chí cốt với bạn bè, đồng đội và đàn em. Lúc nào cũng chỉ mày với tao, nhưng khi anh đổi giọng xưng hô có nghĩa là tình bạn, anh em đã chấm dứt. Anh không bao giờ nịnh bợ cấp trên, chà đạp đổ lỗi cho cấp dưới. Luôn hết lòng nâng đỡ dẫn dắt đàn em. Vốn tính trung trực, bình dị và liêm khiết, suốt bao năm chỉ huy đơn vị vốn tự trị về tài chánh và tiếp liệu, anh không có gì ngoài thân với mấy bộ chiến phục rằn ri xếp trong hòm gỗ làm bằng thùng vỏ đựng đạn pháo-binh phế thải cho đến ngày cuối đời. Là một người lính chiến kiệt xuất uy dũng nhưng cũng đầy mưu lược và giỏi phán đoán, nhạy bén với mọi tình huống ngoài chiến trường, anh đã tạo lập nên nhiều chiến công hiển hách được ghi vào quân sử Miền Nam Việt Nam như những chuyện thần kỳ truyền khẩu. Người anh hùng có một không hai này đã một lòng một dạ với quân đội. Từ đó, đã nổi trôi theo dòng sinh mệnh của Tổ-quốc. Lúc đứng đã đứng đầy dũng liệt làm cho quân thù khiếp sợ thất kinh hồn tán, lúc nằm xuống cũng bi hùng hoành tráng như một chiến sĩ da ngựa bọc thây, giữa đồng đội, bạn bè và đàn em thân thiết, giữa cảnh tang thương máu đổ thịt rơi của đồng bào và đất nước quê hương. "Robert Lửa" là hỗn danh do một người khóa đàn em Võ Bị làm phóng sự chiến trường năm 72 đã đặt cho, nay đã gắn liền với tên tuổi của anh. "Robert Lửa" Nguyễn Xuân Phúc sẽ còn sống mãi trong lòng bạn bè, đồng đội, chiến hữu và đồng bào ruột thịt ở Miền Nam.

di tản tháng 03-1975

Trong cuộc di tản chiến thuật, tại Đà Nẵng, sáng ngày 29 tháng 3 năm 75, anh đã cùng Trung-tá Đỗ Hữu Tùng, vừa là Lữ-đoàn-phó và là bạn cùng khóa Võ Bị, lên chiếc trực thăng của Không-quân Việt-nam tại phi trường Đà Nẵng, trong cảnh hỗn loạn binh biến, dưới đạn pháo 130 ly của Cộng-sản miền Bắc từ đỉnh đèo Hải Vân bắn xuống, đã bị trúng đạn địch rơi xuống tử thương sau khi đã điều động cả lữ-đoàn rút quân an toàn về căn cứ Non Nước với lòng tràn đầy phẫn uất vì không đánh mà chỉ lui quân. Xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Người chiến binh dày dạn lửa đạn luôn sổng lưng đứng thẳng một mất một còn với quân thù sẽ không bao giờ chịu hèn chịu nhục.

"Thà chết vinh còn hơn sống nhục" (Trần Bình Trọng). Xin hãy thắp lên một nén hương với lời cầu nguyện anh linh của người hào kiệt "hãy dẫn lối đưa đường" cho anh em chúng tôi. Xin tất cả hãy bình tâm để tưởng niệm một vị anh hùng xuất chúng.

Trần Ngọc Toàn K16

http://www.k16vbqgvn.org/robertlua-nxp.htm

***

Người Lính TQLC

nguyễn xuân phúc

Quốc Gia hưng vong

thất phu hữu trách

 (Tục ngữ)

Ngọc Thủy

Từ khi còn cắp sách dưới mái trường Nguyễn Trãi ở Hà Nội, cậu học trò Nguyễn Xuân Phúc đã sớm hiểu được những sự đau thương và kinh hoàng của cuộc chiến tranh đang diễn ra càng lúc càng khốc liệt vào những thời điểm sôi bỏng (1945-1954). Sống và lớn lên trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, lòng ai không khỏi sục sôi trước những chủ tâm cai trị của ngoại bang. Hơn nữa, sự tranh đấu, hy sinh, ái quốc của các nhà chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.v.v... là tấm gương sáng chiếu rọi vào tâm hồn, nuôi dưỡng thêm những hoài bão, khát khao lòng yêu nước của các thanh niên thời đại ấy.

 Những ngày khói lửa trong giai đoạn chiến tranh bấy giờ kéo dài cho đến khi Hiệp định Genève được ký kết (ngày 20 tháng 7 năm 1954), chia đôi đất nước hai miền Nam & Bắc, tách rời từ đấy.

 Theo làn sóng hằng triệu người yêu chuộng Tự Do, trong đó có gia đình cậu học trò Nguyễn Xuân Phúc đã quyết định rời bỏ tất cả cơ ngơi, ngược giòng vĩ tuyến 17 để vào Nam.

 Lúc đó không còn là chiến tranh với ngoại xâm nữa mà là cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc với hai chủ thể Quốc Gia và Cộng Sản. Trong khi miền Nam với chính thể Việt Nam Cộng Hòa đang cố gắng kiến tạo đời sống người dân được ấm no thịnh vượng, nử lực xây dựng đất nước tới chử phát triển phú cường thì cộng sản Bắc Việt xiết chặt đời sống dân chúng trong sự kềm kẹp hà khắc, lén lút vi phạm hiệp định, bất chấp đời sống an dân bằng những thủ đoạn dã tâm và đê hèn với mục tiêu xâm chiếm luôn lãnh thổ miền Nam. Trước những âm mưu tiếp tục bạo ngược, cố tình gây cảnh tang thương cho dân lành vô tội, khiến núi sông cũng phải chuyển mình đau lên tiếng giục. Lớp lớp người trai đã nối bước lên đường theo tiếng gọi non sông. Bút nghiên đành gác lại hẹn ngày về khi đất nước yên vui, bởi quân tham tàn còn nhiễu nhương bờ cõi, chí làm trai sao có thể lặng im.

 Dù thân phụ đang là công chức cao cấp, lại là học sinh khá với những năm cuối trung học Chu Văn An, có đủ điều kiện đi du học hoặc tiếp tục việc học hành lên cao. Nhưng với hoài bão lý tưởng ấp ủ từ lâu, Nguyễn Xuân Phúc đã cùng với người em trai kế là Nguyễn Phú Thọ quyết định ghi danh vào trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam để thỏa chí tang bồng, đáp đền ân nợ Núi Sông. Gia nhập khóa 16 Võ Bị vào tháng 11 năm 1959, được đào tạo thêm kiến thức và nhân cách của một sĩ quan chỉ huy tương lai bằng kỷ luật rất nghiêm nhặt. Ngôi trường Mẹ đón nhận những người trai tám hướng về đây hun đúc chí can trường, tôi luyện thành những người chiến sĩ hùng anh dũng cảm, sẳn sàng phục vụ cho đồng bào-tổ quốc thân yêu. Từ những ngày đầu nhập khoá với tất cả sự nao nức sớm được thi hành nghĩa vụ bởi bên ngoài chiến dịch Ấp Chiến Lược do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ban hành đang được phát động quy mô rộng rãi để bảo vệ an ninh cho đời sống dân lành và kiểm soát chặt chẽ hơn sự xâm nhập của cộng quân đang tìm đủ mọi cách gia tăng.

 Những ngày tháng rèn luyện về quân sự, đạo đức và văn hóa ở quân trường Võ Bị rồi cũng qua nhanh. Những buổi sáng còn mờ mịt hơi sương lạnh buốt, che lấp cả mặt hồ Chi Lăng không phân biệt được đâu là làn nước trong đâu là mầu khói trắng sương mù. Ðến những buổi trưa lấp lánh hàng thông xanh dưới tia nắng mặt trời, dậy thơm mùi đất cao nguyên như nhựa sống những chàng trai đang căng tràn chí lớn. Cho đến những buổi chiều rơi, từ lưng đồi 1515, ngắm cảnh hoàng hôn tựa tấm voan mềm, mỏng nhẹ như tơ, dần phủ buông xuống khắp núi đồi mầu lam tím nhạt, rừng thông lao xao, đưa hương tỏa ngát nhớ nhung ngập hồn người. Ðỉnh Lâm Viên vời vợi ánh trăng khuya, bình yên như giấc ngủ của những người khóa sinh sau một ngày tắm đẫm mồ hôi kiên trì thao dợt. Ðể ngày mai tới, huy hoàng trong ánh sáng bình minh, ngọn núi sừng sửng hơn hai ngàn cao độ ấy sẽ đón nhận những bước chân đi chinh phục của những chàng sinh viên tuổi trẻ. Tuổi trẻ ắp đầy lý tưởng đẹp ngời như câu khẩu hiệu hằng ngày: "Chúng tôi không tìm an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm" với điều tiên quyết để nhận lãnh, đó là Trách Nhiệm-Danh Dự-Tổ Quốc của người sinh viên sĩ quan Võ Bị Ðà Lạt.

 Trong những ngày dưới mái trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam danh tiếng lẫy lừng khắp Ðông Nam Á, Nguyễn Xuân Phúc là một sinh viên sĩ quan ưu tú, luôn giữ gìn tác phong tốt làm gương cho các khóa đàn em. Khi đảm nhận chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng/Tiểu Ðoàn 2 của Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ Quan trông coi bốn đại đội gồm các khóa 16,17, 18, anh đã chứng tỏ được bản lĩnh của người chỉ huy hấp thụ được mọi mặt về văn hoá và đạo đức, lúc nào cũng nêu cao tinh thần tự giác và kỷ luật nghiêm minh. Với vóc dáng tầm thước, nhưng các bạn sinh viên sĩ quan đều nhớ tiếng nói của anh rất hùng hồn mạnh mẽ khi ra lệnh, giọng dõng dạc vững vàng khi hô to các khẩu hiệu trong mửi lần tập huấn. Ngoài tác phong quân kỷ kể trên, Nguyễn Xuân Phúc còn được các anh em thương mến ở đức tính hòa nhã, tận tình hướng dẫn, sẳn sàng chia xẻ cùng các sinh viên khóa sinh trong tình huynh đệ chi binh. Trong những lần các khóa đàn em phải ứng chiến, cắm trại, Nguyễn Xuân Phúc cùng ở lại chia xẻ vì anh không muốn hưởng riêng đặc quyền được miễn của một SVSQ cán bộ. Ðó là những nét chính mà phong cách bên ngoài của anh lúc nào cũng biểu hiện là một cán bộ sĩ quan gương mẫu, từ quân phục thẳng nếp, đai nịt gọn gàng đến dáng điệu đường hoàng chững chạc, cung cách khiêm tốn, thái độ thân thiện vui vẻ, cư xử với trên dưới đều phân minh, tử tế.

trường võ bị quốc gia việt nam

Ngày tốt nghiệp, sinh viên sĩ quan Á Khoa Nguyễn Xuân Phúc ra trường Võ Bị Việt Nam (đậu hạng Ưu về văn hóa và quân sự) với cấp bậc Thiếu Úy trong buổi lễ mãn khoá vào ngày 22 tháng 12 năm 1962. Từ giã ngôi trường Mẹ thân yêu nằm bề thế rộng đẹp trên ngọn đồi 1515 với rừng thông xanh ngát quanh năm, ôm quyện làn sương trắng mỏng phủ mờ thơ mộng mà anh đã gắn bó với hơn ba năm dài học tập với bao niềm lưu luyến. Từ đây anh sẽ là cánh chim tung bay khắp hướng. Mộng sơn hà trị giặc an dân được vung kiếm, vẫy vùng. Chí cả bay cao như ngày nào anh vượt qua được những chông gai hiểm trở của núi rừng, đứng ngạo nghễ trên ngọn núi Lâm Viên (còn gọi là núi Lang Biang, cách thành phố Ðà Lạt khoảng mười hai cây số về phía Bắc) cao 2163 thước. Từ chiến thắng chinh phục được ngọn núi này đã tạo bước chân những người sinh viên sĩ quan thành chân cứng cho đá mềm trên khắp bốn vùng chiến thuật mai sau.

Làm trai cho đáng nên trai

Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan

 Với ước mộng như lời tiền nhân: "Làm trai cho đáng nên trai. Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan", Nguyễn Xuân Phúc chọn binh chủng Thủy Quân Lục Chiến và tình nguyện xin đi tác chiến, đáp ứng với tình hình chiến sự đang gia tăng sôi bỏng.

 Sau khi về trình diện Bộ Tư Lệnh Liên Ðoàn TQLC, đầu năm 1963, thiếu úy Nguyễn Xuân Phúc được thuyên chuyển về Tiểu Ðoàn 2 TQLC đang đóng quân tại Cà Mau-An Xuyên với chiến dịch Sóng Tình Thương để yểm trợ an ninh cho các khu ấp chiến lược đang được xây dựng, cùng tiếp tay trong sự ngăn chận đường len lỏi của quân du kích, chở vũ khí xâm nhập vào Nam của cộng sản Bắc Việt qua ven biển Cà Mau.

 Sau khi trình diện Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 là Ðại úy Nguyễn Thành Yên, thiếu úy Nguyễn Xuân Phúc được bổ nhiệm làm Ðại đội phó Ðại đội 3 dưới quyền của Trung úy Ðại đội trưởng Nguyễn Năng Bảo.

 Ðời lính chiến đây đó mười phương, ngày nào anh chỉ nghe nói về những nẻo dường Việt Nam trải dài suốt từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau. Thế là giờ đây anh đã có mặt ở khắp Cà Mau, Ðầm Dơi, Năm Căn.v.v... Ôi quê hương miền Nam trù phú nhưng bởi còn nhiễu nhương giặc Cộng nên mảnh đất đầm lầy này còn hẻo lánh hoang vu. Hương hoa rừng Tràm, gử, than rừng Ðước là những tài nguyên hiếm quý vẫn chưa được khai thác tới nơi. Cà Mau nước mặn, rạch, kinh có tôm cá ngập đầy nhưng dân làng còn hoang sơ thưa thớt bởi quân cộng còn hoạt động khá mạnh ở vùng đất này, dùng địa thế chi chít kinh rạch, rừng cây để làm địa bàn tấn công phá hoại các đồn bót, ngăn chận sự củng cố quân sự, phát triển cải cách đồng ruộng nơi đây của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa.

 Như âm mưu phá hoại đã dự định, tối ngày 9/9/1963 Việt cộng kéo quân bất ngờ đánh úp vào chi khu Cái Nước, gây tổn thất khá nặng nề cho chi khu này. Và cũng ngay trong đêm đó, Tiểu đoàn U Minh của Việt cộng tiếp tục dùng xuồng và đường bộ tiến thẳng vào chi khu Ðầm Dơi để tấn công (Cái Nước và Ðầm Dơi cách nhau khoảng gần hai mươi cây số đường chim bay). Trong vài giờ đồng hồ, địch quân đã chiếm được một nửa chi khu, quận trưởng Ðầm Dơi bị tử thương, những người lính Ðịa phương quân đang cố gắng chống trả cố giữ nửa phần đất còn lại. Tiểu Ðoàn 2/TQLC liền được Bộ Tư Lệnh Hành Quân Quân Ðoàn IV đặt căn cứ tại An Xuyên do Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao điều động có mặt để giải vây. Bằng trực thăng H-21, các đại đội của Tiểu đoàn 2/TQLC đổ quân xuống cách khoảng từng đợt một:

- Ðại Ðội1 do Trung Úy Phạm Nhã chỉ huy đổ xuống gần quận.

- Bộ chỉ huy Tiểu Ðoàn do Ðại Úy Nguyễn Thành Yên và Ðại Ðội Trưởng Tiểu Ðoàn 2 là Ðại Úy Nguyễn Văn Hay đáp xuống bãi Charlie ở địa điểm kế.

- Ðại Ðội 4 do Trung Úy Ngô Văn Ðịnh chỉ huy đáp xuống bãi Alpha cách quận ba cây số về phía đông nam.

