vietnam, viet nam, cờ việt nam,

Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch-Sử Quân-Sử Việt-Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa

Thần Việt Điện_Thập Bát Đại Thần Tướng Việt Nam thời cận đại 

quan su viet nam, quân sự việt nam, danh tưóng lịch sử  việt nam, 18 vị tướng thần lớn của việt nam thời cận đại

Thập Bát Đại Thần Tướng Việt Nam - thời cận đại

Điện Thần Việt tôn thờ chư tướng thần
Sinh ra là Tướng chết đi thành thần
Thế, Đông, Ân, Thanh, Đạt, Vinh, Thà, Phúc, Tùng, Thông, Hiếu, Long, Phú, Vỹ, Hai, Hưng, Nam, Cẩn
Ngàn năm sau ghi nhớ gương anh hào.

Trúc Lâm Lê An Bình sưu khảo; Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính năm 2011; 10-2013; 01-2014; 09, 10-2014. (trích Thần Việt Điện tức Tân U Linh Việt Điện)

9/ Anh-hùng, tướng thần Đỗ-hữu-Tùng (? - 1975)

trung tá đỗ hữu tùng

Anh-hùng Đỗ-hữu-Tùng

Anh-hùng Đỗ-hữu-Tùng, biệt hiệu Thái Dương, nguyên Trung tá Lữ đoàn phó lữ đoàn 369 thuộc Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Xuất thân khóa 16 trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Sau khi ra trường tình nguyện về phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Trong cuộc chính biến đẫm máu ngày 01-11-1963, Trung tá Tùng (lúc đó là Trung úy Tùng) phục vụ ở Tiểu đoàn 4 TQLC. Cuối tháng 10-1963, tiểu đoàn hành quân tăng phái cho Quân đoàn IV, tiếp theo lại nhận được lịnh tăng phái cho vùng III. Thật ra, Tiểu đoàn 4 TQLC đã bị các tướng lãnh đảo chánh lừa với "lệnh sơ khởi "Về Sài Gòn chống đảo chánh" -ngưng trích- Nhớ Lại Ngày Đảo Chánh 1/11/1963 của tác giả Trần-ngọc-Toàn.

Và thế chẳng đặng đừng, tác giả Trần-ngọc-Toàn cũng như Đỗ-hữu-Tùng đã tham gia cuộc đảo chánh một cách bất đắc dĩ. Cuối cùng với tâm trạng "bất đắc dĩ nhận cái gọi là Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Vàng" -ngưng trích- Nhớ Lại Ngày Đảo Chánh 1/11/1963 của tác giả Trần-ngọc-Toàn. Thiết nghĩ, đó là tâm trạng chung của người lính Việt Nam Cộng-Hòa (bất đắc dĩ tham gia đảo chánh ngày 01-11-1963) nào thực sự yêu nước thương dân và thiết tha với quân đội.

Năm 1964, Đỗ-hữu-Tùng là Trung úy Đại đội trưởng đại đội 2 Tiểu đoàn 4 TQLC tham gia trận Bình Giả (12-1964); Thăng cấp Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 TQLC vào năm 1971; thăng cấp Trung tá sau trận đánh ở căn cứ Ái Tử tháng 04-1972. Chức vụ sau cùng là Lữ đoàn phó lữ đoàn 369 TQLC.

Đỗ-hữu-Tùng đã vĩnh viễn ra đi về miền vĩnh hằng ngày 29-03-1975 trong lúc điều khiển cuộc rút quân của đơn vị cùng với người lữ đoàn trưởng Trung tá Nguyễn-xuân-Phúc cũng là bạn đồng khóa.

Một cấp chỉ huy tài ba, xuất chúng, luôn có tinh thần trách nhiệm cao, anh-hùng Đỗ-hữu-Tùng được tôn vinh là vị tướng thần thứ chín trong mười tám vị tướng thần lớn của Việt Nam thời cận đại.

Trúc-Lâm Nguyễn-việt phúc-Lộc

***

Sự tích, thần tích liên quan:

XƯA NAY CHINH CHIẾN  …   MẤY AI VỀ.

TQLC Đoàn Văn Tịnh

thủy quân lục chiến đoàn văn tịnh

35 năm qua nhanh như một giấc ngủ muộn màng, tôi thức dậy với thân thể rã rời và đầu óc mệt mỏi. Tôi cứ tưởng mọi chuyện trong đời sống rồi sẽ nhẹ nhàng theo nhau qua đi như giòng nước trên sông vẩn vơ đâu đó, cuối cùng sẽ theo nhau về biển khơi và mất hút Nhưng không, niềm đau cứ như lớn lên trong tâm tưởng mỗi khi nghĩ về đất nước, nghĩ về những tháng ngày cùng bạn bè thuộc cấp trong đơn vị, cùng chia nhau những niềm vui và nỗi khổ, những lúc đó tôi bỗng dưng như thấy mình hụt hẫng đang trên đà rơi xuống vực sâu thăm thẳm, chỉ còn đau thương, chỉ còn những giọt nước mắt thương nhớ, tăm tối và chua xót với một khoản nợ nần đối với bạn bè, thuộc cấp mà tôi chưa trả được, chỉ còn lại một mình với tiếng rên siết nho nhỏ uất nghẹn, một mình tôi với tôi.

Những ai đang sống trong câu chuyện kể của tôi hôm nay, xin hãy tha thứ cho tôi, nếu có những gì tôi kể không được chính xác. Câu chuyện của những người làm lính trận đi mãi không về và một phần đoạn đời của người viết thay vì bố cục của chuyện kể. Và tôi hiểu, chỉ còn một cách này thôi, tôi mới hy vọng những tháng ngày còn lại nhẹ nhàng hơn, thanh thản hơn đôi chút. Sau gần 7 năm tìm kiếm tin tức tôi nghĩ cũng đủ rồi và bây giờ xin mời quý vị cùng tôi đi vào câu chuyện kể.

Phải rồi, câu chuyện sẽ được bắt đầu vào thời điểm: ngày 6 tháng 6 năm 1983…

*
Ngày 6 tháng 6 năm 1983: Người Tù được phóng thích.

Hắn bước qua cổng trại tù Thượng Đức với bộ đồ vải thô màu xanh lam và chiếc nón lá một người dân ở xã Đại Lãnh Quảng Nam cho hắn, mặt mày thực trầm tĩnh trong cái khối óc lãng đãng vô số sự đời và việc đời đang vội vã trở về với tâm trạng: hôm nay hắn được phóng thích khỏi trại tù với một tội trạng không có tên. Những tháng ngày đầu tiên của 8 năm tù ở, hắn nhớ rõ ràng là một cuộc tranh thắng nặng nề gay go, dai dẳng trong sự lựa chọn- chết hay sống.

Và 8 năm còn lại sau đó trôi qua với hắn thực nhẹ nhàng chẳng có chi phải khó khăn, những sinh hoạt thường ngày của một tội nhân trong lao tù Cộng Sản: lao động nặng nề, ăn thiếu, ăn đói, thiếu thuốc hút, thiếu thuốc trị bịnh, bị đập, bị đánh, còng đứng, còng ngồi, bị chửi bới, bị sỉ nhục, cải tạo tư tưởng  v.v…những điều này không thể tàn phá xác thân và tâm hồn hắn được bởi hắn đã cương quyết chọn lựa cho hắn - Sống, hắn phải sống vì hắn chưa giải quyết được bổn phận của hắn, cả mấy tháng trời từ ngày đất nước mất, đơn vị tan tành bước vào cổng tù tội, hắn đã sống dật dờ thê thảm của một kẻ không còn trí óc, suốt ngày lừ đừ không nói không rằng, với cặp mắt hình như có một tấm màn lờ mờ che phía trước có nhìn nhưng không thấy rõ ràng một thứ chi. Đêm đêm nhắm mắt với những giấc mơ thua trận, bị rượt, bị đuổi bắt, hàng chục trận đánh cứ tiếp nối trong giấc ngủ chập chờn, cuối cùng trận nào cũng thua và bị bắt làm tù binh.