- Ðại đội 3 của Trung Úy Nguyễn Năng Bảo (Ðại Ðội Trưởng) và Thiếu Úy Nguyễn Xuân Phúc (Ðại Ðội Phó) đổ quân xuống ngay sát bờ sông là lực lượng Việt Cộng đang tập trung.

 Nguyễn Xuân Phúc và các anh em đồng đội được trực thăng vận xuống cánh đồng ruộng cằn cửi như mầu cỏ cháy. Nơi đây thiếu mầu mỡ phì nhiêu nhưng không thiếu những hố đạn bom vẫn ngày đêm cày xéo. Buổi chiều chưa tắt nắng nhưng bầu trời như nhuốm mầu u uất thê lương. Dân làng đã bỏ chạy mong lánh nạn giao tranh. Họ trốn chui trốn nhủi ở những bụi bờ, khóc không thành tiếng, sợ hãi đến quên cả cầu đến Chúa, Phật, Trời mà chẳng biết có qua được cơn lửa đạn này không?! Có sống được về làng thì cũng hai bàn tay trắng như đã bao lần khổ sở trước. Người thân ruột thịt có khi cũng chẳng còn. Nhà cửa, heo, gà, rau cỏ bị cày xới, cháy rụi thiêu tàn hết rồi còn đâu. Ðời sống quá gian lao đói khổ rồi mà giặc Cộng sao vẫn chẳng buông tha. Chỉ biết đánh, giết, chiếm miễn sao đạt được tham vọng xâm lăng. Ðất nước có điêu linh, dân lành có đổ máu đến bao nhiêu họ có xá kể gì. Ðời dân nghèo sống dở chết dở như thế này cho tới bao giờ...? Thương đau biết mấy cho vừa, quê hương ơi!

 Những người lính TQLC của Ðại Ðội 3 lội trên cánh đồng ruộng ngập nước đến đầu gối, địa thế quá trống trải để lấy tư thế nấp bắn. Ðịch ở phía bờ sông bên trong đang bắn ra tua tủa. Phi pháo hoả lực yểm trợ cho quân ta lại ở ngoài tầm độ. Tình thế thật nguy hiểm, dễ trở thành bia đạn nhắm tới nếu không kịp xông vào khóa các ổ bắn của địch. Là lính vừa mới ra trường chưa được bao lâu, lần đầu tiên T/U Nguyễn Xuân Phúc đụng một trận cận chiến toé lửa lại bất lợi như thế này, đại đội chết dễ như chơi. Tính thế nào đây? Bọn giặc kia khát máu quá. Cảnh chết thê thảm của đồng đội, oan ức của người dân như con dao nhọn xoẹt qua lòng anh. Nửi căm hận như ánh thép vừa đốt nung lên, mắt anh loé lên những tia sáng như lửa. Nhất định phải đánh cho tan những dã tâm khát máu đê hèn này. Anh phải khởi sự ngay thôi. Những năm được đào tạo về chỉ huy và quân sự cộng thêm sự dũng cảm, bén nhạy, Nguyễn Xuân Phúc đã mau chóng nghĩ ra một chiến thuật chớp nhoáng như tung đi cú đánh thần tốc, tuy có phần liều lĩnh nhưng trước sự sống chết như đường tơ kẻ tóc của đơn vị, anh không ngại ngần là kẻ xung phong vượt qua lửa đạn, quyết tiến chiếm cho được vị thế đổi lật tình hình trận chiến. Anh luôn là kẻ đi đầu bất cứ trong tình huống nào, bởi chỉ có hành động của chính mình mới có thể là câu nói hùng hồn, xác đáng với người nghe. Anh lao nhanh như gió bão khiến những viên đạn như chưa bắn tới đã rơi. Hành động của anh là ngọn lửa truyền đi, cả đại đội như cháy bừng lên sức chiến đấu mãnh liệt. Họ cũng lao đi như tên bắn. Giặc đốt phá quê hương, hãm hại dân lành thì ta đâu thể nương tay. Ðánh giặc phải đánh tới cùng. Chốn sa trường há gì mũi đạn lằn tên. Giặc còn là đồng bào mình còn lầm than đau khổ. Phải diệt được giặc nước nhà mới được thái bình yên vui. Xung phong. Anh em ơi, xung phong. Tiếng hò reo xung phong vang dội dọc cả bờ sông sắp rút nước theo thủy triều đang hạ. Trước khí thế như vũ bão của những người lính Thủy Quân Lục Chiến thuộc Tiểu Ðoàn 2, VC kinh hoàng vứt bỏ súng ống, vượt sông tháo chạy qua phía bên kia bờ.

tiểu đoàn 2 trâu điên thủy quân lục chiến

Tiếng súng dần thưa thớt rồi ngưng hẳn. Trời đêm đã dịu đi cơn nóng như đã dịu đi những nòng đạn lửa xối xả bắn ra từ cả hai bên. Mùi tử khí trên những xác người chưa kịp dấy nồng. Chỉ còn lại mùi khét của súng và tiếng reo mừng chiến thắng. Cuộc tấn công của VC đã kết thúc, không chiếm được mục tiêu như đã định. Tiểu Ðoàn 2 cũng tổn thất một số binh lính, nhất là Ðại Ðội 3 đã hy sinh khá nhiều. Nhưng bù lại Tiểu Ðoàn 2 đã đánh tan được Tiểu Ðoàn U Minh, chặn đứng được âm mưu phá hoại và tịch thu được rất nhiều đạn dược, súng lớn của Việt cộng.

 Vui mừng với chiến công mà mình đã góp phần để dành lại đời sống yên ấm cho người dân hiền. Nhưng lòng người lính Nguyễn Xuân Phúc cũng không thể tránh được nửi buồn đau ghê gớm trước cái chết thảm khốc của những người chiến hữu chung đơn vị trong trận đánh vừa qua. Dẫu vẫn biết rằng đã xông pha ra sa trường là người lính đã chấp nhận tử sinh... Xưa nay, vẫn hiểu lời cổ nhân: "Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Có mấy ai đi đánh giặc biết được ngày trở về. Chỉ cố làm tròn nghĩa vụ người trai trong thời đất nước ngả nghiêng để giữ gìn bảo vệ đồng bào tổ quốc thân yêu.

 Thôi đành mượn đến ly rượu đầy rót cho đến cạn trong đêm nay để gởi những giọt nồng cay này đến bạn bè anh em đã cùng chia xẻ gian nguy mà chẳng sống còn để cùng hưởng chút vui say. Thôi, hãy say đi để khóc bạn bè cho hả. Say đi để thấy đường gian nan trước mặt không hề nản chí bước chân người lính trận. Say đi, kìa tiếng gọi Non Sông đang rền vang tiếng thét sục sôi, những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ơi, hãy giữ gìn, chống đỡ quê hương thoát khỏi bàn tay đốt phá giang sơn. Say đi để hào khí những người thanh niên đất Việt bừng bừng lên như ngọn lửa quyết xả thân tạo hòa bình cho đất nước yên vui. Ly rượu đã rót tràn để mời anh, mời bạn, mời em. Tràn như tình yêu của những người con dành cho Tổ Quốc, cay nồng như nửi đau xé lòng của Mẹ ôm từng mảnh đất phân ly, lau giòng máu chảy như đã thành sông...

 Ðêm lạnh đã tàn, chai rượu cạn cùng với bạn bè cũng đã vỡ tan. Người sống nhắc đến người chết cũng đã mòn hơi. Nhìn những ánh sao lấp lánh lưng trời, đêm nay có vì sao nào đã rụng... Nhìn trời nhìn sao, một phút giây nhìn sững lại mình, người Thiếu Úy trẻ Nguyễn Xuân Phúc bửng khóc như chưa bao giờ khóc thế! Nước Non ơi...!

 Trận chiến Ðầm Dơi là một chiến thắng vẻ vang của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung và của Tiểu Ðoàn 2 TQLC tại vùng IV nói riêng. Cả Tiểu Ðoàn 2 đã được tưởng thưởng nhiều huy chương cao quý của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa và Quân Ðội Hoa Kỳ trong năm 1963. Tư Lệnh Liên Ðoàn TQLC Lê Nguyên Khang xuống tận mặt trận Ðầm Dơi ngợi khen và thăm hỏi các chiến sĩ. Trận thư hùng này đã đi vào quân sử Việt Nam Cộng Hòa với những trang hùng tráng nhất sau ngày hiệp định Genève (1954).

Lưỡi dao ta đang sắc

Ngọn giáo giặc phải lùi

 (Nguyễn Trãi)

 Cũng qua trận tham chiến lớn đầu tay của Nguyễn Xuân Phúc ở Ðầm Dơi, thượng cấp và anh em đồng đội đã biết được sự gan dạ quả cảm cùng khả năng chiến trường nhạy bén của Nguyễn Xuân Phúc như thế nào nên càng tin tưởng và quý mến thêm.

 Bấy giờ, Nguyễn Xuân Phúc không còn là một cán bộ SVSQ Ðà Lạt lúc nào cũng áo quần thẳng nếp, giày, đai bóng loáng nữa mà qua những cuộc hành quân liên tiếp, Thiếu Úy Nguyễn Xuân Phúc giờ đây đã sạm đen nắng cháy sa trường trong bộ áo trận bạc màu sương gió, dấu giày dây vết bùn dơ nơi đầm rừng lau lách.

 Tình hình chiến sự vẫn sôi bỏng khắp nơi, những người lính tác chiến vẫn miệt mài sương gió, đi hết cuộc hành quân này lại có mặt ở các trận chiến kia như cơn sóng cuốn, sáng ở đầu ghềnh, chiều đã chân mây... lớp lớp phủ dồn, ra khơi!

 Tháng 6 năm 1966, trong lần hành quân ra Huế, Ðại Úy Nguyễn Xuân Phúc lúc bấy giờ là Ðại Ðội Trưởng/Ðại Ðội 4 của Tiểu Ðoàn 2/TQLC đã cùng Tiểu Ðoàn đánh một trận nhớ đời ở đoạn cầu Phò Trạch-Phong Ðiền trên dọc đường số I vì đã lật ngược được thế cờ, tạo thành trận phản phục kích thật lẫy lừng do vị Tiểu Ðoàn Trưởng là Trung Tá Lê Hằng Minh chỉ huy. Giặc Cộng đã thua to sau vài giờ giao chiến đã phải chém vè chạy thoát về phía núi, bỏ lại nhiều súng cối, SKZ 57 ly và đại bác 75 ly... Nhưng quân ta đã phải trả một giá quá đắt, đó là sự hy sinh của vị chỉ huy Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên/TQLC Lê Hằng Minh cùng một số chiến hữu khác, đã vĩnh viễn nằm xuống trên mảnh đất khói lửa Trị-Thiên.

 Riêng Ð/U Nguyễn Xuân Phúc cũng bị thương trong trận phản phục kích oanh liệt này.

 Sau đó Ðại Úy Ngô Văn Ðịnh về làm Tiểu Ðoàn Trưởng/Tiểu Ðoàn 2 và Ðại Úy Nguyễn Xuân Phúc làm Tiểu Ðoàn Phó thay cho Ðại Úy Nguyễn Văn Hay (chuyển về phòng thanh tra Sư Ðoàn). Người lính Nguyễn Xuân Phúc vẫn tiếp tục chiến đấu, luôn đặt danh dự của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lên hàng đầu, thanh liêm thẳng thắn, tôn trọng kỷ luật và chu toàn trách nhiệm đối với đơn vị thật nhiệt tình hăng say, lúc nào cũng chí tình đối với anh em chiến hữu bằng tinh thần đồng đội nên anh được mọi người từ thượng cấp đến thuộc cấp rất thương mến nể vì.

 Nguyễn Xuân Phúc khi ra trận luôn chiến đấu dũng cảm, quyết định nhanh và táo bạo. Tánh tình bộc trực nhưng rất tốt rất hiền với các chiến hữu của mình và thật dữ dội khi đối mặt với quân thù. Vì thế anh được các đàn em và bạn hữu thương mến đặt biệt danh cho anh là Robert Lửa. Lửa của cương trực, của khí thế đanh thép, bừng bừng.

quân sử việt nam, tiểu đoàn 2 trâu điên thủy quân lục chiến, nguyễn xuân phúc

Nhưng bên trong con người cương nghị ấy lại ẩn chứa một tâm hồn mẫn cảm, yêu mến cái đẹp cái hùng, thích hát hò hay đóng vai Trấn Thủ Lưu Ðồn mỗi khi có dịp vui chơi văn nghệ từ những năm trung học hoặc sau những giờ phút hành quân căng thẳng gian lao. Là người hào sảng, đối với bạn bè là cho đi tất cả, ngay khi cần phải dốc đến đồng bạc cuối cùng trong túi cũng chẳng tiếc, chẳng màng. Anh cũng là người con chí hiếu trong gia đình lễ giáo có chín anh chị em. Rất trọng kính bố mẹ, nhưng có lần anh cảm thấy mình có lỗi, bất hiếu vì đặt tình nước trên tình nhà khi dấu gia đình âm thầm ghi danh vào trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Nhưng thân phụ và thân mẫu anh là người hiểu biết đức độ nên dẫu xót thương con vẫn phải nén lòng chấp nhận, thông cảm và khuyến khích khi hai người con trai rời nhà cùng một lúc, đi làm lính trận miền xa, chẳng biết đến ngày về.

 Rồi Nguyễn Xuân Phúc được đi học khóa Tham Mưu ở Ðà Lạt, khi về làm Tiểu Ðoàn Phó/Tiểu Ðoàn 5 TQLC. Và thời gian này, anh cũng đã tham gia trận đánh Rạch Ruộng vào cuối năm 1967 khi Tiểu Ðoàn 5 được tăng cường để phối hợp với Sư Ðoàn 9 Bộ Binh Hoa Kỳ & Lực Lượng Sông Ngòi HK đặt căn cứ tại Ðồng Tâm để mở cuộc hành quân tiêu diệt các ổ đóng quân của Việt cộng dọc theo phía bắc khu vực sông Mỹ Tho. Ðoàn quân được lệnh di chuyển bằng tàu lúc gần sáng để tiến vào Rạch Ruộng là nơi ẩn trú của Tiểu Ðoàn 502 VC. Dọc đường bị VC phục kích làm một chiếc tàu LCM bị thiệt hại. Sự việc xẩy ra khiến đoàn quân sục sôi thêm. Tiểu Ðoàn Trưởng/TÐ 5 TQLC là Thiếu Tá Phạm Nhã yêu cầu cố vấn Mỹ cho vượt qua chử phục kích để nhanh chóng đến địa điểm đổ bộ. Hừng sáng thì tới nơi, Tiểu Ðoàn 5 TQLC chia ra làm hai cánh quân. Cánh A do Thiếu Tá Phạm Nhã chỉ huy cùng các Ðại Ðội CH (Trung Úy Huỳnh Văn Phú), Ðại Ðội 3 (Trung Úy Ðoàn Ðức Nghi), Ðại Ðội 1 (Trung Úy Hồ Quang Lịch) đánh ngay phía mặt tiền bờ sông, thẳng vào bên trong ẩn nấp của địch. Cánh B do Ðại Úy Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu các Ðại Ðội 4 (Ðại Úy Ðử Hữu Tùng), Ðại Ðội 2 (Trung Úy Cổ Tấn Tịnh Châu) vượt lên trên địa điểm đổ bộ, bọc hậu từ phía sau đánh tới. Nguyễn Xuân Phúc đã cùng với các chiến hữu Tiểu Ðoàn 5 TQLC chiến đấu hết sức mình với quyết tâm phải giữ vững Ðồng Tháp Mười lúa ngọt cây lành này cho người dân vô tội nơi đây. Cuộc giao tranh kéo dài từ rạng sáng cho đến mặt trời lặn mới kết thúc. Cảnh đổ vỡ thật điêu tàn. Giặc về gieo khói lửa, làng vắng không người dân, ruộng đồng lúa ngã xác xơ, Mặt trời ngó xuống như cũng rầu rầu, giòng sông Cửu Long vẫn vô tình chảy xiết qua kinh rạch hiền hòa, trôi mênh mang... Lửa đạn biến đất trời thành cơn lốc xoáy, thây người tung theo bụi cát mịt mù. Trận đánh diễn ra trong một ngày nhưng thật dữ dội như năm xưa trên giòng sông Tiền Giang, người anh hùng Tây Sơn Nguyễn Huệ cũng đã đánh bạt được quân Xiêm La trong trận thủy chiến kinh hồn, chiếm giữ lại mảnh đất phù sa mầu mỡ này cho cháu con đời sau.

 Ðêm đã xuống, trận giao tranh đã tàn. Những hàng dừa lả ngọn theo gió lay uyển chuyển trên các bờ mương. Phong cảnh mộc mạc nên thơ này sẽ đẹp biết bao cho người dân sống với làng quê nếu được thanh bình, không bóng dáng cộng quân về phá nát yên vui.

tiểu đoàn 5 hắc long thủy quân lục chiến

Với sức chiến đấu kiên trì và mãnh liệt của Tiểu Ðoàn 5 TQLC cùng sự phối hợp và yểm trợ của lực lượng Bộ Binh Hoa Kỳ. Quân ta đã toàn thắng với nhiều chiến lợi phẩm. Thành tích đó đã tạo cho Ðại Tá David (SÐ 9 Bộ Binh) và Ðại Tá Salzer (Hải Quân) được vinh thăng cấp Tướng. Và Tiểu Ðoàn 5 TQLC nhận lãnh được nhiều huy chương cao quý. Sự thiệt hại bên ta hy sinh và bị thương mấy chục người. Trung Úy Cổ Tấn Tịnh Châu và Trung Úy Hồ Quang Lịch cũng bị thương trong trận đánh này.

 Chiến cuộc vẫn lan tràn tiếp diễn khắp nơi nơi, người lính Nguyễn Xuân Phúc có mặt hầu hết khắp bốn vùng chiến thuật. Từ Bình Chánh đến Gio Linh, Quảng Trị, Thừa Thiên... Người em ruột là Trung Úy Nguyễn Phú Thọ thuộc Sư Ðoàn I Bộ Binh đang hành quân trong trận đánh Ðông Ba để phản công lại trận tổng công kích Tết Mậu Thân đợt 1 của VC ở Huế, hai anh em gặp nhau ở Mang Cá khi Tiểu Ðoàn N.X.Phúc từ trong Nam ra bổ xung giải tỏa. Từ khi rời trường Mẹ, đời lính chiến đẩy đưa mửi người một nơi, lâu lắm rồi họ mới gặp lại nhau nhưng cũng chỉ trong thoáng chốc như khói bụi chiến trường bởi tình hình đang căng thẳng. Chỉ kịp bắt tay và nói đùa với nhau một câu của người anh: "Mày chưa chết à?", người em ngạo nghễ trả lời: "Ðánh giặc sức mấy mà chết được".

 Với chủ mưu xâm chiếm miền Nam bằng mọi giá, mọi cách, CSBV càng lúc càng gia tăng những cuộc đánh phá mạnh mẽ.

 Với sự chuẩn bị từ nhiều tháng trước cùng sự tiếp tay của những tên Việt gian nội gián, Việt cộng đã thực hiện trận tổng công kích quy mô trên khắp lãnh thổ Quốc Gia. Nặng nhất là Huế và Sàigòn trong những ngày đầu xuân Mậu Thân (31/01/1968), gây máu lửa tang thương cho người dân trong những ngày lễ Tết dân tộc thiêng liêng. Vừa nhận được lệnh tăng phái, Tiểu Ðoàn 5 của N.X. Phúc đã có mặt ở Huế ngay. Huế đang chìm ngập trong dầu sôi lửa bỏng của chết chóc kinh hoàng. Những vụ thảm sát, mồ chôn tập thể những người dân lành vô tội trong thành phố diễn ra hằng loạt hằng giờ. Ðó là tội ác hay chiến tích lớn của Cộng quân khát máu đã gây ra?! "Thật là Ðộc ác thay! trúc rừng không ghi hết tội. Dơ bẩn thay! nước bể khôn rửa sạch mùi (Nguyễn Trãi)".

 Nhưng nhờ sự hy sinh chiến đấu dũng cảm của các lực lượng quân binh chủng Việt Nam Cộng Hòa dưới sự điều động đảm lược của vị chỉ huy Tư Lệnh Sư Ðoàn I Ngô Quang Trưởng đã nhanh chóng chặn đứng và đẩy lui được làn sóng đỏ xâm lăng, đánh phá bạo tàn của CSBV sau gần một tháng phản công.

 Tháng 4/1968, Việt cộng lại tấn công vào thành phố Sàigòn trong cuộc tổng công kích đợt hai. Hết đem quân ra Huế lại xuôi về trong Nam, Thiếu tá Nguyễn Xuân Phúc cũng vừa nhận chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 6 Thần Ưng thay cho Thiếu Tá Phạm Văn Chung. Trước sự tấn công dã man có mưu mô kế hoạch của VC, Nguyễn Xuân Phúc lại một lần cùng với các anh em chiến hữu trong đơn vị quyết sống chết đối đầu để ngăn chận giòng tiến quân xâm nhập cũng như tháo lui của giặc. Dây chuyền kế hoạch tổng công kích của CSBV dần vỡ tan, bị chặt đứt trước những nhát kiếm sắc bén vung lên của những chiến sĩ đảm lược kiên cường thuộc các đơn vị tinh nhuệ hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tiểu đoàn 6 TQLC cũng góp được chiến công là đã càn quét được bọn giặc ra khỏi trận địa Bình Hòa.

 Sau khi bị thương, Nguyễn Xuân Phúc được thuyên chuyển về Tiểu Ðoàn Công Vụ để dưỡng thương thêm một thời gian. Ở đây tuy công việc nhàn nhã hơn, không phải đối đầu với những nguy nan sống chết từng phút từng giờ nhưng lòng anh vẫn khát khao quãng đời chiến đấu nơi rừng sâu núi thẵm với các bạn bè chiến hữu như tâm sự hổ nhớ rừng của Thế Lữ mà anh nhớ thuộc lòng khi còn đi học:

nhớ cảnh sơn lâm bóng cả, cây già

với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi

với khí thét khúc trường ca dữ dội

ta bước chân lên, dõng dạc đường hoàng...

(Thế Lữ)

 Ðến tháng 3 năm 1969, Nguyễn Xuân Phúc nhận được sự vụ lệnh từ Ðại Tá Tham Mưu Trưởng Bùi Thế Lân về giữ chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2 TQLC. Một Tiểu Ðoàn vang danh khắp chốn sa trường mà anh đã từng tham dự gắn bó và đổ máu trước đây với những chiến tích hào hùng của Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên uy dũng.

 Trong chiến dịch hành quân sang Kampuchia nhằm truy quét các lực lượng võ trang CSBV đang chiếm đóng những vùng đất này để dễ bề xâm nhập vào lãnh thổ Nam Việt Nam qua các ngả đường biên giới. Ðầu năm 1970, Tiểu Ðoàn 2 TQLC từ căn cứ Chương Thiện-Cần Thơ đã cùng với các Tiểu Ðoàn 1 và 4 TQLC thuộc Lữ Ðoàn B của Ðại Tá Tôn Thất Soạn tham gia vào cuộc hành quân Cửu Long để dẹp địch. Sau cuộc đổ bộ thần tốc từ bến phà Neak Luong, Tiểu Ðoàn 2 chưa kịp đóng quân đã nhận được lệnh trên cấp bách và theo lời yêu cầu của chánh phủ Cộng Hòa Cambodia: nhẩy trực thăng vận xuống giảì vây khu vực Prey Veng đang bị VC chiếm đóng. Vị trí thành phố Prey Veng nằm trên vùng đất cao nên các cánh quân của Tiểu Ðoàn lần lượt đổ xuống phía bên ngoài bờ thành, bám theo các cánh đồng dưới thấp. Ðại đội I của Trung úy Lâm Tài Thạch vừa chuyển quân xuống đầu tiên đã chạm địch nấp dưới những lớp rơm phủ trên đường hầm theo lối đánh độn thổ để phục kích. Nhưng với sự bình tĩnh sáng suốt và dũng cảm của Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên do Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc chỉ huy đã càn quét được tuyến giặc đột kích phòng thủ bên ngoài, phối hợp cùng đơn vị bạn tiến công thẳng vào bên trong thành phố và mau chóng lập nên chiến công hiển hách: đánh tan được một Trung Ðoàn VC, tái chiếm được tỉnh lỵ Prey Veng ngay sau một ngày giao chiến dữ dội.

 Với những chiến công lừng lẫy như thế và tám lần được tuyên dương Anh Dũng Bội Tinh, Tiểu Ðoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc & Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên là Tiểu Ðoàn đầu tiên của Sư Ðoàn TQLC Việt Nam và cũng là Tiểu Ðoàn duy nhất đã được tưởng thưởng huy chương cao quý của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đó là giây biểu chương Tam Hợp, tạo cho Sư

Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến nói chung và Tiểu Ðoàn 2 nói riêng thêm sức mạnh tự hào, oai phong.

ngắm Non Sông căm nửi thế thù

thề sống chết cùng quân nghịch tặc

 (Nguyễn Trãi)

 Sau những thất bại nặng nề, vẫn không từ bỏ ý đồ xâm lăng, CSBV tiếp tục dàn quân ở biên giới Việt-Lào. Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên lại tiếp tục lao vào trận địa với cuộc hành quân Lam Sơn. Trận chiến càng gay go khốc liệt thì những người lính Việt Nam Cộng Hòa càng gan lì quyết liệt hơn. Trong lửa đạn của cuộc chiến Lam Sơn, dũng khí của người Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên Nguyễn Xuân Phúc đã ngời lên như ánh thép, vung gươm chống đỡ gìữa vòng vây của địch tràn xung hàng hàng lớp lớp. Bằng dũng cảm can cường cùng sự nhậy bén như mũi tên xuyên thẳng vào nguy nan, xem thường sống chết, quyết đưa dẫn các đại đội đàn em bạt núi băng rừng từ cứ điểm Ðống Ða vượt qua tám cây số đường chim bay lửa đạn bắn tua tủa như mưa từ phía nam biên giới Việt-Lào để về đến Khe Sanh gần đầy đủ, an toàn. Trong chiến thuật hành quân, đụng chạm và đối đầu với địch đã gian nguy. Rút quân mà vẫn giữ được an toàn lại càng khó khăn hơn. Nguyễn Xuân Phúc đã chu toàn trách nhiệm của người Tiểu Ðoàn Trưởng, với tất cả sự quan tâm, thương mến của một người anh Cả luôn bảo vệ cho đàn em mình vượt qua khỏi những hiểm nguy bằng đảm lược, kiên trì. Những ai đã từng chiến đấu, cùng chung đơn vị với anh đều hiểu rõ điều này và nhiều năm sau khi nhắc lại đều tỏ lòng thương tiếc và quý mến.

 Trong chiến công hành quân Lam Sơn 719 năm 1971, Tiểu Ðoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên dương công trạng ban thưởng Ðệ Tứ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương, Tiểu Ðoàn Phó Trần Văn Hợp được thăng cấp Thiếu Tá và Trung Úy Lâm Tài Thạch được Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương tại Huế.

 Bước chân người lính Nguyễn Xuân Phúc cùng Tiểu Ðoàn 2 vẫn tiếp tục trải dài suốt các ngả đường đất nước, nơi nào có bóng giặc thù là nơi đó có xung phong chiến đấu của những người chiến sĩ Quốc Gia hết lòng bảo vệ Non Sông. Từ Hạ Lào, Khe Sanh, Triệu Phong, Mai Lộc, Ðông Hà, Quảng Trị, Gio Linh.v.v... Tháng 3 qua tháng 4 năm 1972, Tiểu Ðoàn 2 vẫn tiếp bước với những cuộc hành quân gay go ở Vùng I. Ðã chặn đứng và đẩy lui được nhiều cuộc tấn công của CSBV ở Mỹ Chánh, La Vang. Quê hương miền Trung nắng cháy với những buổi sáng, trưa, chiều tối vẫn đạn bom khói lửa mù trời dưới tầm đạn pháo kích như mưa của CSBV. Lòng anh không chai cứng nổi trước những tàn phá của chiến tranh, những nửi đau thê thiết rã rời của những người dân phố nhỏ quê nghèo. Anh biết làm gì cho vơi hết những nửi niềm đeo nặng trong tâm tư. Làm thế nào để sớm chấm dứt những tang thương, máu đổ của chiến cuộc đầy dẫy cảnh lệ rơi máu đổ hằng ngày, của anh em đồng đội, của bao dân lành vô tội chung quanh. Rồi đây, trang sử có lật qua nhưng con đường đẫm máu với bao cảnh chết hãì hùng của trẻ thơ, phụ nữ, người già, thanh niên thiếu nữ gánh gồng chạy loạn trên con đường từ Quảng Trị-Mỹ Chánh dọc theo quốc lộ 1, nằm ngả chết chất chồng lên nhau thành cảnh chết chưa từng thấy chưa từng có trước đây, nay bằng sự dã tâm khát máu của CSBV cố tình nhả đạn thẳng vào đoàn người vô tội không chút nương tay đã tạo nên được con đường Ðại Lộ Kinh Hoàng này, thật quá khủng khiếp! Nước sông Thạch Hãn vẫn luân chuyển từng giờ ra biển cả nhưng không sao kéo trôi, rửa tan được giòng máu lệ oan khiên đổ tràn nơi đây, tháng ngày này!

 Sau khi được thăng cấp Trung Tá, cuối tháng 5/1972 Nguyễn Xuân Phúc bàn giao Tiểu Ðoàn 2 lại cho Thiếu Tá Trần Văn Hợp, nhận chức Lữ Ðoàn Phó LÐ147 của Ðại Tá Nguyễn Năng Bảo. Thời điểm đó, CSBV đã khởi đầu cuộc xung quân xâm chiếm vào lãnh thổ miền Nam Việt Nam qua địa đầu giới tuyến Quảng Trị với những loạt tấn công ồ ạt bằng chiến xa T-54, PT-76 và đủ loại võ khí lớn của cộng sản Nga-Tàu cung cấp.

 Lữ Ðoàn 147 TQLC từ Hải Lăng tiếp tục điều quân chận đứng mũi tiến công của VC ở phía bắc Quảng Trị. Sau đó đã cùng với Lữ Ðoàn 258 kết hợp táì chiếm Cổ Thành Quảng Trị theo kế hoạch của Trung Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn I Ngô Quang Trưởng. Ðây là một quyết định rất sáng suốt và thao lược của vị tướng tài ba này: Con đường duy nhất là phải tái chiếm lại thành phố này. Quyết định và câu nói này của ông cùng sự có mặt thường xuyên ngoài mặt trận sôi bỏng để thăm nom khích lệ và theo dõi từng bước tiến của những cuộc truy quét hành quân diệt địch là một động viên tinh thần rất lớn cho các chiến sĩ đang vững vàng chiến đấu dành lại từng tấc đất thân yêu là bao xương máu của người lính Việt Nam Cộng Hòa, là bao máu thịt của người dân đã ngả xuống cho Hòa Bình-Tự Do.