Hơn 3 tháng tinh thần sa sút đến khốn đốn, đầu óc hắn dần dần trở lai một cách vững vàng hơn, hắn nhớ rõ ràng chỉ có những phút đầu trước khi vào giấc ngủ là tâm hồn hắn lại trong sáng nhất dù rằng cũng có những lúc hắn buồn, hắn đau đớn. Nhưng rõ ràng có ý thức chiến đấu với bản thân, trước mắt hắn hình tượng Đức Mẹ vô cùng rõ ràng, nét mặt hiền hoà, bao dung với nụ cười nhẹ nhàng khuyến khích, dẫu rằng hắn là người ngoại đạo: con hãy trân qúy đời sống mà bề trên đã cho con, từ đó trong nghĩ tưởng hắn hình dung lần lượt ra nét mặt của người thân trong gia đình: Ông nội, bà nội, bố mẹ và các em hiện rõ dần cho đến khi thực rõ trước mắt hắn… và hắn nguyện cầu cho gia đình được bằng an trong sự chở che nào đó, cứ như thế và mọi đêm đều như thế, và hắn yên tâm đi vào giấc ngủ thực bằng an và những năm tháng dài sau đó trôi đi nhẹ nhàng, dễ chịu hơn.

Sáng nay trên cao trời thực hiền hòa với màu xanh nhẹ nhàng đẹp đẽ, hắn thở hắn hít vô cùng thoải mái và tự nhủ: ngày tháng nào rồi cũng qua thôi, một khoảng thời gian không dài mấy, một đoạn đường cũng chẳng quá xa nữa, hắn lại trở về với gia đình.

Đoàn người đang trên quãng đường dài: Thượng Đức, xã Đại Lãnh hướng về trung tâm huấn luyện Hòa Cầm, cùng với mấy người bạn trong những năm tháng cùng sống chung trong các trại tù với hắn: Trại Kỳ Sơn, Phú Ninh, Thượng Đức rồi Trại Giữa v.v.. cũng được cho về như hắn, họ cười nói huyên thuyên, thỉnh thoảng hắn nhìn họ và nhìn ra xa hơn vùng rừng núi sau lưng, nơi hắn đã gần 9 năm lặn lội, lục tìm, nơi đó hắn đã qua những buổi sáng mùa Đông mưa lạnh, những ngày Hạ nắng cháy như thiêu đốt thịt da.

Họ quyết định cùng nhau đi bộ về thành phố. Không cần phải xe đò, honda ôm, họ muốn nóí chuyện với nhau thực nhiều, tâm sự thực nhiều trước khi chia tay người mỗi ngã: Anh về miền Trung, Huế, Quảng Trị,  Phú Yên, tôi về Tây Ninh, Châu Đốc, Cà Mau… Mỗi đứa rồi sẽ mỗi đường về đâu đó họ cũng chưa biết. Đoạn đường rút ngắn nhanh chóng, thời gian bao lâu, khoảng đường dài bao nhiêu, chúng tôi đã bước vào địa phận của thành phố Đà Nẵng, và bây giờ đang trên đại lộ Hoàng Diệu đông người, kẻ qua người lại họ vui vẻ, tò mò nhìn chúng tôi và nói nhỏ với nhau- Họ là những người ở trại tù nào đó được phóng thích về, có nhiều người muốn hỏi chuyện chúng tôi nhưng chắc họ e ngại. Họ cẩn thận cho chúng tôi tiền để làm phương tiện về quê nhà, chúng tôi vô cùng xúc động chỉ xin cám ơn và cảm thông tâm trạng họ những người còn thương yêu những người lính Quân Lực VNCH…                                     

*
Câu chuyện của Gia đình Niên trưởng Đỗ Hữu Tùng
:

Người con gái từ trong ngưỡng cửa một căn phố trên đường Hoàng Diệu vội vã bước ra  nhỏ nhẹ xin lỗi mọi người và hỏi một người bạn của chúng tôi anh Nguyễn Đình Thái, anh người Huế nhưng sinh sống và làm việc ở tiểu khu Quảng Trị, tính tình vui vẻ:

- Xin lỗi có phải các anh vừa mới được ra tù.

- Dạ phải.

Chị nói thực nhỏ:

- Xin lỗi, cho em hỏi: các anh có ai thuộc đơn vị Thủy Quân Lục Chiến không? Có, Thái chỉ vào tôi.

 - Nếu các anh không phải bận rộn, gia đình em hân hạnh mời các anh vào nghỉ chân một lúc có được không?

 Thái nhìn bạn bè hỏi ý kiến. Anh Phù Chí Phụng và Nguyễn Văn Lợi nhanh nhẩu

- Các bạn có đồng ý không?

Chúng tôi thấy cũng chẳng có chi phải vội vàng, hấp tấp đều gật đầu, đồng ý.

Bước vào căn nhà, tôi kín đáo nhìn quanh, đây là một căn nhà kiến trúc theo lối cổ, nghiêm trang, bình thường. Cô dẫn chúng tôi vào nhà giữa nơi đây có bộ bàn trường kỷ nhiều ghế và mời ngồi, vui vẻ nói, các anh chờ em một tí nghe. Chừng vài phút cô hướng dẫn một bà cụ và vài người chị trong gia đình đến chào hỏi chúng tôi. Bà cụ cười nói.

- Hân hạnh chào và chúc mừng các anh đã qua được những ngày tháng lao đao, hôm nay được trở về với gia đình. Và chúng tôi cũng hân hạnh mời các anh ở lại dùng cơm với gia đình chúng tôi, nghỉ ngơi rồi sáng mai đi có được không? Đồng ý nghe. Chúng tôi lúng túng trả lời câu hỏi của cụ: thưa cụ cho chúng cháu cám ơn thôi.Cụ xúc động nói.

- Thú thực với các anh gia đình chúng tôi muốn được mờì các anh dùng một bữa cơm với tấm lòng, ngoài ra cũng có câu chuyện cần hỏi thăm các anh, mong các anh nhận lời. Tôi thưa với cụ, anh em bọn cháu sẽ ở lại dùng cơm với cụ nhưng xin phép cụ và gia đình sau khi dùng cơm xong chúng cháu xin từ giã.

Cụ yên tâm, thôi vậy cũng được, cầu mong chúng ta sẽ lại còn gặp nhau.

Cụ bảo cô con gái pha trà mời khách, thú thực chúng tôi ai cũng cảm thấy yên tâm và thoải mái qua từng lời nói, cử chỉ của moị người trong gia đình này dẫu rằng họ chưa hề quen biết với chúng tôi bao giờ.

Cụ nhìn từng người một và nét mặt thoải mái như được đón người thân trở về sau những tháng năm dài tù tội. Các cháu có ai cần thuốc men gì không, cụ lần lượt hỏi qua những người bạn của chúng tôi một cách cảm thông, dễ mến. Sau cùng cụ hỏi nhỏ.

- Xin lỗi ai là người lính Thủy Quân Lục Chiến? Chúng tôi nhìn nhau, một chút trao đổi nhưng không ngần ngại, tôi nói nhỏ.

-Cháu là Thủy Quân Lục Chiến.

Cụ vui vẻ.

-Giữa các anh em bác có thể nói chuyện với cháu có gì bất tiện không?

- Dạ, bác cứ nói.

- Vâng, bác cám ơn, trên dáng mặt buồn bã như không còn niềm vui cụ kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về một người lính.

trung tá đỗ hữu tùng

“-Trong gia đình bác cũng có người con trai đi lính Thủy Quân Lục Chiến, nghe như là anh ấy ở Lữ đoàn 369/TQLC sau khi không còn chức vụ chỉ huy một đơn vị (tuy rằng cụ đã lớn tuổi nhưng riêng trong suy nghĩ của tôi, cụ thực vô cùng tinh tế, ý nhị khi nói chuyện về người con của mình). Trước ngày 30 tháng 3 năm 1975, vào khoảng ngày 17, 18 tháng 3 năm 1975 bác biết Tùng đã theo Lữ đoàn chuyển quân về Đà Nẵng, nhưng Tùng cho biết anh vô cùng bận rộn không thể ghé thăm gia đình được, hồi đó thành phố Đà Nẵng như đang sống trong cơn sốt kinh hoàng, trên đường phố đông người chạy ngược chạy xuôi hớt hơ, hớt hải. Cứ như thế, liên tục không làm ăn mua bán mà chỉ tìm đường về trong Nam, cho đến chiều ngày 29 tháng 3 năm 1975 súng đạn nổ ran, ầm ỉ liên tục từ hướng phi trường Non Nước dội về, người ta cho gia đình bác biết chiến trận lớn đang diễn ra giữa TQLC và Việt Cộng, cả gia đình như đang ngồi trên đống lửa, đang lo sợ nhiều thứ: sợ cho Tùng , sợ cho TQLC, sợ chiến trận xảy ra lớn quá nguy hiểm cho thành phố, đến không ai nhớ phải ẩn núp vào những nơi đã chuẩn bị trong nhà, suốt đêm đó hoả châu được thắp sáng trên trời mé bên phía An Hải. Qua đêm kinh hoàng đó, sáng hôm sau bọn nhỏ trong nhà quyết định đi tới nơi vừa xảy ra chiến trận hôm qua để tìm Tùng. Đang kể tự dưng bác im lặng một lúc thật lâu và thở dài…nơi đó không có Tùng, không có con của bác cho đến nay có lẽ Tùng đã không còn sống.. và giòng nước mắt nóng đổ dài trên má người mẹ với hơi thở yếu ớt uất nghẹn…

Trong căn phòng trở nên nặng nề, chỉ còn tiếng khóc nho nhỏ của người con gái…

- Cháu ơi! Cháu là Thủy Quân Lục Chiến, cháu có biết Tùng ở đâu không? Tùng có còn sống không?