 Với quyết tâm đó, toàn thể các lực lượng chiến sĩ có mặt trong cuộc hành quân tái chiếm cổ thành Quảng Trị đã đánh giặc hết sức mình và sau gần năm tháng chiến đấu, ngày 16/9/1972 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã lấy lại được thành phố Quảng Trị một cách vẻ vang. Chiến thắng này là công trạng của nhiều người, nhiều binh chủng. Với bao xương trắng máu đào mới dành lại được. Trong đó có các Lữ Ðoàn 147 TQLC: (Ðại Tá Nguyễn Năng Bảo, Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc), Lữ Ðoàn 258 TQLC (Ðại Tá Ngô Văn Ðịnh, Trung Tá Ðử Ðình Vượng), Tiểu Ðoàn 6 (Trung Tá Ðử Hữu Tùng), Tiểu Ðoàn 3 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Cảnh), Tiểu Ðoàn 2 (Thiếu Tá Trần Văn Hợp), Tiểu Ðoàn 1 (Thiếu Tá Nguyễn Ðăng Hòa), Tiểu đoàn 5 (Thiếu Tá Hồ Quang Lịch), Tiểu Ðoàn 7 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Kim), Tiểu Ðoàn 8 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Phán), Tiểu Ðoàn 9 (Trung Tá Nguyễn Kim Ðể).v.v...

quân sự việt nam, chiến thắng quảng trị 1972

Toàn quân Việt Nam Cộng Hòa đã dựng lại được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ tung bay rạng rỡ trên bầu trời nắng ấm quê hương vào lúc tái chiếm được cổ thành Quảng Trị thân yêu ngày 16 tháng 9 năm 1972. Tiếng ve sầu đã thôi kêu than sau một mùa hè khóì lửa. Riêng cánh phượng hồng trên những hàng Phượng vỹ vẫn thắm tươi dưới ánh mặt trời, đẹp buổi hoan ca.

 Ðầu năm 1975, Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc được đề cử chức vụ Lữ Ðoàn Trưởng Lữ Ðoàn 369 và Lữ Ðoàn Phó là Trung Tá Ðử Hữu Tùng (là vị Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 6 đã hạ được nhiều chiến xa T-54 và đã cắm lá cờ vàng tung bay ngạo nghễ trong ngày tái chiếm cổ thành Quảng Trị (16/09/1972), một người bạn đồng khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt và cũng là người bạn từng chung vai sát cánh với anh trong nhiều trận đánh lẫy lừng trên khắp bốn vùng chiến thuật hành quân. Lữ Ðoàn 369 vẫn tiếp tục những cuộc hành quân truy diệt địch xâm lăng, băng rừng lội suối suốt từ Cửa Việt, Ðông Hà, Gio Linh, qua Cam Lộ, Hải Lăng, Quảng Nam. Từ bờ sông Thạch Hãn, dưới bóng núi Trường Sơn đến Ðà Nẵng, Tiên Sa...

họa phúc có nguồn, đâu bổng chốc?

anh hùng để hận, dễ gì nguôi...

 (Nguyễn Trãi)

 Người lính Nguyễn Xuân Phúc đã đi qua nhiều trận chiến, dãi dầu với sương gió hành quân, máu anh cũng đã đổ nhưng vẫn hiên ngang đứng giữa sa trường. Ðạn tên vẫn chừa anh ra cho đến một ngày... ngày 29 tháng 3 năm 1975.

 Lệnh lui binh như một tiếng súng ghim thẳng vào tim những người lính đang hiên ngang chiến đấu dưới mầu cờ Tổ Quốc bởi lòng sục sôi phẫn uất trước những bạo tàn của Cộng quân đang gây ra trên mảnh đất quê hương. Miền Trung thương yêu ngập máu lửa tơi bời. Người Lữ Ðoàn Trưởng 369 Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa vượt lằn lửa đạn đưa dẫn các Tiểu Ðoàn 2, Tiểu Ðoàn 6, Tiểu Ðoàn 9 của mình về Ðà Nẵng an toàn.

 Ðà Nẵng, ngày 29 tháng 3 năm 1975, nơi mà người Lữ Ðoàn Trưởng 369 đang có mặt với nhiều chiến hữu các đơn vị quân binh chủng QLVNCH cùng vị Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn I (Ngô Quang Trưởng) một lòng yêu nước yêu dân, đau đớn nhìn quê hương đang từ từ nghiêng ngả.

 Cuối tháng ba, quê hương đang rực màu lửa khói, bầu trời tang thương đang đổ lệ xuống nhạt nhòa khắp đất nước điêu linh. Còn gì đâu với cảnh hoang tàn đổ nát thê lương. Lớp lớp người người khóc chạy dưới thác đạn mưa bom. Ôi, nước mất - nhà tan. Bao vong linh đã từng sống chết cho Tổ Quốc còn ẩn khuất đâu đây. Tiếng thét hờn vì đâu nên nửi này như rung chuyển khắp núi sông. Ðỉnh Trường Sơn bạc trắng nửi niềm Ðau. Lòng biển Ðông dội vang từng đứt đoạn. Mạch sông sầu thấm sâu lòng đất Mẹ, khóc thương con tay súng ngỡ ngàng rơi, những tay súng không vì cuồng điên khát máu, không vô tình bắn chết lương dân, không phá nát mảnh tiền đồ Tổ Quốc. Những tay súng hiên ngang vì Chính Nghĩa, diệt bạo tàn xâm lấn quê hương, mang yên ấm cho thôn làng thành thị, đem sức mình tranh đấu chữ Tự Do, để giang sơn tô đẹp màu cẩm tú, cõi bờ thêm rộng mở thăng hoa, hoà bình đến nước nhà vui Ðộc Lập, cảnh thanh bình ước mơ còn sáng mãi.

 Ôi, giấc mộng của những người dân nước Việt, của những người chiến sĩ cầm súng giữ quê hương. Sao giờ đây, phải nhìn cảnh quê hương hoa gấm đang rơi chìm trong đổ nát. Tráì tim muôn triệu người cũng vỡ với đau thương.

 Cuối tháng ba, nắng Hạ Lào mới vừa nóng ấm mà sao lớp sóng xanh Non Nước như tuôn giòng lệ đỏ, áng mây trời Tiên Sa tựa phủ lớp khăn tang mờ. Giữa thế cờ thay đổi, khói lửa rực trời Nam, chìm khuất trong những tiếng kêu than ai oán, khung cảnh hửn loạn, hai người bạn cũng là hai vị Lữ Ðoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc và Lữ Ðoàn Phó Ðử Hữu Tùng cùng đứng dừng lại, dõi mắt nhìn dãy núi cao xa, vời vợi... Bóng hai người lính đổ dài trên bãi biển, lặng yên mà lòng sâu đang bão nổi, sóng ngầm. Nửi khổ đau của đoạn trường qưê hương sao nói được nên lời! Ôi, xã tắc sơn hà một sớm một chiều như khói mây, tan tác.

 Giòng người xao xác lũ lượt ra khơi. Hai người lính đồng hành cùng ở lại. Ở lại với mảnh đất quê hương yêu dấu này đã thấm mặn bao giòng máu của anh em đồng đội. Xác thân thà tan rã nơi rừng sâu biển mặn, bám vào cát đá Nước Non trùng điệp, làm hạt bụi Trường Sơn bất khuất để giữ lại khí phách anh linh của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa kiên cường luôn hằng Sống và Chết cho Tổ Quốc cùng lý tưởng Hoà Bình- Tự Do Dân Tộc.

 Ngày 29 tháng 3 năm 1975, những người chiến sĩ ấy đã cùng ra đi với tiếng hờn Núi Sông, trở về lòng đất Mẹ thân yêu...

những người Lính yên nằm ở đây

trái tim chúng tôi - yêu thương nhất!

lấy thơ hòa với nước mắt đầy

chúng tôi tạc tượng người Lính đó!

những người Lính đạp từng nấc mây

những người Lính mở đường trên đất

khắp bốn phương Nam Bắc - Ðông Tây

những người Lính không bao giờ mất!

Người Lính chúng tôi nói hôm nay

đã đi sâu vào lòng lịch sử

tượng Người để lại cho Tương Lai

sẽ giữ hoài Quê Hương Ðất Tổ!

Ngọc Thủy ...

http://tqlcvn.org/tieu_su/nguyen_xuanphuc.htm

***

Người Lính Không Hề Chết

Phan Nhật Nam (tác phẩm Những Chuyện Cần Ðược Kể Lại, 1995)

Chúng tôi bắt đầu cùng các chiến hữu, những người còn sống hay đã chết. Quả thật chúng ta đã sống qua một cuộc chiến tranh dài hơn trí nhớ và chết trong tận cùng lãng quên. Nhưng cuộc thất trận ngày 30 tháng Tư năm 1975 không ở lỗi chúng ta, những người lính chiến đấu trong QLVNCH. Bởi sự chuẩn bị cho cuộc thất trận ấy đã có từ trước. Trước bao xa và từ nơi nào? Mười chín năm sau ngày gãy súng, xé cờ đau đớn ấy chúng ta có thể nói không sợ sai lầm rằng, sự chuẩn bị hiểm độc ấy không do bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, không nằm trong Dinh Ðộc Lập, cũng không từ ngoài Hà Nội (dẫu rằng đây là một yếu tố quyết định nên thắng lợi của họ và sự tiêu vong của chúng ta). Nói như thế chắc sẽ không làm người cộng sản bằng lòng ở vào thời điểm mấy năm trước đây, nhưng vụ bỏ cấm vận năm 1994 vừa qua hẳn đã cho người cs hiểu rõ thế nào là giá trị của cái gọi là «thắng lợi vẻ vang». Nhưng đây là vấn đề của họ với sự phán xét tất yếu của quốc dân và lịch sử. Chỉ biết, chúng ta đã mất những chiến hữu với phẩm chất rất cao cả, những người chỉ huy đáng phần kiêu hãnh, những đơn vị không hề thua sút so với bất cứ quân đội nào trên thế giới. Nhưng quả thật chúng ta đã bị thua cuộc. Không chỉ một trận đánh mà nguyên cuộc chiến tranh. Dân tộc Việt đồng thời cũng bị đánh vỡ trong giòng sống cuồng nộ ác độc của buổi hạ ngươn điêu tàn của toàn trần thế.

Chúng ta, những người lính tiền phong của dân tộc bi tráng bị đánh gục trước hết. Mười Chín Năm Sau Vẫn Hằng Mới Vết Thương.

nguyễn xuân phúc, khóa 16 trường võ bị quốc gia việt nam

Những cấp chỉ huy tài ba, anh dũng của QLVNCH trong «Ngày Truyền Thống 22 tháng 12 » của Khóa 16 trường Võ Bị Ðà Lạt, 1972, sau 10 năm rời trường Mẹ. Từ trái, các cựu sinh viên Sĩ quan Nguyễn Ðằng Tống, Trần Ðăng Khôi, Nguyễn Xuân Phúc, Tôn Thất Chung. Người đứng là Sĩ quan Thủ Khoa khóa 16, Bùi Quyền. Trong trận chiến mất nước, 4 trong 5 cựu sinh viên Sĩ quan này đều là các Lữ đoàn trưởng Thủy Quân Lục Chiến và Nhảy Dù: 2 người đền nợ nước, 3 người từ 12 năm đến 13 năm tù (Ảnh Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975 của Phạm Huấn)

Hai trăm Tân khóa sinh Khóa 18 đứng im như một khối gỗ không kẽ hở, đám sinh viên sĩ quan cán bộ y phục vàng, găng tay trắng bao quanh, những con mắt đứng tròng dưới vành mũ nhựa sơn bóng dò chừng nét mặt từng người, như muốn bóc dỡ mỗi ý nghĩ ngỗn ngang đang náo loạn trong những chiếc đầu bị tê liệt vì khiếp sợ. Họ đang chờ đợi một điều nguy biến chắc xẩy đến. Ðang xẩy đến. Ðiều khủng khiếp kia có hình khối tầm thước, hơi gầy, bước đi nhanh, nhưng mang nét cứng cỏi của thân cây tùng trên sườn núi đá. Anh bước lên bục gỗ. Nghiêm! Tiếng hô, không, phải gọi là tiếng hét của một bậc đại võ sư trước khi ra đòn tàn sát. Thanh âm dội lại từ bốn dãy nhà gạch đỏ, lướt trên bãi cỏ xanh, theo hơi gió tản ra cùng đồi núi…Trước khi thi hành lệnh phạt, các anh cần phải biết một điều để sau nầy khỏi oán hận. Tôi, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Tân khóa sinh có quyền phạt hành xác, phải thi hành lệnh phạt đến với khóa đàn em để tẩy rửa, gột cho sách tất cả những dấu vết còn lại của đời sống dân chính. Mà giờ nầy, nếu người nào trong các anh còn thấy luyến tiếc, muốn trở về…Hãy đưa tay lên!! Anh lướt nhìn một vòng chậm rãi…Nhãn quan con hổ đâm sâu từng khuôn mặt nhợt nhạt bối rối. Vẫn im lặng, khối người chìm ngập vào vũng lầy bất động.

Tiểu đoàn Tân khóa sinh theo lệnh tôi…Thao diễn…Nghỉ !…Nghiêm !…Rập…Rập… Bốn trăm đế giày, những nắm tay cùng cử động theo một nhịp ngắn gọn như thể chỉ là bộ phận thuần nhất của một cơ quan…Súng cầm tay…Bắt! Rốp! Hai trăm bàn tay đập lên miếng gỗ che nòng súng một lần – Tiếng khô vỡ dứt khoát. Hướng về đồi Bắc…trước chạy đều…Bước! Hai trăm con người, hai trăm chiếc nón sắt ùn ùn chuyển động. Hàng ba lô dồn dập, ầm ầm cuốn tới…Một…hai…ba…những hình người dần ngã. Xe cứu thương hú còi chạy tới tấp. Từ đầu đoàn quân, anh chạy ngược dọc theo đám người thọ nạn…Anh nào muốn xỉu chạy ra khỏi hàng !! Khi đến chân đồi Bắc, đám tân khóa sinh đã là những cọng miếng nhúng nước bị bẻ gập.

Hơn mười năm sau, một trong đám người «bất hạnh» của ngày trước đang trong cơn say, mắt y mờ đục và chiếc miệng bắt đầu chề ra, méo lại. Bỗng hắn ta đứng bật dậy, vội vã cho vạt áo vào quần…lắp bắp…Chào…chào…niên trưởng. Gã say rượu chào thật nghiêm chỉnh, đúng cơ bản thao diễn đã học từ một ngày mười ba năm trước. Nay hắn cũng là một tiểu đoàn trưởng nhảy dù lừng lẫy. Anh cười gằn…Chào gì…cho mầy nghĩ. Anh nhìn gã say chằm chặp…Gã chột dạ…Không biết «ông» ấy có phạt mình không?? Lẽ tất nhiên, nỗi sợ nầy có tác động của men rượu, nhưng quả tình ngày «tân khóa sinh» khủng khiếp kia chắc đã làm cho hơi rượu tan đi phần lớn.