Tôi cúi đầu thực lâu để dằn xuống sự xúc động và chua xót nghĩ về những người lính trận đã hy sinh, hy sinh từ gia đình đến sinh mạng và hy sinh đến cả bổn phận đối với người thân người yêu, nhưng khi ra đi lại không nói được một lời, dù chỉ một lời từ giã, để tạ tội với những người thân yêu trong gia đình

Tôi ngẩng lên nhìn cụ, tôi nhìn thực kỹ những đường nét quá đau thương đang còn vết hằn sâu trên đó dù ngày tháng gần chín, mười năm qua đã cố phôi phai.

- Thưa bác, anh Tùng con của bác cấp bậc gì?

- Anh ấy là Trung tá.

- Thưa bác, có phải là Trung Tá Đỗ Hữu Tùng không?

đỗ hữu tùng

- Đúng rồi, là Trung tá Đỗ Hữu Tùng.

- Cháu là thuộc cấp của niên trưởng Tùng, NT Tùng cũng là đàn anh của cháu, cháu và NT đã có nhiều thời gian sống gần gũi trong cùng đơn vị. Sau khi anh ấy không còn giữ chức vụ LĐT/LĐ147, anh đã về Lữ đoàn 369 để phụ tá cho người bạn cùng khóa 16 Võ Bị Đà lạt với anh, NT Nguyễn Xuân Phúc. Dẫu rằng mất chức, nhưng anh vẫn vui vẻ, hăng hái làm việc bên cạnh người bạn thân của mình… 9 năm trước, trước khi chiến trận xảy ra ở phi trường Non- Nưóc chừng 2 tiếng đồng hồ, lúc đó khoảng hơn12 giờ trưa ngày 29 tháng 3 năm 1975 cháu đã nói chuyện với NT Tùng bằng máy truyền tin, ngày đó cháu là Trưởng ban 3 của TĐ9/TQLC. Trong lần nói chuyện đó anh cho cháu biết sẽ có một đơn vị nhỏ của TĐ2/TQLC đón đơn vị cháu phía bên kia sông Hàn, và TĐ9/TQLC sẽ được tiếp lên tàu để về Cam ranh, nhưng rất tiếc sự tiên liệu hoàn hảo đó của một một Cấp chỉ huy lại không may mắn được thực hiện và cũng chẳng bao giờ được thực hiện. Sau đó cháu và NT Tùng không bao giờ còn nói chuyện và gặp nhau nữa. Và bác cũng đã biết sau trận đánh đó cháu bị bắt và vào tù cho đến hôm nay.

     Người đàn bà ngậm ngùi nhìn tôi, cô gái đứng sau lưng ngưng tiếng khóc và nói rất nhỏ.

- Thưa, em có thể được biết tên anh không?

- Dạ, tôi tên Tịnh, tên Đoàn Văn Tịnh.

- Anh Tịnh, anh Tùng là anh rể của bọn em.

     Tôi quay lại nhìn người con gái, trong dáng mặt hiền hoà và buồn phiền đó tôi thấy quen thuộc, đúng rồi quá quen thuộc, tôi nhắm mắt hình dung tới một người, người đàn bà mảnh mai và hiền hoà nhâu hậu có nét mặt và dáng dấp tựa như người con gái đang đứng sau lưng tôi…Chị Liên vợ anh Tùng

- Bác ơi, cháu muốn hỏi chuyện này.

- Cháu muốn hỏi về chuyên chi?

- Chị Liên bây giờ đang ở đâu, cháu có thể biết được không?

Bà cụ ngạc nhiên, sao cháu lại biết Liên, có vẻ thân thiện như vậy.

- Thưa bác ngày đó…Cháu và anh chị Tùng đã quen biết nhau lâu lắm rồi…

“ Vào cuối năm 1967, sau 2 năm chấm dứt thụ huấn tại quân trường Võ Bị Đà Lạt, chúng tôi có được 2 tuần nghỉ phép rồi sau đó từ giã gia đình về đơn vị, tôi tình nguyện gia nhập Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến nên trình diện ở BTL/TQLC số 15 Đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn. Có một tuần theo học khóa huấn luyện kỹ thuật leo lưới ở Trung Tâm Huấn Luyện TQLC và từ đó được phân chia về tiểu đoàn tác chiến.

“… Ngày đó tôi được phân phối về TĐ5/TQLC với 2 người bạn cùng khóa 22, Dương Công Phó và Nguyễn Trúc Tuyền. Tôi được Tiểu đoàn chỉ định về Đại Đội 4 Tiểu đoàn 5 TQLC đang nghỉ quân tại quận Giáo Đức Mỹ Tho. ngay chiều hôm đó tôi trình diện người Đại úy ĐĐT/ĐĐ4, anh có dáng dấp thực nho nhã, nét mặt nghiêm chỉnh, đẹp trai, có làn da ngâm ngâm, tên anh- Đỗ Hữu Tùng. Sau những thủ tục và những lời dặn dò nhẹ nhàng như tâm sự, tôi dùng cơm tối với anh. Từ sau đó, tôi đi vào chiến trận với đời sống của một người lính trận thực sự, chức vụ Trung đội trưởng Trung đội 3/ ĐĐ4/ TĐ5/ TQLC. Chiến trận liên miên không ngưng nghỉ, dù rằng TĐ5 vừa mới tạo một chiến thắng lớn hôm qua tại chiến trường Giáo Đức, trên kinh Rạch Ruộng Quân khu 4, rồi một chiến thắng nữa vào cuối tháng chạp ở Bồng Sơn. Đúng ngày mồng 3 tết Mậu Thân đơn vị lại vội vàng cuốn gói di chuyển về Quy Nhơn, lên máy bay C.23 nhắm hướng  của đất trời thẳng tiến mà mục đích gì có lẽ mọi cấp nhỏ như chúng tôi chưa thể biết được, thôi thì đủ chuyện đoán mò đoán mẫm, qua những ô kính nhỏ trên thân máy bay tôi thấy phía dưới là núi rừng, đất đỏ trùng trùng điệp điêp: ồ, cao nguyên…tôi thầm nói với mình như vậy. Tự dưng đoàn tàu hình như trở hướng quay về trái và thẳng tiến Sài Gòn đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

     Chúng tôi rời máy bay nhanh chóng chỉnh tề hàng ngũ trung đội, lên nhận lệnh. Trong dáng vẻ nghiêm trọng Đại úy ĐĐT ban lệnh: Việt Cộng đã chiếm Sài Gòn, chúng ta có nhiệm vụ tái chiếm càng nhanh càng tốt, đơn giản. Chúng tôi vừa nghe lệnh vừa vẽ lối tiến quân, mục tiêu, vị trí của bạn, của địch…khu vực Chợ Lớn.

Trên tấm bản đồ thành phố với những ô vuông lớn đầy màu sắc: xanh, đỏ, đen, vàng của bút màu. Trận nào rồi cũng chỉ là chiến trận mà thôi, 3 ngày, 4 ngày là xong và chiến thắng không mấy khó khăn, gà đá trên đất nhà mà. Mồng 8 tết tháng Giêng âm lịch cùng với các đơn vị bạn nhanh chóng trả lại thủ đô cho dân chúng Sài Gòn: dọn dẹp sạch sẽ, tu sửa hư hại để trở lại với đời sống bình thường, còn chúng tôi tiếp tục lên xe GMC về đường Bạch Đằng Gia Định tạm nghỉ quân, chờ lệnh hành quân tiếp.

Một đêm nghỉ ngơi bình an và thoải mái, sáng hôm sau thức giấc khá muộn, tề chỉnh quân phục lên nhận lệnh ở BCH/ ĐĐ. Người Đại đội trưởng gọn gàng với quân lệnh: Khuya nay chúng ta di chuyển ra phi trường Tân Sơn Nhất và sẽ đáp máy bay về giải tỏa Cố Đô Huế ( người lính TQLC thiệt là hết biết chỉ trong gần một tháng mà bước chân đã dẫm lên cả 5 vùng chiến thuật từ Vùng 4: Mỹ Tho, Giáo Đức, Vùng 3: Bà Điểm , Cử Chi, Vùng 2 với những rừng dừa bạt ngàn Bồng Sơn, Tam Quan, Quy Nhơn, trở lại Biệt khu Thủ đô với trận Tết Mậu Thân và nay lại về giải tỏa Cố Đô Huế vùng 1 Chiến thuât ). Tin này đến với tôi đúng ý muốn vì tôi lại may mắn được dự trận chiến chiếm lại vùng quê hương mình, nơi tôi được sinh ra, lớn lên, học hành, bè bạn, giòng sông, những con đường ngày xưa tôi và bạn bè đã rong chơi, chiếc cầu Trường Tiền màu trắng bạc, từng góc phố quá sức quen thuộc và thân ái, nhất là có một điều tôi cần biết: cha mẹ và anh chị em tôi đang còn sống hay mất trong cuộc chiến này, tự dưng tôi trở nên lo lắng vô cùng, nhắm mắt thực buồn tôi thầm đọc nho nhỏ cho mình nghe:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau,

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều

Tôi im lặng cố che dấu những âu lo trong tận lòng mình, không có tí bình yên.Có ai đó vỗ nhẹ lên vai tôi, tôi giật mình nhìn quanh không còn ai hết những ngườn bạn trung đội trưởng: anh Vinh, Đính, Lan luôn cả anh Đức ĐĐP đã về tự bao giờ, chỉ còn lại một mình tôi với người ĐĐT. Niên Trưởng Tùng cười và hỏi, suy nghĩ gì vậy, tôi vụng về xấu hổ trả lời nho nhỏ “không”.

- Có bà xã của anh tới thăm, Tịnh vô ăn cơm với anh chị nghe.

- Cám ơn NT, NT với chị cứ dùng cơm, tôi về có được không?

- Không được, NT Tùng vừa cười vừa nói, thôi bỏ đồ lên cái bàn này và vào đây ăn cơm.”

Và từ hôm đó tôi biết về chị Liên, chị ra trường Cán sự Y tế và làm việc ở BV Từ Dũ, chị nói với tôi như thế.Trước mắt tôi chị Liên là một người đàn bà hiền lành, nói năng nhỏ nhẹ, có thể nói chị vui vẻ, nhân hậu và cứ mỗi lần chị Liên có dịp ra vùng hành quân thăm NT Tùng, tôi thường được anh chị mời lên ăn chung một bữa cơm, lần sau hết khi LĐ.258 đóng ở Cù Hoan Quảng Trị, lúc đó NT Tùng đang giữ chức vụ LĐP/ LĐ.258 và tôi làm Ban 3 /LĐ thay cho NT Mai Văn Tấn khóa 21 bận tham dự khóa học ( vào khoảng tháng 6 năm 1974 – 12 năm1974). Chị lại ra Cù Hoan thăm anh và anh chị lại mời tôi dùng cơm, đó là lần sau hết tôi ăn cơm chung với NT Tùng và chị Liên. Lần đó chị trở lại Sài Gòn với tâm trạng không mấy vui… thưa bác cháu và anh chị Tùng quen nhau như thế đó.”    

    
Chúng tôi xin từ giã và rời căn nhà ấm cúng mà cũng quá tội nghiệp này, căn nhà trên đường Hoàng Diệu, thành phố Đà Nẵng. Và cũng từ nơi đó bọn người 6, 7 đứa chúng tôi cũng ngậm ngùi chia tay nhau người mỗi ngã tìm đường về quê nhà.

Ngay từ chiều hôm đó, tôi đáp chuyến xe lửa Đà Nẵng về Huế, đáng ra tôi về Sài Gòn với gia đình nhưng tôi muốn về thăm lại cố hương sau gần 9 năm dài tù tội, thăm người em gái duy nhất còn ở lại nơi đây, cô tên Bé lặn lội nuôi chồng, nuôi bầy con còn quá nhỏ cùng với người cha chồng già nua tội nghiệp,  Thanh chồng cuả Bé là sĩ quan phòng 7 kỹ thuật, cấp bậc Đại Uý ở tù trên Bình Điền- Huế, tháng năm dài thăm thẳm, không biết sẽ đến lúc nào Thanh mới được trở về với vợ con. Tôi muốn thay mặt gia đình tôi để thăm em, sống với gia đình em với các cháu vài ngày, tạo cho em một niềm tin, em còn có anh và cả gia đình của chúng ta và tặng em một chút quà duy nhất còn lại mà tôi đã cẩn thận gìn giữ mang theo từ ngày đi làm người tù (chiếc nhẫn vàng y một chỉ, tôi nghĩ em rất cần trong những năm tháng khó khăn ) rồi sau đó trở về với gia đình ở Sài Gòn mà không hối hận vì bổn phận làm anh.

Và bất ngờ cũng nhờ chuyến đi về Huế này, tôi lại biết chuyện đau buồn của gia đình mình trong những năm tôi ở tù, người cha thân yêu đã mất sau một cơn bệnh ở vùng kinh tế mới, gia đình đã cố dấu, không cho tôi biết từ năm 1977, năm đó mẹ và em tôi từ trong Nam ra thăm tôi ở trại 2 Kỳ Sơn Quãng Nam.

Ngày 13 tháng 6 tôi về tới nhà, sau gần 2 ngày với chuyến tàu hỏa trời ơi đất hởi không thể tưởng tượng ra được: ngày nay trên quê hương mình có những chuyến tàu lửa lạ lùng như vây. 

Chị Liên, người vợ thân yêu của Niên Trưởng Đỗ Hữu Tùng

Về tới Sài Gòn, gặp lại mẹ và các em vẫn bằng an mạnh khỏe đó là điều hạnh phước trong tôi. Nghỉ ngơi 2, 3 hôm tôi lên đường tìm việc làm dẫu rằng trong người chẳng có một loại giấy tờ gì đáng kể để chứng minh thân phận mình, còn các em bảo tôi anh cứ yên tâm ở nhà một hai năm nghỉ ngơi, bọn em lo được, nhưng tôi thì nghĩ chỉ có việc làm mình mới khỏi mất công ngồi suy nghĩ nhiều chuyện không ích lợi gì, và mới giữ đươc phong cách thong giong tự tại của con người mà thôi.

Nên tôi với thằng bạn, cùng sống chung ở trại tù Kỳ Sơn, Thượng Đức, hắn tên Đinh Văn Xiêm trước ở đơn vị Thiết Giáp, chúng tôi quyết định đặt cái thùng gổ nhỏ gần ngã tư xa lộ với hàng chữ: “sửa chữa Robinet, hệ thống ống nước tại gia”, ngày ngày khách hàng cũng có nhiều, những người đàn bà đi chợ qua về gọi 2 ông thợ bất đắc dĩ về nhà sữa giùm bếp nước, ống nước, đâm ra cái việc kiếm sống và giải quyết tiền bạc nho nhỏ theo kiểu này không khó.

Hắn cười bảo với tôi, đơn giản với công việc không cần học nhiều, không phiền phức với mọi người sinh hoạt chung quanh và nhất là chẳng lộn xộn gì với công an đường phố, để bị bắt bẻ về luật lệ, tiền bạc hối lộ cũng không cần, ngày 2 bữa áo cơm dễ chịu, miễn là người chủ nhà đồng ý cho anh em mình đặt cái tủ nhỏ không choán lối đi ra, đi vô của họ. Buổi chiều dọn dẹp đẩy cái thùng vào góc nhà gởi tạm, thế là xong, ngày ngày hai anh em vui vẻ làm việc và tha hồ chuyện trò, trời trăng mây nước.

Có tí phương tiện, tôi lại lên đường đi tìm chị Liên, nơi tới đầu tiên là bệnh viện Từ Dũ, nhiều lần người ta đã trả lời, chị Liên không còn làm việc ở đây nữa. Tôi muốn tìm chị để biết bây giờ chị đang làm gì, thằng Vũ đứa con duy nhất của anh chị đang sống ra sao, tôi nhớ Vũ ốm yếu lắm, gần một năm trôi qua, không ai biết chị ở đâu.