Anh thuộc khóa 16 Võ Bị Ðà Lạt, khóa đầu tiên huấn luyện theo chương trình bốn năm của trường Võ Bị Westpoint, Hoa Kỳ. Lẽ tất nhiên chương trình có phần lớn thay đổi để phù hợp với tình hình, điều kiện chính trị, xã hội, quân sự một nước chậm tiến, vừa thoát khỏi ách ngoại thuộc, đang phải chuẩn bị chống trả cuộc chiến tranh lật đỗ tinh vi, ma độc. Ðây cũng là khóa sĩ quan được chuẩn bị kỹ, tốt nhất của 30 khóa sĩ quan hiện dịch kể từ ngày trường thành lập, 1951 đến ngày tàn cuộc 1975. Sự chuẩn bị tốt đã đưa lại kết quả đáng tự hào, những sĩ quan tốt nghiệp khóa 16 trong mười ba năm có mặt ở chiến trường đã dựng nên những kỳ tích lẫy lừng…Nguyễn Văn Huy ở Biệt Ðộng Quân, Ðại tá Nguyễn Hữu Thông Trung đoàn trưởng xuất sắc nhất của Sư đoàn 22 Bộ Binh, lực lượng chính trấn giữ Tây nguyên, Lê Minh Ngọc, Phạm Kim Bằng, Trần Ðăng Khôi…Những Tiểu đoàn trưởng, Lữ đoàn trưởng Nhảy Dù không hề thua sút khi phối hợp với những sĩ quan đồng cấp bậc, chức vụ của những đại đơn vị quân lực Mỹ. Khóa 16 đi đủ các quân, binh chủng, nên Hải Quân có Thu, Long; Không Quân Tâm, Khôi…Tất cả sĩ quan của khóa nầy hình như được thôi thúc từ một lực thi đua thầm kín, khắp các đơn vị, ở những nhiệm vụ khác nhau, bao giờ người ra cũng nghe được những điều ngợi khen nễ phục. Và binh chủng hàng đầu, đơn vị trụ cột của quân lực miền Nam, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, những sĩ quan khóa 16 Trần Văn Hiển, Nguyễn Kim Ðể, Nguyễn Văn Sắc, Nguyễn Văn Kim, Nguyễn Ðằng Tống, Trần Ngọc Toàn, Ðỗ Hữu Tùng…từ một thỏa thuận «ngầm» nào đó (kết ước bởi tình huynh đệ, bằng hữu) do anh điều động đã tạo nên một huyền thoại có thật. Những Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là những đơn vị không hề thua trận. Những tiểu đoàn nầy có một thời chỉ do «băng» khóa 16 chỉ huy. Thật ra đây là một cách nói quá độ để tuyên dương khóa 16 nầy, vì ở đấy còn có những «tay» cự phách khác – Sinh đi lính, sống nhậu không tỉnh!! cỡ như Phán, Hòa hoặc những người khóa sau như Hợp khóa 19, Nghiêm, Liễn khóa 20, Bổn khóa 21…Nhưng dù xuất thân Thủ Ðức hay Ðà Lạt, những sĩ quan trẻ ở các tiểu đoàn chiến đấu TQLC đều một lòng đồng ý tôn vinh – Ông ấy, ông Robert «Lửa» Nguyễn Xuân Phúc là một sĩ quan ngoại hạng. Người chỉ huy kiệt xuất. Ðau đớn thay, anh không hề thua trận chống giữ miền Nam. Lợi «râu», đại úy trẻ nhất của quân lực miền Nam, đại đội trưởng Tiểu đoàn 8 TQLC hằng đêm nằm ở trại giam Lam Sơn Thanh Hóa cứ mãi ngậm ngùi…Lính mình mà có độ vài ông như anh Phúc thì đâu đã mất nước dễ như thế…Chúa phạt mình thôi!!

Anh chết ở một nơi nào đó trên quê hương, em anh, Nguyễn Phúc Thọ, cũng cùng khóa 16 (trung đoàn trưởng lừng danh của Sư đoàn 1 Bộ Binh, đơn vị trấn giữ vùng địa đầu cực bắc đất nước, đơn vị tái chiếm Huế trong mùa Xuân Mậu Thân, đơn vị treo cờ vàng lên Bastogne, cứ điểm quân sự Tây-Nam Thừa Thiên mùa Hè 1972, nơi mà Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đã một lần chiếm giữ và bỏ đi bởi áp lực địch quá nặng…) phải nát thân với mười năm tù nơi núi rừng đất Bắc, chỉ trở về được với đời sống, với gia đình sau lần vượt ngục tưởng như chỉ có trong chuyện trinh thám, võ hiệp. Và nỗi đau lớn của gia đình, mối tiếc thương của bằng hữu, đến hôm nay vẫn luôn mới, kết thực với tên anh – Người vắng mặt luôn hằng sống.

Anh trình diện đơn vị, Tiểu đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến hành quân tại Cà Mau vào một ngày cuối năm 1962, giữ ngay chức vụ đại đội phó cho trung úy Bảo (sau nầy là Ðại Tá Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn). Với khả năng chỉ huy thiên phú, anh nhanh chóng chiếm được lòng tin của người chỉ huy, cùng toàn thể đại đội. Ðiều nầy không lạ, tiểu đoàn sinh viên sĩ quan (gồm bạn đồng khóa và người ngang số tuổi) dưới quyền chỉ huy của anh đã thành đơn vị mẫu mực với tính tổ chức, nguyên tắc cao. Cũng đúng ra anh đã có vinh dự trở nên thủ khoa đầu tiên của chương trình võ bị (với điểm văn hóa, quân sự ưu hạng), nhưng bởi thiếu ngoại hình cần thiết cho vai trò người thủ khoa (ở vị trí hành lễ), hoặc vì một lý do chính trị nào đó, anh nhường vinh dự kia cho bạn…Có hề gì, đi lính đánh giặc đâu cần phải mặc đại lễ, bắn cung tên…Ðược như thế cũng vui, không thì thôi… Thiếu úy trẻ tuổi tập họp đơn vị trình diện đại đội trưởng với những cung các cần thiết đủ để giữ quân phong quân kỹ…Nhằm nhò gì những điều lẻ tẻ, nay mai nhảy trực thăng mới biết đá biết vàng. Chưa hề một lần anh có chút «mặc cảm» do vóc dáng gầy, nhỏ của mình. Thật ra chính nó đẩy anh cao lên, anh xử dụng câu nói «đùa nhưng rất thật» của Napoléon một cách chính xác…Tiên sư, các anh chỉ «dài» hơn tôi thôi, sức mấy các anh cao hơn tôi được… Và anh dẫn chứng thêm luận cứ…Cứ xem Napoléon, Hitler, Stalin, và bên Tàu Án Anh, Ðặng Tiểu Bình, phe ta có Ngô Quang Trưởng...Ðâu cần đẹp trai cao lớn mới đáng mặt lên tướng, làm lãnh tụ. Ðẹp trai thì đi làm kép hát thôi, bự con, nếu còn bé thì đi thi trẻ em đẹp, lớn lên cởi trần, gồng bắp thịt cho người ta chụp hình… Anh thường nói thế với cái nhìn tóe lửa. Bạn bè nào đã cải lại cùng anh. Và quả tình khi những giòng chữ nầy được viết thì anh đã vượt đi rất cao rất xa. Không mấy ai đủ sức một lần theo kịp.

Trời cuối năm, đêm tỉnh lẻ mù mù sương lạnh. Từ chỗ đóng quân, nhà máy xay gạo bên cạnh cầu sắt, đường đi Năm Căn, anh rũ Phán, thiếu úy khóa 9 Thủ Ðức, tay xung kích lợi hại của đơn vị…Ði chơi mầy. Ði đâu ?… Thì nhắm chỗ nào có đèn mà đi, phía sáng sáng đó. Ðồng ý! Phán chịu ngay đề nghị. Hai anh thiếu úy lần bóng tối, bước thấp bước cao tiến về phố chợ, nơi đèn vàng hắt bóng lên nhờ tối. Muỗi bay lềnh như đám bụi theo gió thổi qua. Hai giờ khuya, hai bóng đen chập choạng nương nhau về…Thế nhưng cũng đến cầu Sắt bình yên.

Toán lính Ðịa Phương Quân gác cầu mở máy thu thanh giọng óng ả, đong đưa «…vì đâu trăng vui nên trăng rụng xuống cầu…» Hai người trẻ tuổi đứng ở thành cầu nhìn xuống giòng sông đen bóng tối…Sao mầy?! Chẳng biết hỏi ai. Mình xuống tắm cho mát !! Và…ầm…ầ…m… Hai bóng người cùng rụng xuống cầu trong đêm đen. Hơn hẳn Lý Bạch, vì không cần ngại đến một vầng trăng.

Ðám lính gác cầu nỗ súng, đạn vạch đường đỏ bắn lên khoảng không vun vút, tiếng người la ầm ĩ…Có người tự tử!! Có người tự tử!! Hai anh thiếu úy ngữa mặt lên trời lội vào bờ cười vang.

Quận Ðầm Dơi mất đêm của ngày hôm sau. Tiểu đoàn 2 nhảy xuống tiếp viện. Bốn đại đội, gồm ba đại đội tác chiến, một đại đội chỉ huy vừa rời khỏi trực thăng bị đàn áp ngay bởi một giàn lưới đạn đan kín. Việt cộng tập trung hai tiểu đoàn chủ lực, U Minh và Cửu Long, dồn hết hỏa lực cơ hữu, tăng cường vũ khí nặng của Khu 9 (vùng đồng bằng sông Cửu Long) quyết diệt gọn TQLC. Ðối phương có đủ tất cả ưu thế, quân số đông, hỏa lực mạnh và chuẩn bị chiến trường theo yêu cầu của mình. Nói một cách khác – Chọn lựa chiến trường, nắm trọn ưu thế chiến thuật. Ðây là trận địa chiến đầu tiên của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nếu thắng lợi, phía cs hóa giải được chiến thuật đang được người Mỹ lần đầu tiên thử nghiệm tại chiến trường – Chiến thuật trực thăng vận.

…Bốn giờ chiều, Phúc và Phán gom hết tất cả thành phần còn lại của tiểu đoàn, cũng chỉ khoảng một đại đội, nhảy đợt chót. Từ trên cao, anh thấy một vùng khói đen dày, vây bọc quận lỵ, chiếc B57 gãy cánh nằm tênh hênh. Nhưng không kịp nghĩ ngợi, người anh đã ngập xuống vũng sình, các bờ mương không đủ tầm cao, toán lính tiếp viện nằm tênh hênh trên bãi ruộng sũng nước hứng đạn từ bìa làng vãi ra…Ðạn ghim vào bờ đất, đạn cắm vào thịt da người sau khi xuyên qua lớp nước bùn bắt đầu sủi màu máu. Anh bò đến chỗ Phán «…ê, Phán nầy, không đại đội nào vào chiếm bìa làng, nằm ở đây chỉ chờ chết thôi, tối đến vẹm nó ủi ra là đi đong…» «…Hay xung phong bừa đi, may ra thì…khỏi chết, như mua xổ số…biết đâu…!!» Phán đề nghị ngang ngược. Ðừng liều mạng vô ích…Anh bình tĩnh chậm rãi… Mầy cố gắng nằm bẹp dưới nước, không phải TQLC mà làm tàu lặng, tao gom con cái chiếm đám dừa bên tay mặt, yểm trợ cho mầy vào chỗ bìa làng, mầy bám được tụi nó xong, tao chuyển xạ vào tiếp… Chẳng đợi Phán đồng ý, Phúc đứng lên. Anh lên đạn khẩu súng colt, nhìn thật sắc vào mắt mỗi người lính… Vào!…Và phóng mình lên trước.

Người hạ sĩ quan, Thượng sĩ Hò không thể lường trước được phản ứng của người chỉ huy trẻ tuổi của mình, lật bật xách ba–lô chạy vụt theo. Tràng đạn từ bìa làng bay đến, chiếc nón sắt như bị hất ngược, dây ba chạc mang đạn đồng bị xé rách, bứ tung…Người lính ngã xuống giật giật…Thiếu úy. !!. Phúc nghiến răng, mắt đứng sững. Anh kéo khẩu súng khỏi tay người lính…Xung phong…xung…phong…Thân hình gầy yếu của anh chạy loáng thoáng trên giãi ruộng sục sôi khói thuốc súng, đạn bắn ra sủi tăm mặt nước. Ðôi lúc Phúc ngã xuống, nhưng sau đó anh vụt dậy chạy đi. Phán và những người lính ngoài bờ ruộng đồng ngây hoặc trước một điều tưởng như không thật. Và không cần đợi xác nhận qua máy truyền tin, vừa thấy dấu hiệu từ tay Phúc, một đại đội TQLC phóng mình lên. Phán chụp cây trung liên BAR của người lính, bật cần tác xạ vào vị trí «auto» , choàng dây đeo qua thân, anh chạy lên…Ðạn giật giật, người anh như ngã ngữa theo.

Chiến thắng Ðầm Dơi bảo đảm an ninh chiến thuật cho vùng IV. Tiểu đoàn 2 TQLC trở thành đơn vị hàng đầu của quân lực. Và toàn thể tiểu đoàn đều đồng ý xác chứng, ông Thiếu úy Phúc, sĩ quan trẻ nhất đơn vị – Người đã nghiêng thế trận trong giây phút hiểm nghèo quyết định.

Anh thật sự già đi theo nỗi gian nguy của người lính. Không phải chỉ cơn rình rập thường hằng của súng đạn mà anh giáp mặt từ ngày mở lửa Cà Mâu. Anh còn phải tham dự vào những trận nghi hoặc của tháng 11, 1963…Ðể khắc khoải tự hỏi…Người lính chiến đấu cho ai? Những binh sĩ lương tháng tương đương bửa ăn sáng của những tay chạy áp phe ngồi tính những số tiền lời gởi đâu bên Hồng Không, Ðài Loan, Thụy Sĩ. Những tay chạy áp phe mặc đồ lính không hề gợn bụi với những món hàng trao đổi – Mạng sống người lính, sinh mệnh quốc gia. Anh phải chịu những cơn đau xé thân nơi lưng đồi Bình Giả, trăm chiến hữu phơi thây do những ngu dốt hèn hạ vô lương tâm của những người gọi là chỉ huy, lãnh đạo, xem chiến trận như cách thế tìm đến những bổng lộc ti tiện tầm phào. Nhưng anh biết làm gì hơn với cấp bậc một sĩ quan cấp úy, tình cảnh như viên đạn đã trình trong nòng súng; giữa im lặng, trong chờ đợi quả đạn nỗ sau khi nghe rõ tiếng «bục» của quả pháo bắn đi. Tiến quân vào khu phi quân sự năm 1965; giải phóng Bồng Sơn, Tam Quan; lạnh mặt nghiến răng xung phong vào chùa Tỉnh hội Ðà Nẵng của lần miền Trung ly khai 1966; chịu trận phục kích oan uổng, uất hận nơi cầu Câu Nhi, Phong Ðiền Thừa Thiên 1967. Một đơn vị lừng danh chịu gẫy đỗ từ những kẻ nội thù!!! Mắt anh vốn sáng ánh giận dữ nay bừng bừng thêm nỗi bi phẫn không thể nói. Mậu Thân, anh trút mối căm hờn kia lên đầu giặc. Ðơn vị anh đóng ở Hàng Xanh, khóa chặt vùng đồng ông Cộ, đánh bật toàn thể lực lượng cộng sản bám giữ cầu Bình Lợi. Dẫu là tiểu đoàn phó, anh luôn luôn ở tuyến đầu cùng binh sĩ, theo người lính đánh thẳng, đánh thốc vào các chốt cố thủ của giặc. Hơn một trăm cán binh cộng sản không đường rút lui, cùng thế, cột cờ trắng lên nòng súng, xếp hàng một xin đầu hàng Tiểu đoàn 6 TQLC. Anh trả giá chiến thắng của đơn vị với một viên đạn xuyên qua cổ, viên thứ hai xé lồng ngực và mảnh pháo vạch một đường sâu dài theo sống mũi. Tất cả những viên đạn, mảnh đạn đều đi ngọt qua thân, chứng tỏ súng bắn gần, sát mặt. Anh rời khỏi chiến trường trong sáu tháng. Vinh quang chiến thắng Mậu Thân, chiến dịch Trần Hưng Ðạo bẻ gẫy công kích đợt một của vc, tiếp chiến dịch Toàn Thắng thanh toán tàn binh địch sau tổng công kích đợt hai thuộc về phần những người còn lại!! Anh không có, vì đã buộc phải rời chiến trường nơi giờ phút chót. Từ nhà thương ra anh về coi Tiểu đoàn yểm trợ thủy bộ, một đơn vị tiếp vận cho chiến trường. Không một lời từ nan, chiến trường đang nặng độ, sẽ khốc liệt, gay gắt gấp bội. Anh thản nhiên chờ đợi như đã bao lần tự tin. Hằng tự tin.

nguyễn xuân phúc

«Robert lửa» Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 TQLC (ngồi bên trái, bên tay phải là Thiếu tá Nguyễn Kim Ðể). Hình chụp năm 1969 cùng với Bộ chỉ huy Tiểu đoàn (Ảnh Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975 của Phạm Huấn).

Cuối cùng, cờ đến tay. Anh nhận quyền chỉ huy đơn vị đầu đời, cũng là tiểu đoàn lẫy lừng của lực lượng bộ chiến Sư đoàn. Tiểu đoàn 2 “Trâu điên” – Tiểu đoàn hàng đầu của quân lực miền Nam.

Hạ Lào, chiến trường lớn với quy mô, ảnh hưởng quyết định vận mạng quốc gia, cũng là dịp để miền Nam thử lửa mất còn với Hà Nội. “Trâu Ðiên” nhập trận cùng với Tiểu đoàn 7, Tiểu đoàn 4, đặt dưới quyền chỉ huy của Lữ đoàn A do Ðại tá Hoàng Tích Thông làm Lữ đoàn trưởng. Ðại quân miền Nam gồm ba Sư đoàn chủ lực; Nhảy Dù trục cực Bắc, TQLC ở giữa, Sư đoàn 1 Bộ Binh chịu phần phía Nam. Ba đơn vị hợp thành ba mũi chính tiến theo hướng Ðông-Tây lấy quốc lộ 9 làm chuẩn. Mục tiêu là thị trấn Tchépone vùng Nam Lào, điểm tiếp vận quan yếu của bộ đội cộng sản trên đường dây tiếp vận Bắc-Nam. Lực lượng TQLC trong vùng trách nhiệm lại bố trí các tiểu đoàn theo hướng Bắc-Nam. Tiểu đoàn 4, 7 bộ chỉ huy Lữ đoàn có các vị trí pháo của Tiểu đoàn 2 pháo binh do “Trâu Ðiên” bảo vệ đồng thời làm lực lượng trừ bị; phía Nam Lữ đoàn A có hai Tiểu đoàn 3 và 8 thuộc Lữ đoàn B làm lực lượng trừ bị, đồng thời giữ mặt Nam đề phòng địch vòng quân đánh chia cắt. Nhưng tất cả chuẩn bị chiến thuật nầy đã trở nên vô nghĩa. Phía cộng sản đã chuẩn bị đủ chiến trường từ quốc tế đến quốc nội, với biểu ngữ của những đoàn biểu tình phản chiến, tại hội thảo đòi cải thiện chế độ an sinh xã hội cho người da đen ở các tiểu bang miền Nam nước Mỹ; trong dinh Ðộc Lập với ông tổng thống chỉ lo phe đối lập làm đảo chính; nơi bộ chỉ huy căn cứ Long Bình cứ một mực quả quyết quân lực miền Nam không có cố vấn Mỹ đi kèm thì không thể chiến đấu độc lập. Tuy nhiên tòa đại sứ ở Sài-Gòn phải báo cáo như thế nào để đêm 7 tháng 4, 1971, Tổng thống Nixon có thể nói cùng dân chúng Mỹ...”Ðêm nay tôi có thể báo cáo rằng...chính sách Việt Nam hóa đã thành công!!...” Nhưng tất cả lời tuyên bố, thái độ chính trị dù thế nào chăng nữa, chỉ biết có một điều thực tế. Nơi mặt trận Hạ Lào, quân cộng sản đã áp dụng một chiến thuật xử dụng pháo binh khác lạ...”phân tán pháo binh, tập trung hỏa lực...” và lần đầu tiên xe tăng đã đưa vào chiến trường. Không một viên đạn bị bắn phí, bắn trật ngoài mục tiêu. Căn cứ hỏa lực của Tiểu đoàn 37 Biệt Ðộng Quân, đơn vị đóng cực bắc của hệ thống bố trí quân bị nhổ đi trong một thời gian rất ngắn. Với chiến trường quy mô lớn, quân số tham chiến cấp quân đoàn, một tiểu đoàn không có là bao, hơn nữa đây là một tiểu đoàn (mà đúng ra bị) bố trí vào trong một trận địa pháo mà địch quân đã chuẩn bị từ lâu. Không rõ từ bao lâu, chỉ biết những pháo thủ cộng sản đã gióng trước với những toán quân tiền phong qua máy truyền tin kiểm thính được... ”...Chúng mầy sẽ biết trận địa pháo của quân giải phóng...” Và lời đe dọa trở thành hiện thực với những đợt pháo kéo dài từ bình minh tiếp qua trưa vào chiều tối. Pháo không chỉ từ vài vị trí, từ một hướng tiến quân, phía kẻ nghịch. Công sự dần dần bị bóp vỡ, ụ súng lớn nát rời manh mún, nòng thép những khẩu pháo cong lại, bộ máy cò chảy mềm…Người lính đứng tròng mắt dưới giao thông hào, liếm cặp môi khô chờ tiếng xích vang âm âm từ đâu trong lòng đất, xuyên lường đất…Và từ khi nhướng mình lên thì tiếng xe đã đỗ chụp từ trên bờ hầm. Tại bộ chỉ huy hành quân ở Khe Sanh người ta vẫn không tin điều gọi là “xe tăng cs” đã vào trận địa, và viên tướng tư lệnh chiến trường hằng ngày sau giờ làm việc vẫn bay về Ðà Nẵng đánh tennis để hôm sau trở lại bộ tư lệnh tiền phương nghe những báo cáo “…Sau căn cứ hỏa lực Tiểu đoàn 37 Biệt động, đến đồi 30 Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và cuối cùng…Lữ đoàn 3 Dù ở đồi 31, mũi nhọn tiến quân xa nhất của chiến dịch bị tràn ngập. Trong tình cảnh nầy, Lữ đoàn A TQLC còn lại đơn độc giữa trùng vây của ba sư đoàn quân Bắc-Việt, sau khi Tiểu đoàn 1/4 Sư đoàn 1 Bộ Binh bị tan nát ở mục tiêu Tchépone, mà thật sự đã là chiếc bẫy khổng lồ gương sẵn từ lâu. Tiểu đoàn 2 ”Trâu điên” gánh khối nặng của trận chiến không cân sức và bi thảm nầy. Phúc, “Robert Lửa” Nguyễn Xuân Phúc, trở nên tụ điểm tất cả nguồn lửa lớn toàn chiến trường. Và anh đã xác chứng cái tên tiền định kia quả xứng đáng với phẩm chất con người. Anh nói với Ðạt, chỉ huy trưởng pháo binh, đơn vị duy nhất còn lại của trận địa “Ông khỏi yểm trợ cho ai nữa, hạ nòng súng xuống…cua nó bò lên con nào, ông nướng ngay con ấy cho tôi!” Cua, anh dùng chữ với ý thức khinh miệt hơn là khôi hài để chỉ những chiến xa Bắc quân. Và đến lúc cuối cùng, anh hét lớn qua máy truyền tin…”ông khỏi cần hỏi lệnh tôi, còn bao nhiêu chơi hết bấy nhiêu…” Bỏ chiếc ống liên hợp máy truyền tin xuống anh mỉm cười…Hóa ra mình là người chỉ huy độc nhất còn lại của chiến trường. Hai tiểu đoàn 4 và 7 ở vùng ngoài căn cứ vùng vẫy tuyệt vọng giữa đám kẻ thù say máu như con hổ trọng thương bị loài kênh kênh rúc rỉa. Phúc hướng dẫn từng phi tuần từ hạm đội 7 bay vào cứu bạn. Những viên phi công Mỹ dần quen giọng nói của ”Foxtro“ (ám danh truyền tin không-lục của Phúc với phi công Hạm đội 7) để đến một đêm…Ðêm hỏa ngục lật ngược để bày ra trên trần gian nguồn lửa lênh láng hung tàn không hề cạn. Lửa rùng rùng lay động suốt dãy núi rừng ầm vang tiếng nổ. Tiếng nổ của đại pháo, hỏa tiển bắn từng đợt, từng tràn một lần mười, hai mươi trái, từ bốn, năm vị trí. Trong chuổi âm động quái dị ấy, tiếng súng tay đì đẹt nhỏ nhoi như một loại pháo lép và cuối cùng với trái bom. Bom ném một lượt từ ba phi tuần phản lực nối cánh nhau như cảnh tượng trong các phim chiến tranh. Phi cơ Mỹ bao vùng suốt từ sáng sớm…Ðà Nẵng, Thái Lan, Hạm đội 7, Guam…qua chiều, vào đêm bay đến.

…Và đêm đến, lính Bắc từ hang ổ, từ đường thông thủy, từ giao thông hào, từ địa đạo theo xe tăng tiến lên đồi tiêu diệt bộ chỉ huy Lữ đoàn A, Tiểu đoàn 2 pháo binh qua hàng rào phòng thủ của “Trâu điên”. Và Tiểu đoàn 2 TQLC đã thực sự là một con trâu điên trong cơn đương cự cuối cùng đơn độc. Phúc đã theo dõi và thấm hiểu nỗi đâu những lần thất thủ của Tiểu đoàn 37 Biệt-động, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 3 Dù…Nào có phải ai đâu người lạ, những Hoàng Phổ khóa 17, đàn em xa Trụ khóa 20 và nhất là phía Sư đoàn 1 Bộ Binh với Lê Huấn, Trần Ngọc Huế, những người đã bị anh phạt chạy dã chiến lên đồi Bắc, miếu Tiên Sư ở những ngày Ðà Lạt hằng hai mươi năm trước. Nay anh cũng đang có mặt cùng đàn em trong lần chạy khốn nạn vượt qua cái chết và vũng lửa. Anh luôn giữ lời hứa cùng bằng hữu, với đàn em. Anh lại càng không thể bỏ qua trách nhiệm với những người đã nhất mực tin cậy nơi anh, những người lính cùng đơn vị, những chiến hữu cùng chung mầu áo. Hai Tiểu đoàn 4 và 7 phía ngoại vi căn cứ chỉ còn một đường liên lạc qua tần số của Tiểu đoàn 2 “Trâu điên”, Phúc hướng dẫn phi cơ Mỹ thả trái sáng để hai đơn vị nầy lần đường về phía Nam, nơi các tiểu đoàn 3 và 8 TQLC đang đợi «bắt tay». Bộ chỉ huy Lữ đoàn A đã hoàn toàn tê liệt, pháo binh chỉ còn những viên đạn và khẩu đội cuối cùng, Thiếu tá Ðạt, chỉ huy trưởng pháo binh báo cáo… Tụi nó tràn ngập vị trí…tôi phá súng… Và cuộc hỗn chiến trong đêm bắt đầu. Tiếng súng lớn đồng im bặt, tiếng súng nhỏ cũng không còn, chỉ còn âm động của da thịt người bị xé rách, đâm nát và vỡ nhầy dưới dây xích xe tăng. Trong bóng tối chập chờn tàn lửa, nghi ngút khói, dấu vết của những trận pháo càn từ bao ngày qua, từ giờ trước…Những bóng người nhào vào nhau, tìm đường chạy và cách thức giết người có hiệu quả. Anh hằng tiên liệu rõ giây phút bi thảm ghê gớm nầy, nên đã ra lệnh cho binh sĩ thuộc quyền “tay áo phải xắn cao, tay áo trái thả dài xuống…” dấu hiệu nhận bạn giữa đêm tối, vượt nỗi chết. Và từ vũng sâu cảnh địa ngục trần gian kia người ta nghe rõ ràng tiếng hét lớn lập lại nhiều lần…”I‘m crazy buffalo bataillon commander…đ…m tao ground chief…go ahead, do it please…” Bầu trời và mặt đất cùng bị vỡ tung một lượt, những trái bom chạm nỗ ngay khi vừa rời khỏi cánh tàu bay. Phúc nương theo đợt dội bom, hứng đủ trận dội bom, bảo vệ bộ chỉ huy Lữ đoàn, tiểu đoàn 2 pháo cùng tất cả đơn vị rút đi. Trong bản ghi dữ kiện của máy bay, tọa độ dội bom cũng chính là tọa độ của Lữ đoàn A mà viên phi công đã yểm trợ từ bao ngày qua!! Anh ta lẩm bẩm trên đường trở về hạm đội…what’s he hell crazy guy…!! Khi nhớ đến lời yêu cầu của “Foxtro“. Bốn giờ sáng, Phán, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 TQLC từ trên ngọc núi Cô-rốc, đỉnh núi cao nhất của vùng, nhìn suốt đủ hai sườn đông, tây Trường Sơn, lắng tai nghe tiếng nói khẻ, đứt khúc của Phúc…”…mầy, …mầy làm ơn thắp…đèn cầy…(trái sáng), tao dẫn tụi thằng 4 và 7 và con cái tao về…” Chín giờ sáng hôm sau, Phán xuống núi. Phúc đang dìu Ðại tá Thông bước đi. Giữa đám quân tan tác, anh là người nhỏ, thấp, gầy nhất. Nhưng quả tình anh cũng là người “cao, bền” hơn hẳn. Anh luôn giữ lời và chứng tỏ đủ.

Anh Nguyễn Xuân Phúc thân kính!

Ðến hôm nay tôi vẫn không tin, không thể nghĩ ra được sáng mồng Hai Tết 1974 qua 1975 kia là lần cuối cùng hai anh em gặp nhau. Anh đánh mạt chược với tiền của ai đấy chia ra…”Tao chưa hề có đến trăm ngàn đồng dù làm tiểu đoàn trưởng mấy năm… Ðôi giày nầy ông Giao vừa mới mua cho đấy“. Anh đưa đôi giày lên, hai mắt ửng đỏ như sắp “lột“ người ta, lăm nhìn tôi khi tôi tỏ ý thắc mắc về đôi giày.

Nhưng thật sự không phải như thế. Ðằng sau những lời nói gầm gừ, nhát gừng ấy, sau nhãn quan sáng lửa cuồng nộ ấy…Anh có một điều gì khác. Ðiều không hề nói ra. Như đêm rượu ưu uất ở nhà thờ Mỹ Chánh, đêm 1 tháng 5, 1972, khi anh đã cạn hết két bia không đá và làm vỡ chai Johnny Walker. Rượu đỏ lênh láng loáng ánh đèn cầy, anh soi mặt vào vũng lửa im lặng nói câu đứt khúc “…Chiến tranh gì như c…còn mấy cái xác Biệt-động-quân nằm bên kia bờ không ai chôn…” Bên kia là bờ sông Mỹ Chánh, Bắc quân dàn ba sư đoàn có xe tăng yểm trợ. Bên nầy là Tiểu đoàn 2 TQLC của anh. Toàn bộ thế trận miền Nam, vùng hỏa tuyến được quyết định trên bảy mươi thước bề ngang nầy – Tất cả nằm trên vai anh và một tiểu đoàn quân số năm trăm người. Và cũng như lần bửa đó, giữa tiếng rung của núi oằn mình, bởi thảm bom B52 đánh “full box”, dưới tầm đại pháo từ Hạm đội 7, lẫn trong tiếng nỗ bục của đạn 130 ly Bắc quân từ La Vang xuống…Giữa âm thanh, sức nỗ và sự chết, vượt quá hơi men của rượu, anh bứt thoát đi xa hơn, cao hơn. Và rõ ràng hơn anh chìm xuống với cơn đau riêng. Nỗi ÐAU một mình anh đương cự.

Quả thật anh vẫn dấu kín một điều gì.

Như trong lần rượu ở khách sạn Hương Giang, Huế? Anh tì tay lên lan can, nhìn xuống giòng sông đêm loáng ánh điện, phía Vĩ Dạ cuối sông, trời u uất, mờ đục không trăng sao. Vết sẹo trên mặt nâu bóng lại, thẫm mầu hơn, anh cạ mép đáy ly lên đó, ngồi im lặng, đơn độc. Ðêm quá khuya…Anh gục xuống. Người chủ quán đi báo quân cảnh “…Có anh lính ngồi ở quán ôi, anh ta ngồi một mình, say quá…Hình như anh đang khóc…” Vâng, có thể anh đã khóc một mình. Không ai biết được, kể đến hôm nay.