Tôi đã không còn làm nghề thợ sửa ống nước mà theo người cô họ đi buôn bằng tàu buồm. Một chuyến đem hàng từ Huế về Sài Gòn giao hàng cho các vựa ở Chợ Lớn xong là cô lên thanh tóan tiền bạc, còn tôi tiếp tục đặt hàng từ những nơi sản xuất, từ các công ty ở Sài Gòn, trả tiền bạc đến ngày họ giao hàng nhập vào kho chờ đủ số các mặt hàng là hẹn tàu, thuê người bỏ xuống, chiếc tàu có trọng tải từ 200 đến 250 tấn, ở các bến cảng Bình Đông hay Chánh Hưng bên quận 9. Xong xuôi tàu ra cửa biển Vũng Tàu thẳng đường về Huế, tôi tiếp tục phân phối cho con buôn ở chợ Đông Ba và các chợ chung quanh xong, sau đó cô thanh tóan tiền bạc với họ theo sổ sách. Và lại tiếp tục công việc chạy khắp nơi Huế, Quảng Trị để lục lọi tìm mua hàng hóa. Công việc quá sức vất vả và nguy hiểm vì đó là những loại phế liệu chiến tranh như: tôn, ri sắt, nhôm, vỏ đạn, đít đạn v v.từ Huế, từ Quảng Trị, bọn Công an gọi là đồ quốc cấm. Còn hàng Sài Gòn thì lại trốn thuế, hối lộ cho nhân viên thuế. Cứ việc trốn chui, trốn nhũi và công an cứ việc lùng bắt thâu mãi lộ giống như buôn lậu.

Hơn một năm trường như thế, tôi không đi buôn với cô nữa và trở về Sài Gòn, xuống ga xe lửa cuối đường Nguyễn Thông, đói bụng nhưng tôi leo lên chiếc xích lô đạp vì muốn về nhà nghỉ ngơi. Khi chạy ngang qua chợ Trương Minh Giảng nhớ là chưa sắm quà cho mẹ và các em, tôi nói người phu xích lô cho tôi xuống và đi vào chợ để mua quà. Qua mấy hàng trái cây bên ngoài là đến cửa chợ, vừa qua khỏi bậc cấp hình như có ai đó vỗ nhẹ trên vai áo, tôi quay lại: ô, ô chị Liên, chị vui mừng: anh Tịnh phải không? Phải, chị có khoẻ không, và đang làm gì. Chị chỉ tay về cái tủ mỹ phẩm cạnh đó cười nói, chị bán những thứ này đây. Nhìn sơ qua những thứ chị bán, tôi yên tâm vì như vậy thì đời sống về vật chất có thể tạm ổn cho chị và cháu.

Hai chị em ngồi xuống cái bàn bán nước giải khát bên hông chợ gần tủ mỹ phẩm chị bán, kêu nước uống và chuyện trò. Tôi hỏi chị về có tin tức gì về anh Tùng hay không, chị buồn bả nói cho tôi nghe:

”Sau ngày chiến trận ở Non Nước, chị nghe mấy người em trong gia đình qua bãi Non Nước tìm anh Tùng nhưng không có, sau đó chị về nơi đó cùng với gia đình đi rất nhiều nơi để hỏi về tin tức anh, cứ vậy suốt mấy năm trời từ nơi này qua nơi khác, bạn bè, người quen, người thân vẫn không có manh mối gì. Chị khóc và bảo rằng: Tại sao vậy, họ đi đâu, họ về đâu, anh Phúc, anh Tùng người ta nói với chị họ đi với nhau, nhưng họ đi đâu. Nghe tin, ngày TQLC kéo quân về Đà Nẵng ngày 17 tháng 3 năm 1975, ngày 22, 23 chị muốn ra Đà Nẵng nhưng không ra được vì không có máy bay, trong nhà bảo Tùng bận rộn không về nhà mẹ chị được. Lúc đó anh làm chi vậy, em có biết không, nói cho chị nghe đi”. Giữa chợ đông người, tôi cúi đầu đưa mấy ngón tay quẹt lẹ những giọt nước mắt sắp rơi xuống, nhưng cũng không tránh khỏi tiếng nấc nghẹn trong cổ họng, tôi không giám nhìn lên chị.

Trong phút giây khoảnh khắc đó, tôi lại tự trách mình sao ngày đó đang học hành thuận lợi, một đời sống đầy đủ, với tâm trạng hăng say tiến về một tương lai sáng sũa, sống yên lành như chim trời thảnh thơi ngoài đồng nội mà tôi lại nỗi khùng cắt ngang  tình nguyện lao vào quân đội, vào Võ Bị, rồi vào TQLC, để gần như suốt cuộc đời còn lại chỉ còn nghe tiếng khóc than đau thương, liên tục chứng kiến những hình tượng ly tan của thuộc cấp, của bè bạn và những  người thân người yêu của họ, và phải giải quyết hàng trăm tình cảnh quá đau thương đến điên loạn, cho nhiều gia đình có người thân làm  lính trận . 

Trước mắt tôi, vô vàn sự việc tang thương như đang trở về. Ngày đó, một ngày sau chiến trận Mậu Thân, cùng với các đơn vị bạn chiếm lại Kinh Thành Huế  trả về cho người dân Cố Đô giữa nỗi mừng vui lẫn với đau buồn vì cuộc thảm sát của VC  vừa mới xảy ra hôm qua. Tiểu đoàn 5/TQLC lại lặng lẽ lên đường về hâu cứ, được một cuộc đón tiếp buồn thảm của vợ con cha mẹ trong trại gia binh của Tiểu Đoàn, những tiếng hét thất thanh của những người vợ mất chồng, con mất cha, cha mẹ mất con, hình ảnh đó tôi đã rùng mình khiếp đảm.

Sau đó Tiểu đoàn 5 chuẩn bị cho một cuộc hành quân tiếp.Kế hoạch, cẩn thận bí mật hơn, tất cả sĩ quan, binh sĩ cắm trại trăm phần trăm 2 ngày trước khi lên đường. Nhưng không hiểu tại sao, lúc 3 giờ sáng khi chiếc xe đầu của đoàn xe vừa mới lăn bánh ra khỏi cổng trại, hàng trăm thân nhân từ trại gia binh nằm lăn ra giữa đường, cương quyết không cho xe qua. BTL phải xuống giải quyết lúc 10 giờ và hứa với thân nhân binh sĩ, đây chỉ là cuộc nghỉ quân ở Rừng Sát và thân nhân được phép đến đó để thăm và sống với binh sĩ và đoàn xe lui vào hậu cứ để chuẩn bị một cuộc hành quân như đã hứa.

Rồi đến TĐ9/TQLC, sau chuyến hành quân Lam sơn 719, 810 đơn vị đụng trận trên sông Ba Lòng, đoàn máy bay phải quay đầu về đáp xuống phi trường Biên Hòa thay vì đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất như kế hoạch, đợi đêm xuống mới nhắm hướng hậu cứ TĐ9/TQLC chạy về, đoàn xe mới dừng trước sân Đại Đội , tôi bước xuống xe đi vào văn phòng giữa những la hét khóc than, đòi trả chồng trả con, quanh tôi hình ảnh điêu tàn như ngày tận thế, chưa kịp ngồi xuống ghế, một bà mẹ già lao thẳng vào người tôi với sắc mặt nhạt nhòa mất hết thần sắc, tay níu lấy vai tôi, tay nắm lấy ngực áo tôi hét lên, hảy trả lại con cho tôi, hảy trả lại con cho tôi, con ơi là con, mẹ biết tìm con nơi đâu và bà ngất xỉu.

Những năm tháng đó tôi đang lớn lên với tuổi 21, 22, 23, 24 tôi đã làm gì, tôi đã biết gì. trong tôi còn lại những rưng rưng và vụng về đau khổ.

Hôm nay, sau nhiều năm tháng làm một người tù khổ sai không tội danh trở về đây vẫn chưa đủ, vẫn còn nhận chịu những nhục nhằn, khốn khó vì những đau thương vần còn đang hiện diện.

- Chị Liên, chị Liên, bình tĩnh lại nghe tôi nói,

- Vâng, chị xin lỗi.

- Trong những ngày tù tội, tôi cũng từng đau khổ, cũng từng điên loạn. Nhưng có lúc tỉnh ra, tôi tự hỏi mình- nên sống hay chết. Cuối cùng tôi quyết định- phải sống, cũng như chị sau những tháng ngày dài đau khổ vì mất mát qúa nặng nề, chị đã cương quyết phải sống để lo cho con cho thằng Vũ, vậy chúng ta phải luôn tỉnh táo trong mọi lúc, bất cứ hoàn cảnh nào để còn đối phó với đời sống quá sức tàn nhẫn. Tôi sẽ nói cho chị nghe một câu chuyện. Chị lau nước mắt và chờ nghe tôi nói:

Ngày đó anh Tùng có nhiệm vụ phụ tá cho anh Phúc để điều động Lữ Đoàn về Đà Nẵng, với mục đích đánh chiếm lại ngọn đồi 1062. Nơi mà Bộ Binh, Nhảy Dù, Biệt Động Quân đã có quá nhiều mất mát. Ngày đó tôi cũng đã tự hỏi mình, đây là chuyện thật hay đã bị Mỹ đánh lưà, bởi vì chúng ta đang làm một công việc quá vô ích và nguy hiểm có thể đi vào mất nước. Câu hỏi mà tôi đặt ra là:

Tại sao lại vội vàng bỏ giới tuyến Quảng Trị và sâu hơn nữa là bỏ Huế để kéo quân về đây đánh chiếm lại cáí ngọn đồi 1062 vô tích sự này để làm gì ?