Sau đây là câu chuyện nhỏ, có thể anh không nhớ, có nhớ chăng anh cũng không nói cùng ai. Buổi chiều mưa tháng sáu năm xưa, của hai mươi ba năm trước, ở quán 222 Thủ Ðức. Trời mưa lớn, thứ mưa dầm giữa mùa miền Nam. Mưa cuốn hết đất trời ra thành nước và trút xuống như tuông chảy hết chất chứa oán hờn. Tôi ngày ấy cũng đang tang thương lang bạt, không gia đình, không đơn vị, một thân vô định theo trời mưa trôi qua Thủ Ðức. Anh ngồi ở góc quán, phía cực phải cạnh hàng rào cây lá. Quán vắng, anh là người khách độc nhất. Thường ngày, có lẽ anh cũng như tôi thế nào cũng nhâïp vào sinh hoạt ồn ào của quán rượu với đối tượng sống động, bà chủ M…Nhưng chiều ấu, trong vũng mưa sũng ướt phiền muộn, cách thế bề ngoài ồn ào sống động kia cũng đã trôi theo giòng lũ cuồng cuộn chảy qua mặt nhựa đường ngập sâu trước quán. Hai anh em ngồi im như mối quạnh hiu trần truồng không thể che dấu. Uống đến chai Martell thứ hai. Không một lời trao đổi. Này…uống đi!! Anh chỉ có những tiếng ngắn ghìm ghìm trong cổ. Mắt anh ráo hoảnh nhìn trừng trừng ra màn nước mù mù. …Sao ông ấy buồn ghê thế?! Tôi nghĩ thầm vì biết nói ra sẽ là điều ngu xuẩn vô duyên.

Cuối cuộc chiến, tháng Ba năm 1975, với chức vụ Lữ đoàn trưởng, anh đưa Lữ đoàn thay thế Lữ đoàn Dù ở đồi 1062, Dục Ðức, Quảng Nam, nơi binh chủng Dù đã chận đứng, bẻ gẫy mũi tiến công của cộng sản về Ðà Nẵng. Anh Tùng, cũng là bạn, là niên trưởng của tôi, cùng khóa với anh, Lữ đoàn phó, một Ðỗ Hữu Tùng đã làm sáng quân sử với chiến công bắn cháy hằng chục chiến xa, bắt sống năm chiếc khác khi chỉ huy Tiểu đoàn 6 TQLC trong trận chiến ngày Hè đỏ lửa 1972. Nhưng hôm nay thời thế đã xoay chiều, chiều ngang ngược, đau đớn, bi thảm, đơn vị của anh, Lữ đoàn 147 TQLC, đơn vị tổng trừ bị của quốc gia một mình giữ Ðà Nẵng đối diện với ba sư đoàn vc. Và Ðà Nẵng của 29 tháng 3, 1975 không người lãnh đạo, không lệnh chỉ huy, và không cả đến thuộc cấp nghe lệnh. Phúc và Tùng biết làm gì?? Hai anh có thể làm gì??

Ngày 29 tháng 3, 1975 tôi ở Nha Trang, từ cao độ của trực thăng nhìn đoàn tàu thuyền bươm chải vượt sóng xuôi Nam. Nghe trong máy truyền tin không-lục âm vang đau thương của những máy bay bị nạn. Ông ấy có việc gì không? Ðằng Giao hỏi câu đầu tiên khi tôi về tới Sài-Gòn …Không biết, không nghe thấy… Bên Thủy Quân Lục Chiến cũng không ai hay…Thế anh ở đâu, đã ra sao trong giòng bão lũ tan vỡ quê hương, nát rời Ðà-Nẵng, hỡ anh Phúc?!!

Sau 30 tháng Tư, tôi đến nhà, anh Thọ rót ly rượu nhỏ. Chưa bao giờ phải uống ly rượu gớm ghê đến thế. Muốn kêu một tiếng xé gan.

Nhưng đến bây giờ, năm thứ mười chín kể từ ngày gãy cờ, bẽ súng… Còn hy vọng nào nữa khi nghĩ về một người bạn, một người anh vắng mặt từ lâu. Nơi trại tù ngoài Bắc suốt mười năm, kết hợp chi tiết rời rạc từ nhiều người… Tôi đã thấy nên toàn cảnh. Vâng, cảnh cuối cùng ở Ðà Nẵng, của Quân đoàn I với Lữ đoàn 147 của anh…

Trên bãi biển Mỹ Khê, nơi căn cứ Hải Quân Tiên Sa từng đoàn người, từng đám người thất thần khiếp đảm xoay trở, quanh quất mé nước, cuống quýt giữa vũng sâu…Và trên đầu pháo chụp. Không nón sắt, không áo giáp, anh và Tùng thản nhiên đi bên cạnh những quả đạn nỗ bùng, bước lên những thây người. Anh bước xuống mé nước nhìn ra xa… Tàu Hải Quân Việt Nam, tàu Mỹ, tàu buôn đủ quốc tịch… Với ánh mắt buồn phiền của người già nhìn ngôi từ đường bốc cháy. Ðôi mắt đứng tròng của Prometheus treo người trên sườn núi nhìn máu tự thân khô kiệt giọt cuối cùng. Anh nghe tiếng khô nhỏ của súng colt bóp cò, bởi đầu đạn đã nằm im trong da thịt người bị xé bung. Anh nghe tiếng kíp lựu đạn bật nỗ… tui chết đây trung tá ơi… Lính Lữ đoàn 147 gởi lời chào vĩnh quyết người chỉ huy và da, thịt, xương, mảnh vụn áo quần, tia máu sẫm tươi bắn tung tóe rơi lấm chấm trên cát xám loang lỗ đã sẵn rải rác, lềnh kềnh những tay chân đứt khúc, thân người sâm sấp vào ra theo triền sóng. Và đau đớn hơn tất cả. Tan vỡ hơn tất cả… Gã mặc đồ lính (cũng quân phục tác chiến nhảy dù nhưng không thể là lính Dù vì lữ đoàn bạn đã bàn giao lại cùng Tiểu đoàn 7 TQLC từ ngày 25 trên đèo Hải Vân)… chỉa XM16 vào người đàn ông thất sắc… đ..m có gì lấy ra hết!! Người nầy cuống cuồng, thất sắc… xin anh thương tình… tôi cũng là đại úy!! …đ..m.. đại úy bắn theo đại úy!!! … Viên đạn nỗ toang trên đỉnh trán, những miếng xương sọ nỡ vụn bay bay. Gia đình người sĩ quan ngã chụp trên xác thân co giật. Quả đạn 130 ly nỗ bên cạnh ném tung khối người cùng một lúc!! Anh và Tùng nhìn nhau.

Bởi anh không thể chết. Anh ÐAU hơn cái chết. Anh phải vượt qua cái chết.

Anh và Tùng nhập vào đám đông, cố tìm đường về Nam, theo đường bộ… Và đã bị bắt một nơi nào ở Quảng Nam, Quảng Ngãi hay lần tới Phan Rang, Nha Trang…?? Hoặc có thể hai anh đã chung một lần, lần cuối cùng với những người lính TQLC trên bãi biển Tiên Sa, nơi căn cứ Hải quân Ðà Nẵng…Không ai biết. Chỉ biết, hai anh đã chết một nơi nào đó trên quê hương miền Nam, vùng đất các anh đã chọn từ ngày thanh xuân và riêng anh. Nguyễn Xuân Phúc đã sống hết đời vô cùng chung thủy. Chung thủy trong cả nghĩa đen, vì thật sự anh vẫn là người đàn ông độc thân, chỉ một lần “ở lính” và sống một mình.

Hai anh đã đi quá sự chết và hằng sống với chúng tôi. Cho dù bao xa và bao lâu. Anh Phúc ơi.

Phan Nhật Nam (Những Chuyện Cần Ðược Kể Lại, 1995)



Theo Phạm Huấn, thuật lại trong quyển Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, thì những giờ phút sau cùng của Trung tá Nguyễn Xuân Phúc Lữ đoàn trưởng và Trung tá Ðỗ Hữu Tùng Lữ đoàn phó như sau:

13 năm sau, kể từ 1962, trong trận chiến mất nước tháng 4/1975, các cựu Sinh viên Sĩ quan khóa 16 trường Võ Bị Ðà Lạt, một số những người còn sống sót đã chứng minh, đã giải thích về tài ba và cuộc đời anh hùng của họ. Ðó là những Trung đoàn trưởng, Lữ đoàn trưởng, Tiểu đoàn trưởng tài giỏi trong số những người xứng đáng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong cuộc rút quân ngoài vùng I, những tuần lễ cuối cùng, Lữ đoàn 369 TQLC trấn đóng tại vùng núi gần Ðại Lộc, cách Ðà Nẵng khoảng 40 cây số; Lữ đoàn nầy do Nguyễn Xuân Phúc làm Lữ đoàn trưởng, và Ðỗ Hữu Tùng, Lữ đoàn phó, đều là các cựu Sinh viên Sĩ quan khóa 16 Ðà Lạt.

11 giờ đêm ngày 28 tháng 3, 1975 được lệnh rút khỏi Ðại Lộc về Ðà Nẵng. Cũng từ giờ phút đó, trong 25 giờ liên tiếp, Nguyễn Xuân Phúc, Ðỗ Hữu Tùng và các cấp chỉ huy khác của Lữ đoàn 369 Cọp Biển đã làm việc liên miên, tổ chức, chỉ huy và kiểm soát cuộc rút quân. Những đơn vị trấn đóng quanh quận Ðại Lộc cùng với Bộ chỉ huy Lữ đoàn phòng thủ, bố trí tại chỗ, và sẵn sàng tiếp cứu các Tiểu đoàn đóng trên những cao điểm, những triền núi, ưu tiên sẽ được rút ra trước.

Ðoàn xe đầu tiên về đến bãi biển Sơn Trà, Ðà Nẵng lúc 9 giờ sáng ngày 29 tháng 3. Việt cộng pháo vào thành phố, vào những nơi tập trung quân của ta, nhưng tình hình chưa nguy ngập; do đó, vị Lữ đoàn trưởng trẻ tuổi anh hùng, Trung tá Nguyễn Xuân Phúc lái xe trở lại phòng tuyến Ðại Lộc đón những Tiểu đoàn còn lại trên đường rút quân.

12 giờ trưa, Trung tá Ðỗ Hữu Tùng, Lữ đoàn phó chỉ huy đưa những người lính sau cùng của Lữ đoàn 369 TQLC về tới vùng biển Ðà Nẵng. Nhưng lúc nầy nước xuống, những chiến hạm Hải Quân đậu cách bờ hơi xa. Hỗn loạn, vô tổ chức, không ai chỉ huy, không ai trách nhiệm tại bãi biển. Dân chúng và các đơn vị quân đội đổ về mỗi lúc một đông hơn. Ðỗ Hữu Tùng vừa ngạc nhiên, vừa thất vọng. Anh đi ngược lên núi Non Nước, nơi đặt bản doanh của Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến. Nhưng Bộ Tham Mưu Sư Ðoàn không còn ai cả, trừ người Hạ sĩ quan Quân Cảnh đứng gác phía ngoài. Tùng chán ngán, sắp sửa bỏ đi thì một chiếc trực thăng võ trang đáp xuống. Người phi công cũng là bạn cùng khóa với Tùng, yêu cầu anh cùng bay, đi tìm kiếm một người bạn khác, một Phi công A-37 mới bị bắn rớt. Tùng vừa đau đớn, vừa căm hận các cấp chỉ huy của mình. Anh mệt mỏi theo bạn lên trực thăng. Nhưng đây cũng là chuyến đi cuối cùng của anh. Ngay khi trực thăng vừa bốc lên, một loạt đạn 12 ly 7 của Vc bắn trúng. Người xạ thủ đại liên sống sót trên chiếc trực thăng võ trang kể lại, khi trực thăng rớt, người Phi công và Tùng đều bị thương khá nặng. Lúc vc ập đến, cả 2 sĩ quan này cùng rút súng bắn vào đầu tự tử!

Mười ba năm sau nữa, tháng 3 năm 1988, đa số những cấp chỉ huy của QLVNCH trước đây, các Tư lệnh Sư đoàn, Trung đoàn trưởng, Lữ đoàn trưởng nếu còn sống, đã được CSBV thả về. Nhưng tin chắc chắn của các sĩ quan cao cấp bị giam cầm tại khắp các trại tù miền Bắc, những người bị tù từ 10, 12 năm trở lên; họ đều nói không ai gặp Nguyễn Xuân Phúc và Ðỗ Hữu Tùng.

Ðỗ Hữu Tùng đã tự tử và Nguyễn Xuân Phúc bị mất tích ngay buổi trưa 29/3/1975 tại vùng biển Ðà Nẵng. Nhưng có một người đàn bà vẫn tin rằng Ðỗ Hữu Tùng còn sống. Người đàn bà với biệt hiệu Kim Liên, và cũng là một trong những người đàn bà Việt Nam nổi tiếng nhất trong gần ba thập niên liên tiếp, 1960-1988. Trong kỷ niệm, và một tình yêu lớn nhất, Kim Liên cả quyết với bạn hữu, khi nhắc đến người anh hùng Ðỗ Hữu Tùng:

- Không! Tùng còn sống, không bao giờ chết cả!

Một người bạn thân hỏi Kim Liên:

- Lần nói chuyện cuối cùng của Kim Liên với Tùng?

- 11 giờ 30 đêm 28/3/1975!

- Tại đâu?

- Tùng gọi từ Ðại Lộc về Sài Gòn trước khi rút quân.

- Kim Liên hãy tiết lộ cuộc đối thoại này, như một kỷ niệm với người anh hùng mà chúng ta cùng kính phục, quý mến!

- !!!

- “ Tùng!

- Em!

- Tùng đang ở đâu?

- Anh đang từ trên núi, sắp xuống biển, về gần em hơn.

- Tùng vẫn giữ lời hứa với em chứ?

- Chắc chắn!

- Thế có nghĩa là em sẽ gặp Tùng ngay đêm nay sau khi nói chuyện?

- Không! Trời ơi!

- Tại sao?

- Anh xin lỗi vì đã làm em hiểu lầm câu nói của anh? Anh chỉ gặp em ngay sau khi nói chuyện, những lúc hoàn cảnh cho phép. Như những lần anh về Sài Gòn, hay em bay ra Huế thăm anh.

- Còn đêm nay?

- Không! Không! Ðơn vị anh sắp di chuyển, không bao giờ anh bỏ lính của anh cả. Em hãy hiểu và tha thứ cho anh!”

Người bạn chăm chú nghe từng lời nói của Kim Liên, rồi hỏi lại nàng:

- Hiện nay Kim Liên còn giữ được những gì ở Tùng?

- Nhiều lắm, tất cả! À, không…chỉ có một bức hình!

- Kim Liên cho mượn bức hình đó in vào sách, để những bạn hữu khác thấy lại Tùng?

- Không! Bức hình nầy là của riêng Kim Liên, không ai có thể chia xẻ được.

- Kim Liên ích kỷ!

- Ðúng! Chồng của Kim Liên cũng biết điều đó, biết Kim Liên ích kỷ, nhưng không bao giờ thắc mắc. Anh là người hiểu biết, rộng lượng, rất tôn trọng dĩ vãng của Kim Liên.

- !!!

Phạm Huấn (Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975).

...

Ðại tá Phạm Văn Chung (Chu Vũ), nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến (năm 1972) viết về Trung tá Ðỗ Hữu Tùng như sau trong chiến sử Thủy Quân Lục Chiến:

...nhân danh là vị Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 6 TQLC “Thần Ưng“ có vài cảm nghĩ như sau:

- Trung tá Ðỗ Hữu Tùng, vị Tiểu đoàn trưởng lâu nhất, cũng là người dìu dắt Tiểu đoàn 6 TQLC lập được nhiều chiến công hiển hách lẫy lừng.