Để làm gì cho đến nỗi khi được lệnh rút quân khỏi giới tuyến Quảng Trị, tôi hỏi LĐ- Lệnh cho chúng tôi rời khỏi vị trí, nếu đơn vị thay chúng tôi không tới kịp thì sao, Lữ đoàn bảo cũng bỏ tuyến mà đi.

Ngày 27/3/1975 anh Tùng và anh Phúc gọi Thiếu  tá Thạnh và tôi đang đóng quân trên dãy núi Sơn Gà xuống BCH /LĐ tại Đại Lộc Quãng Nam, gọi là họp. Xuống tới BCH Lữ đoàn, các anh cho biết 5 tiểu đoàn TQLC còn lại trên giới tuyến Quảng Trị đã tan tành một cách đau khổ. Địch quân lợi dụng sự rối loạn của dân chúng, đã dồn dập tấn công, pháo kích các tiểu đoàn không lên được tàu và họ đang di chuyển về hướng cửa Tư Hiền phía Nam cửa Thuận An chừng 60 cây số. Đó là một lường cát mỏng không nơi che dấu, không chỗ ẩn nấp, hoàn toàn bị cô lập, lại càng không thể tác chiến được chỉ làm bia cho hỏa lực của địch. Tôi giật mình hỏi NT Phúc, tại sao vậy, tại sao vậy và tôi cũng tự hỏi mình tại sao vậy? tại sao lại tan tành một cách nhanh chóng dễ dàng lạ lùng vậy?... và tin lại đưa tới tấp: Thiếu tá Nguyễn Tri Nam thằng bạn cùng khóa 22 VB, Đại úy Tô Thanh Chiêu người bạn đã cùng chúng tôi từng chiến đấu trong đơn vị được tặng cho mỹ danh TĐ5 Hắc long “xuống đông, đông tỉnh, lên đoài, đoài tan” họ vừa tử trận. Ôi..! Anh Tùng đưa tôi ra ngoài nói nhỏ, cẩn thận coi chừng chúng ta cũng sẽ chịu chung số phận như Lữ đoàn 147.

Mọi sự kiện xảy ra trước mắt rõ ràng và chính xác như 1+1=2. Người Mỹ đang cùng VC toa rập đưa TQLC vào ngõ cùng với mục đích bán đứng miền Nam Việt Nam. Họ đã làm theo sự yêu cầu của quân Bắc Việt như một điều kiện trao đổi: triệt TQLC là con đường ngắn nhất để chiếm lấy miền Nam

Biết vậy, nhưng không ai tránh khỏi thảm cảnh đó, nhất là đối với một cấp chỉ huy có tinh thần trách nhiệm trước sự tan tành của Tổ quốc và danh dự của một sĩ quan, bên cạnh tình thương yêu thuộc cấp từng sống chết với đơn vị. Nên thà có chết thì chịu chung cái chết cuả đơn vị và thuộc cấp. Buồn thực, đến những giây phút cuối cùng giẫy chết của đơn vị, mà lòng tôi vẫn còn vô cùng đau xót vì sự chiến đấu thật sự quá cô đơn của bản thân và sự hy sinh không cần tính toán của thuộc cấp trước họng súng địch.

Chị có biết không, tôi có thể nói vớí chị rằng, nếu anh Phúc và anh Tùng không vì trách nhiệm, không vì danh dự thì tôi nghĩ rằng các anh đã rời khỏi bãi biển Đà Nẵng  không khó, vì tôi biết một cách chắc chắn rằng, các anh có nhiều phương tiện để đi, nhưng vì là cấp chỉ huy, nên các anh phải có trách nhiệm lo cho các đơn vị còn kẹt lại, không thì số nhiên liệu này dễ dàng đưa các anh qua khỏi Quảng Ngãi và ung dung tìm phương tiện di chuyển về Nam.

À quên nữa, tôi nhớ hôm bị chúng bắt đem về quận 1 Đà Nẵng sau 2 ngày hỏi cung, một buối sáng họ gọi tôi ra bàn giấy và báo cho tôi biết rằng: Vì chính sách nhân đạo cuả đảng, anh được cho về, chờ khi nào Cách mạng gọi thì đến để nghe thông báo. Trên đường đến nhà người quen ở Nại Hiên tây, tôi bất ngờ đã gặp những người lính cuả mình (TĐ9 và TĐ6) họ tập trung ở 2 trại bán gổ trên chợ Nại Hiên Tây để chờ ngày tìm đường về quê nhà, các anh cho tôi biết có 2 người lính TQLC đã tự sát ở gần chủng viện, nếu về Đà Nẵng thăm bác, tiện thì chị ghé lại hỏi thăm ở chủng viện coi như thế nào nghe. 

Tôi nghĩ cho đến hôm nay vẫn không có một tin tức gì của anh ấy, thì anh đã không còn nữa. Chị cứ yên tâm như vậy để lo cho Vũ, chẳng nên suy nghĩ mệt mỏi lắm mà không có ích lợi gì.

Sau đó tôi kể cho chị nghe ngày ra tù , bất ngờ đi ngang qua phố Hoàng Diệu được cô em chị và bác gái đã đón tiếp nồng hậu với một bữa ăn trong gia đình rất thâm tình, chị vui mừng lắm khi nghe tôi nói về gia đình chị ở Đà Nẵng.

Còn chuyện này nữa, khi nào chị về Đà Nẵng cho tôi kính gởi lời cám ơn và thăm bác cùng các anh chị trong gia đình luôn bằng an, mạnh khoẻ. Tôi từ giã chị và hẹn khi nào thuận tiện sẽ ghé thăm chị và thằng Vũ.

Sau ngày tháng đó, tôi lo buôn bán đậu phộng ở tuốt Đức Hòa, Đức Huệ, Lộc Ninh thỉnh thoảng lâu lắm mới ghé thăm chị và chị đã trở lại làm việc ở bệnh viện Từ Dũ, và tôi sau những ngày dài buôn bán cũng trở về mở lớp dạy học tại nhà trước những mùa thi cử, mỗi năm dạy học chừng 4 tháng vì tôi rất yêu thích học trò và công việc dạy học. Hôm rời đất nước đi Mỹ vào tháng 6 năm 1994, tôi có ghé lại thăm chị, chị cho biết hồi này thằng Vũ lớn lắm rồi, tôi mừng cho chị và cháu.

 http://www.conongviet.com/Philo-To/mar272011-doanvantinh-xuanaychinhchien.htm

***

Viết về Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng, quyền Lữ đoàn Trưởng

Ðại Úy Cao Văn Lâm, cựu sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến đã viết như sau về Trung tá Ðỗ Hữu Tùng trong Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến.

Thưa Ðại bàng, tôi đã liên lạc với Ðại úy Ðang cách đây nửa giờ, nghe trên máy rất là nhỏ. Ðại úy Ðang nói với tôi là “Sao Biển đã nhổ cột cờ, anh tự lo liệu cho con cái anh đi“. Chắc là xa lắm rồi, Ðại bàng không liên lạc được nữa đâu, hay là Ðại bàng lội ra tàu đi“.

“- Ð.M. tao đi rồi thì con cái tao ai lo? “

Trên đây là lời đối đáp giữa tôi với Trung tá Ðỗ Hữu Tùng vào khoảng 8 giờ 10 ngày 28/3/1975, trên bờ biển căn cứ Non Nước tại Ðà Nẵng.

Ðứng trầm ngâm nhìn các quân nhân TQLC bị thương đang nằm trên những chiếc xe Jeep Ambulance đậu sát bờ biển một lúc rồi ông lên xe Jeep mở máy chạy. Tôi nghĩ mãi mà không hiểu ông đi đâu? Về tới Vũng tàu tôi vẫn không gặp ông. Mãi tới khi ra khỏi tù, gặp lại anh em trong Sư đoàn TQLC, tôi hỏi tin tức về ông, tôi mới biết Ðại Bàng đã vĩnh viễn ra đi. Ông đã chỉ huy anh em TQLC còn kẹt lại trên núi Sơn Chà, Ðà Nẵng kháng cự lại Cộng quân cho đến khi hết đạn.

Ðã hơn 21 năm rồi, hình ảnh của Ðại Bàng vẫn luôn đậm nét trong trí nhớ của tôi. Ông có dáng dấp dấp thư sinh, nhưng có ai biết được rằng, tiềm ẩn trong con người thư sinh ấy lại chứa đầy lòng can đảm, hy sinh và khôn khéo. Trong những giây phút nguy hiểm nhất của cuộc chiến, ông đã không còn nhớ tới mình mà chỉ lo anh em thuộc cấp.

Trung tá Ðỗ Hữu Tùng! Ông đã làm trọn sứ mạng của người trai đối với Tổ Quốc trong thời ly loạn.

Chúng tôi, những người còn lại, luôn nhớ tới ông và mãi mãi noi gương ông. Chúng tôi sẵn sàng dấn thân cho Tổ Quốc thân yêu của chúng ta để nối bước ông trên con đường hào hùng ông đã đi.

Ðại úy Cao Văn Lâm.

***

Thần Ưng Xé Xác Tăng Địch Năm 1972

tiểu đoàn 6 thần ưng thủy quân lục chiến việt nam

Qua đợt đầu Cộng sản Bắc Việt tấn công mãnh liệt, hung hãn, ồ ạt, các căn cứ hỏa lực Carroll (Trung đoàn 56 thuộc Sư đoàn 3 Bộ binh) đầu hàng và Mai Lộc (Lữ đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến) phải cầm cự lui dần,...khi căn cứ Pedro trở nên tuyến đầu phòng thủ.

Thiếu tá đỗ Hữu Tùng, Sĩ quan khóa 16 đalat, phong thái trầm tĩnh, luôn như suy nghĩ điều gì, từ từ, thủng thẳng trong mọi biến cố, kinh nghiệm chiến trường, một trong các Tiểu đoàn trưởng cự phách của Thủy Quân Lục Chiến, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến biết thế nào căn cứ cũng bị chiến xa cùng quân bộ Cộng sản Bắc Việt tấn công kế tiếp, nên anh phối hợp với Lữ đoàn 258 xin đặt mìn chống chiến xa sâu về hướng Tây đường tiến sát đến căn cứ.

Ngay trong đêm 8/4/1972, toàn bộ Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến phân tán lực lượng ra khỏi căn cứ, chốt tại các đỉnh cao xung quanh. Thật quả như Đỗ Hữu Tùng dự đoán, địch chuẩn bị cho cuộc tấn công căn cứ vào ngày hôm sau nên pháo kích suốt đêm như mưa, binh sĩ Tiểu đoàn 6 dưới các hầm hố cá nhân bên ngoài căn cứ chờ địch suốt đêm, quả nhiên lúc 6 giờ 45 sáng ngày 9/4/1972, một Trung đoàn địch cùng đoàn chiến xa T54, T59 xuất hiện từ hướng Tâỵ Pháo binh được gọi can thiệp, nhưng chỉ cản sức tiến phần nào của Bộ binh địch mà thôi, còn chiến xa địch vẫn hăm hở xông xáo tiến lên trong thế nghênh ngang khinh địch. đoàn chiến xa vượt hẳn đội hình bộ binh của họ, tiến thẳng đến căn cứ.

Từ một hố cá nhân chỉ huy đặt ống nhòm, Đỗ Hữu Tùng nở nụ cười nửa miệng, anh thường hay có lối cười như vậy, bạn bè thường nói: "Lại cười ruồi rồi", mà cứ mỗi lần cười ruồi là tiếp theo một đòn độc. Bản chất vốn thủng thẳng, anh giữ im lặng vô tuyến với các đại đội xa gần, ngay cả với hệ thống chỉ huy cao hơn, các con cái sốt ruột quá, không rõ ông Thái Dương (danh hiệu của Thiếu tá đỗ Hữu Tùng) của mình muốn gì đây.

Vài chiến xa đã cán hàng rào rồi, mà sao chưa lệnh lạc gì thế này, chờ cho đoàn chiến xa lọt hẳn vào tầm tác xạ dự trù, thì cũng vừa lúc 1 chiếc cán mìn, ầm một tiếng long trời dội đất, chiếc chiến xa lệch sang một phía bốc cháy, vài chiếc khác đã lọt hẳn vào trong căn cứ còn lựng khựng như đang cảm nghĩ chắc bị lừa, thì lệnh khai hỏa tấn công của Đỗ Hữu Tùng vang lên trong máy truyền tin.

Các chiến sĩ Tiểu đoàn 6 nhô ra khỏi hố cá nhân, súng nhỏ nhằm bộ binh địch mà khiển, ống phóng chống chiến xa M72, 57 ly không giật tha hồ mà phóng từ bên hông và theo đuôi đoàn chiến xa; cả chục chiếc bốc cháy, những chiếc còn lại hốt hoảng, đội hình rối loạn và húc vào nhau phóng chạỵ Nhưng đâu thoát, các đồi xung quanh căn cứ binh sĩ Tiểu đoàn 6 đã chốt hết rồi, cứ nhằm chiến xa địch mà xịt ống phóng M72, một hồi nuốt gọn gần 20 chiến xa địch. Nhiều chiếc đang bốc cháy, một số binh sĩ Tiểu đoàn 6 hăng quá phóng ra khỏi hố cá nhân nhẩy phốc lên tháp chỉ huy chỉa súng M16 vào trong xe tăng, dọa tung lựu đạn, kêu ra đầu hàng. Về phần bộ binh địch tiến theo sau thấy đoàn chiến xa dẫn đầu bị phản công hung hãn, bốc cháy hàng loạt, đâm hốt hoảng rối loạn hàng ngũ tháo lui.

Ngay khi được báo cáo tình hình, Trung tá Ngô Văn Định, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 258 (sau thăng cấp đại tá) liền ra lệnh Tiểu đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến cùng chiến xa M48 hoạt động gần đó nhào đến tiếp tay Tiểu đoàn 6 truy kích ngược lại địch, đồng thời Không Quân cũng được gọi đến khi trời quang sáng để dội bom gây cho địch thiệt hại nặng. địch cố thoát về hướng Tây bỏ lại hơn 400 xác ngổn ngang đầy đồi núi và 23 xe tăng (kể cả Tiểu đoàn 1 truy kích hạ thêm 4 và 2 xe tăng do Tiểu đoàn 6 bắt sống) bị cháy ngổn ngang.

Vô cùng ngoạn mục và hùng tráng, thường thì chiến xa chiến là 2 đoàn chiến xa bạn thù quần thảo với nhau, nhưng đây ngược lại lính Thủy Quân Lục Chiến quần thảo với chiến xa hạng nặng địch khác nào như lấy trứng gà đập vào tảng đá.

Thật là một trận diệt chiến xa bằng bộ binh ít thấy ghi chép trong các trang quân sử trên thế giới. Sau trận này, 5 tiểu đoàn đàn anh, không một ông anh nào dám coi thường thằng em Thần Ưng nữa (xin xem bài Thần Ưng trong mùa Hè đỏ Lửa của Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Lương Xuân đương, để rõ nét thêm về trận đánh này). Cũng lại Trung tá Đỗ Hữu Tùng dẫn Tiểu đoàn 6 tapi nửa Cổ thành đinh Công Tráng trong trận tái chiếm Quảng Trị sau đó ít tháng.

Lời kết, nhân danh là vị Tiểu đoàn trưởng đầu tiên của Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến "Thần Ưng" có vài cảm nghĩ như sau:

- Trung tá Đỗ Hữu Tùng, vị Tiểu đoàn trưởng lâu nhất, cũng là người dẫn dắt Tiểu đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến lập được nhiều chiến công hiển hách lẫy lừng.

- Đỗ Hữu Tùng sống anh dũng, khi về thì lặng lẽ biến đi, để lại biết bao thương tiếc cho bạn bè đồng đội và một mối tình sầu cho người nữ ca sĩ nổi danh.

- Nhiệm vụ sau cùng là Lữ đoàn phó Lữ đoàn 369, anh cùng với Lữ đoàn trưởng, Trung tá Nguyễn Xuân Phúc mất tích vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975, hơn hai mươi năm sau, chúng tôi vẫn không tìm kiếm được một dấu tích nào về các anh.