- Ðỗ Hữu Tùng sống anh dũng, khi về thì lặng lẽ biến đi, để lại biết bao thương tiếc cho bạn bè đồng đội và một mối tình sâu cho người nữ ca sĩ nổi danh.

- Nhiệm vụ sau cùng là Lữ đoàn phó Lữ đoàn 258, anh cùng với Lữ đoàn trưởng Nguyễn Xuân Phúc mất tích vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, hơn hai mươi năm, chúng tôi vẫn không tìm kiếm được một dấu tích nào về các anh.

Khi ngồi ghi lại những dòng này, người viết không khỏi bùi ngùi, xúc động tưởng nhớ các anh, những chiến hữu đã cùng người viết chia sẻ mười mấy năm vinh nhục trong cuộc nội chiến phi lý nhất lịch sử Việt Nam.

***

Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc LĐT/LĐ369: Người Niên trưởng đơn độc.

nguyễn xuân phúc

Trung tá Nguyễn-xuân-Phúc

Cuối năm 1967, Chúng tôi được phân phối về Tiểu đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến đang nghỉ quân tại Quận Giáo Đức Mỹ Tho sau chiến thắng lớn bên bờ kinh Rạch Ruộng. Chúng tôi hân hạnh được trình diện người Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5/TQLC Đại úy Nguyễn Xuân Phúc, sau khi trình diện xong anh vui vẻ mời chúng tôi dùng bữa cơm đạm bạc với vài chai bia, vừa ăn uống vừa nói chuyện, anh tự giới thiệu anh xuất thân khóa 16 Võ Bị. Chúng tôi nhìn nhau và hiểu thầm “ anh là người đại niên trưởng của mình”, anh dặn dò những điều cần thiết ở ngoài chiến trận, phong cách của sĩ quan đối với binh sĩ, đối với cấp trên với lời lẽ đơn giản với dáng mặt luôn sẵn sàng vui vẻ mà chúng tôi sau này mới hiểu ra rằng, nó giản dị như đời sống của anh: anh đã sống với thuộc cấp một cách chân tình, vô cùng lì lợm trong chiến trận, ý thức trách nhiệm cao cuả cấp chỉ huy đối với đơn vị và thuộc cấp.

nguyễn xuân phúc

Ngày trở về hậu cứ năm đó trong lễ khao quân của TĐ5/TQLC, tôi được anh cho phép qua sự giới thiệu của niên trưởng Đỗ Hữu Tùng, cùng với một người bạn chuẩn úy tên Trần Thanh Tùng, chỉ dẫn cho sĩ quan trong đơn vị khiêu vũ, với một văn thư khá ngộ nghĩnh: “các sĩ quan phải học nhảy, để mở buối khiêu vũ trong dịp lễ khao quân, ai vắng mặt một buổi sẽ nhận 3 ngày khinh cấm, 2 buổi là 3 ngày trọng cấm…”nhưng riêng anh không học, tôi hỏi anh, anh vui vẻ cười: chú mầy yên tâm, ông anh sì lô thì 2 chai, boléro thì 3 chai còn các điệu khác thì 5 chai trở lên… thế đó nghiêm trang khi cần, vui vẻ và dễ thương không cùng có thể nói rằng : trong hàng sĩ quan TQLC anh là người chỉ huy được hầu hết thuộc cấp thương mến, kính trọng và anh cũng là người thuộc cấp được cấp trên tin trưởng và tôn trọng …Trong những năm tháng trên chiến trường Quảng Trị anh là TĐT/TĐ2/TQLC là người TĐT đã để lại cho mọi người những ấn tượng hào hùng, kính nễ (xin mời qúy vị đọc nhiều bài viết về người TĐT huyền thoại này cuả nhiều tác giả trong và ngay cả ngoài đơn vị TQLC trên trang Web TQLC ). Một điều nữa làm cho chúng tôi và bạn bè thương mến, vinh dự hơn về anh: suốt đời binh nghiệp chỉ biết ăn tiêu bằng đồng lương của chính mình, bởi vậy mà anh vẫn còn độc thân khi đi vào miền tận cùng của đời người. Tôi không tìm hiểu nhiều về người Niên trưởng có đời sống đơn độc này vì chỉ chừng đó thôi, tôi cũng đã kính trọng, thương mến và ngưỡng mộ anh khôn cùng

Trong những phút ngắn ngủi còn lại sau cùng trên bãi biển Non Nước Đà Nẵng, tôi đã gọi Trung tà Đỗ Hữu Tùng:

-Thái Dương đây Tân An.

-Nghe Tân An tốt, tới đâu rồi.

- Trình Đại bàng, chúng tôi tới được bên này sông Hàn.

- Tốt, anh có gặp một Tiểu đội cuả Hà Nội (danh xưng cuả Thiếu tá Hợp ) đón ở đó không?

- Không.

     Tôi nghe tiếng nói cuả anh Tùng trong ống liên hợp và chiếc loa nhỏ gắn trên máy PRC.25 không được rõ ràng, lẫn lộn với một loại âm thanh thực quen thuộc, hình như tiếng cánh quạt  cuả trực thăng hay tiếng sóng biển vỗ vào mạn tàu.

-  Thái Dương đang ở đâu, trên máy bay hay trên tàu thủy.

-  Sao Tân An lại hỏi vậy?

-  Vì tôi nghe tiếng quạt đập gió hay tiếng oằm oặp cuả sóng.

-  Không tàu cũng chẳng máy bay, đó là tiếng sóng vỗ bên bờ biển.
Tôi nghe tiếng la rất lớn cuả Trung tá Phúc:

-   Cho Tân An ngay tần số cuả Hợp và Hợp có bổn phận đón Tiểu đoàn 9.

-   OK, OK. Tân An đây Thái Dương, hãy ghi xuống tần số này và liên lạc với Hà Nội, để Hà Nội thu xếp đón TĐ9 lên tàu.

-   Đáp nhận Đại bàng 5.

-   Chúc may mắn…Ầm… bỗng tôi nghe trong máy một tiếng nổ rất lớn, cắt ngang tiếng nói của anh Tùng…và chấm dứt cuộc đối thoại. Chấm dứt tất cả…Niên trưởng, niên trưởng không còn gì hết, chẳng còn ai đón đơn vị em được nữa đâu, cám ơn các niên trưởng đã lo lắng, xin nguyện cầu các anh luôn an vui nơi chốn hư vô. Kể từ giờ phút đó, chúng tôi đã mất hẳn liên lạc với NT Tùng và NT Phúc.

Tiếng nổ định mệnh giữa trưa ngày 29/3/1975

Đã bao nhiêu năm tháng qua rồi, cũng đã bao lần vật đổi sao dời, nhưng bên tai tôi hình như vẫn còn nghe cái âm thanh khủng khiếp cuả tiếng nổ ngày đó, tôi thầm nhủ, những người đàn anh mình đã giã từ cuộc sống vì tiếng nổ oan nghiệt này, có phải không ? Tôi cố tìm, cố biết. Nên mỗi khi có dịp về tham dự các Đại hội TQLC tôi thường lần mò tìm kiếm tin tức qua những người quen, bạn bè.

- Thiếu úy Trương Phước Dĩnh. Tháng 4 năm 2004, gia đình tôi di chuyển về sinh sống ở Atlanta- Georgia, khí hậu ở đây ấm áp hơn, tiện việc đưa đón con đi học, vì ở trên Maryland lạnh quá. Bất ngờ tôi gặp lại người thuộc cấp rất thân thiện, anh tên Trương Phước Dĩnh, anh là Trung đội trưởng Truyền tin của TĐ9 ngày xưa. Ngày 27/3/1975 TĐ đang đóng quân ở quận Đại Lộc, anh đã xin phép về thăm gia đình vợ con ở Hội An, Quảng Nam. Lúc 12 giờ khuya 28/3/1975 Tiểu đoàn được lệnh di chuyển, trong cảnh loạn lạc cuả ngày 29/3/1975 anh không thể trở lại nơi đóng quân ở Đại Lộc, nguy hiểm nên anh tìm đường thẳng tới bãi biển Non Nước nơi Bộ Tư Lệnh TQLC, đang tạm đóng quân, Dĩnh cho biết khoảng 10 giờ sáng ngày 29/3, thấy NT Tùng và NT Phúc đứng nói chuyện với NT Trần Văn Hợp TĐT/TĐ2/TQLC.

- Người bạn cùng khoá 22 Kiều Công Cự. Thới gian đó, anh là Trưởng ban 3 Tiểu đoàn 2/ TQLC.

Dĩnh cho tôi biết, anh Cự cũng có mặt sáng hôm đó, trong một cuộc nói chuyện qua điện thoại., tôi hỏi:

- Cự ơi, Cự còn nhớ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975 ở bãi biển Non Nước không?

- Nhớ rõ lắm, Tân An muốn hỏi gì?

- Tân An muốn biết NT Tùng và NT Phúc có mặt ở đó lúc mấy giờ và họ đã làm gì? Và sau đó đi đâu?

- Hồi đó Tân An cũng biết Cô Tô đang giữ chức vụ Trưởng Ban 3 của TĐ2, nên luôn theo sát TĐT Trần Văn Hợp. Chừng 10 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975, chiếc xe jeep dừng lại, NT Tùng vẫn ngồi trên xe, còn NT Phúc đi lại gần chúng tôi đứng nhìn ra con tàu ngoài khơi và hỏi anh Hợp:

- Sao chưa lên tàu?

- Chúng tôi đang đợi tàu vào đón.

NT Phúc cười bảo:

- Nó đếch vào nó sợ bị bắn, thằng nào biết lội cứ lội ra, thằng nào không biết lội thì đi kiếm ghe, kiếm thúng, còn tao và Tùng không biết bơi thì đi tìm con đường khác. Làm việc đi.

Anh trở lại lên xe Jeep cùng với anh Tùng quay xe chạy lên đường. Sau đó anh Hợp cho lệnh tự động mọi người kiếm cách ra tàu.

- NT Trần Ngọc Toàn xuất thân K.16 VBĐL là  TĐT/TĐ18/TQLC, người đã đem 2 đại đội TQLC đổ xuống bãi biển Non Nước có nhiệm vụ đóng quân, bảo vệ cho BTL/SĐ. Anh hiện diện và chứng kiến hầu hết mọi sự việc xảy ra vào buổi sáng hôm đó trên bãi biển Non Nước, anh cho biết: Anh Tùng và anh Phúc có mặt ở bãi biển vào lúc 9, 10 giờ sáng, sau khi Phúc dặn dò Hợp những gì đó anh không rõ, các anh lên xe jeep đi. Còn anh Toàn cùng với những người lính cuả mình dùng thùng đạn trống và phao lội ra tàu, khi anh được vớt lên tàu lúc đó là 11 giờ. Khoảng gần 1 giờ trưa, 1 chiếc thúng lớn ( người dân ở đây dùng thúng thay thế cho thuyền nhỏ ) tắp vào tàu trên đó có 4 người lính, một người tên Đực, tài xế tâm phúc của NT Phúc (Đực được NT Phúc đem theo từ ngày anh còn chức vụ Đại đội trưởng). Lên tàu Đực kể cho NT Toàn và mọi nguời nghe: ”Lúc đó hơn 10 giờ, Trung tá Tùng bảo tôi lái xe đưa 2 ông thầy vào phi trường, liên lạc với một người Thiếu tá KQ và 2 ông lên trực thăng. Tôi xin theo ông thầy, nhưng có lẽ đông người nên ông thầy bảo tôi trở về Non Nước tìm đường lội ra tàu.”

NT Toàn nói tiếp: còn một người nữa anh tên Trần Văn Tỷ, Đại úy Pháo đội trưởng TQLC, cũng đã có mặt ở phi trường, xin lên trực thăng nhưng cũng bị từ chối.

Sau tháng 4 năm 1975, NT Trần Ngọc Toàn tập trung cải tạo, thời gian đưa ra Bắc, anh ở trại 3 thuộc liên trại 3 Hoàng Liên Sơn. Những ngày tháng đó cuộc sống quá kham khổ, chỉ mong sao năm tháng vơi mau để được về với gia đình. Có một ngày được nghỉ tại trại, anh em chuyện trò về TQLC, một thiếu tá KQ ( anh không nhớ tên ) kể: “…các bạn không thể tưởng tượng ra được, buổi trưa kinh hoàng của ngày 29/3/1975 diễn ra trước cửa phi trường Đà Nẵng. Chừng 12 giờ trưa, thiên hạ hàng ngàn người, chen lấn, xô đẩy nhau cố vào bên trong phi trường để tìm đường lên máy bay. Thậm chí người ta đạp đổ hàng rào phi trường, mặc cho mìn nổ, vẫn cứ đạp lên xác người mà đi, tiếng la, tiếng hét vang trời lẫn trong bụi vàng mù mịt. Tôi thấy quá nguy hiểm, nên rút lui ra ngoài. chạy được một đoạn đường tôi nghe tiếng nổ lớn, thực lớn trên cao, tôi nhìn lên một chiếc trực thăng có lẽ trúng đạn rớt xuống rất nặng nề, có 2 sĩ quan Trung tá TQLC tử thương. NT Toàn hỏi:

-   Làm sao anh biết là Trung tá TQLC.

-   Họ có mang lon phụ đề và mặc áo quần TQLC…

Niên trưởng Toàn nói, ngày đó có quá nhiều âu lo nên anh không hỏi kỹ càng hơn…

Niên trưởng Tô Văn Cấp K19 VBĐL, anh là Thiếu tá thuộc TTHQ của BTL/SĐ nằm trong căn cứ Non Nước

Trong Email cách đây mấy ngày, NT tâm sự ngắn gọn là lúc 7 giờ sáng hôm đó 29/3/75, anh cũng có mặt ở BTL và cũng đã chuyện trò với các NT Phúc, Tùng và Hợp. Sau khi chia tay nhau với các NT, anh nói: “suýt chút nữa anh cũng chết đuối khi lội ra tàu”

Bao nhiêu nhân chứng thân cận gần gũi với các anh còn may mắn hiện diện hôm nay, với những câu chuyện kể cuả họ, phù hợp với thời gian và sự kiện xảy ra ngày 29 tháng 3 năm 1975, đã cho em biết chính xác: các Niên  trưởng đã đi đâuvề đâu trong ngày tháng đó.

http://www.conongviet.com/Philo-To/mar272011-doanvantinh-xuanaychinhchien.htm

Sự Tích Thập Bát Đại Thần Tướng, Thiên tài Quân Sự Việt Nam Thời Cận Đại:

1/ Thần tướng Trình Minh Thế (1922 - 1955)

2/ Thần tướng Phan-quang-Đông (1929-1964)

3/ Thần tướng Trương Quang Ân, Dương-thị-Thanh (1932 - 1968; 1931-1968)

4/ Thần tướng Nguyễn Viết Thanh (1930 - 1970)

5/ Thần tướng Lê-đức-Đạt (? - 1972)

6/ Thần tướng Trần-thế-Vinh (1946-1972)

7/ Thần tướng Nguỵ-văn-Thà (1943-1974)

8/ Thần tướng Nguyễn-xuân-Phúc (1938 - 1975)

9/ Thần tướng Đỗ-hữu-Tùng (? - 1975)

10/ Thần tướng Nguyễn-hữu-Thông (1937 - 1975)

11/ Thần tướng, Thiên tài quân sự Nguyễn-văn-Hiếu (1929-1975)

12/ Thần tướng Nguyễn-văn-Long (1919 - 1975)

13/ Thần tướng Phạm Văn Phú (1929 - 1975)

14/ Thần tướng Lê Nguyên Vỹ (1933 - 1975)

15/ Thần tướng Trần Văn Hai (1929 - 1975)

16/ Thần tướng Lê Văn Hưng (1933 - 1975)

17/ Thần tướng Nguyễn Khoa Nam (1927 - 1975)

18/ Thần tướng Hồ-ngọc-Cẩn (1938-1975)

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)