Khi ngồi ghi lại những dòng này, người viết không khỏi bùi ngùi, xúc động tưởng nhớ các anh, những chiến hữu đã cùng người viết chia sẻ mười mấy năm vinh nhục trong cuộc nội chiến phi lý nhất lịch sử Việt Nam.

Cựu Đại tá Phạm Văn Chung

***

Lính THỦY QUÂN LỤC CHIẾN và huyền thoại

quân sử việt nam, chiến thắng quảng trị 1972

MX Huỳnh thừa Dũng

Như là một hòa lẫn giữa các mùi vị nào đắng, cay, nồng, chát trong ly rượu đế  được chuyền từ tay người nầy sang người khác, những tiếng khề khà như thả bớt đi mùi vị chua nồng không thật dễ chịu rồi phun đi một chút nước miếng mình như là một  thể thức trong tiệc rượu không thể thiếu được và sau đó là những câu chuyện như được bắt đầu diễn tả với những hình ảnh ngang tàng của người lính chiến. Những hình ảnh oai hùng trong chiến trận, những hình ảnh ngập tràn tình đồng đội giữa các cấp chỉ huy và người lính. Tình huynh đệ chi binh để sau hơn 30 năm sau khi tôi đọc những câu chuyện về binh sử TQLC trong các tập san, bài viết có nhiều câu chuyện hình như tôi một lần hay nhiều lần đã được nghe nhắc đến. 

Nào hình ảnh ngang tàng của Trung úy Hiển ĐĐT đại đội viễn thám ( mất tích trận hạ Lào ), ông là người thiện xạ với colt 45. Biết bao nhiêu bóng đèn xung quanh Bộ tư lệnh tại Sài Gòn đã là mục tiêu của ông khi ngà ngà say, hay khi thuộc hạ trể phép ông chỉ trừng phạt bằng cách đội mục tiêu trên đầu có khi là lon đồ hộp, có khi là lon bia  để làm mục tiêu cho khẩu Colt 45 thường làm cho mọi người khiếp vía  . . . 

Nào hình ảnh hào hoa của Trung Tá Đỗ Hữu Tùng trong một ngày nắng chói chan tại một phi trường, một trung tá TQLC trẻ tuổi, đẹp trai, phong nhả đang gác chân trên cản của xe jeep dùng chiếc mouchoir chùi bụi trên giày của mình. Hình ảnh ấy đả làm ngẩn ngơ biết bao nhiêu cặp mắt của chiến sĩ TQLC và cả các chiến sĩ Nhảy Dù . . .

Một Thiếu Tá Lê Hằng Minh với bắt đầu danh hiệu "Trâu Điên" của Tiểu đoàn 2 TQLC qua chiến trận Bồng Sơn . 

Câu chuyện của trung đội Truyền Tin BCH LĐ 147 bị địch quân tràn ngập, những người chỉ quen với các ống liên hợp nay đứng thẳng người với M16 trong tay truy rượt VC ra khỏi căn cứ tại Mai Lộc. . . 

Chuyện Trung Tá Nguyễn Đăng Hòa, Tiểu Đoàn Trưởng  TĐ 1 với trận đổ bộ tại quận Triêu Phong khi nhận lệnh ông đã rơi lệ (?), không phải khóc cho ông mà ông nghĩ đến các chiến sĩ, sĩ quan của tiểu đoàn khi phải thi hành một sứ mạng cảm tử, cuộc đổ bộ bằng trực thăng ngay trên đầu BCH sư đoàn địch . . .  

Một Robert Lửa, Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Lữ Đoàn phó của chúng tôi, một  huyền  thoại của TQLC  về tài điều binh chính xác và thần tốc luôn luôn trong các chiến thắng . . .

Một Đại Đội Trưởng nào đó  (?) từ chối không chịu tải thương để ở lại với đơn vị mình cho đến khi chiếm xong mục tiêu . . .

Một tình sử lâm ly như trong tiểu thuyết của Đại Bàng Nguyễn Văn Phán, anh hùng cứu mỹ nhân trên sông Sài Gòn và kết quả là người đẹp trở thành phu nhân của ông. Danh hiệu Phu Nhân do vậy mà có chăng ?

Và hầu hết mọi câu chuyện thường được bắt đầu bằng câu  "Tụi mày biết  hông" ? của Hạ sĩ nhất Đáng, tiểu đội trưởng của trung đội công vụ Lữ Đoàn .

Có lần đang say sưa diễn tả trận đánh oanh liệt của Tiểu đoàn 2 trong trận Bồng Sơn, Tam Quan tôi ngắt ngang lời anh và hỏi :

- Ủa ! Anh ở Tiểu đoàn 3 mà sao anh kể chuyện Tiểu đoàn 2 hay vậy ?

Quay sang tôi mắt anh như đổ lửa . . .

- . . . Mầy biết cái con mẹ gì . . .thì tao cũng nghe người ta kể thôi .

 Biết làm anh mất hứng tôi vỗ vào vai anh vả lả.

- Suông miêng hỏi vậy thôi mà.

Lườm tôi một phát, lại tiếp tục câu chuyện của anh và chúng tôi lại say sưa lắng nghe như mỗi lần được kể . Hạ sĩ nhất Đáng mà tôi coi như người anh, chân thật, hiền hậu, ít nói chỉ nói nhiều khi có chút rượu đế thấm môi . Người mà thường gọi tôi là "Cái thằng ngu, có học mà làm lính" . 

Câu chuyện tiếp tục về tái chiếm đồi Barbara, một Chuẩn úy mới ra trường của  Nhảy Dù dẫn Trung đội tấn công chỉ với mỗi người  một bao cát lựu đạn chiếm lại một góc đồi trong một đêm khuya . . . 

Và biết bao nhiêu mẩu chuyện lan man về kinh nghiệm chiến đấu, từng trận chiến đã qua trong đời anh, có khi câu chuyện được minh chứng xác thực, anh đã phô bày những vết thẹo trên cơ thể trong niềm hãnh diện. Không chỉ một mình anh, câu chuyện bắt đầu và thường được anh em thay nhau đóng góp chuyển  tiếp qua những câu chuyện khác như không bao giờ kết thúc .

Những câu chuyện mà tôi được nghe như có ảnh hưởng thật sâu đậm trong đời sống quân ngũ của tôi, khi nghe về câu chuyện của Trung Tá Đỗ Hữu Tùng, tôi như hình dung được hình ảnh vừa hào hoa vừa đượm chất oai hùng như đang trước mắt tôi. Tôi không lạ gì với bản chất nghệ sĩ của Đại Bàng Thái Dương, một Lữ Đoàn Phó của chúng tôi mà có lần là Quyền Lữ Đoàn Trưởng LĐ 147 trong một khoảng thời gian rất ngắn, để có những buổi chiều lắng nghe những bài classical hay những điệu flamenco du dương từ cây guitar của ông. Hay khi nghe chuyện anh chàng Chuẩn Úy Nhảy Dù nào đó, tôi như đang tưởng tượng tôi chính là nhân vật đang lẳng lặng cùng trung đội đa năng đang bò vào tuyến địch trong bất ngờ gây kinh hoàng và thiệt hại cho địch quân. 

Khi nghe những câu chuyện trong chiến trận tôi như say sưa, như hòa nhập vào các trận chiến nầy, tôi như đang xung phong tiến chiếm mục tiêu, trong ngang dọc, dọc ngang, từ hố nầy sang hố khác, hay từ góc phố nầy sang góc phố khác.  Giống như các tài tử ciné trong các phim chiến tranh và tưởng như mình đang là một chiến sĩ mũ xanh tràn đầy kinh nghiệm của chiến trường.

Khi nghe những mẩu chuyện về các cấp chỉ huy can trường, chúng tôi như thật đang hãnh diện và tự hào về những Đại Bàng, những Thẩm Quyền mà chúng tôi hết lòng kính ngưỡng và lúc nào cũng thế. Bằng mọi điều chúng tôi có thể làm được dù trong nguy hiểm, trong hy sinh mạng sống mình, không phải vì muốn có thêm một huy chương trong hồ sơ quân bạ, không phải để có thêm một  "cánh gà" trên vai khi mà những ngày chiến đấu sống hôm nay chết ngày mai mà chỉ muốn làm vui lòng, tạo thêm hãnh diện cho các " ông thầy " của mình.

Những câu chuyện như thế chúng tôi đâu có nghe kể ở quân trường, những câu chuyện như thế đó chúng tôi đâu có đọc trong các tạp chí, báo chí khi mà đơn vị đang hành quân, chỉ được nghe từ miệng người nầy truyền sang người khác, ngày nầy sang ngày khác . . . 

Có phải chăng đó là những câu chuyện về huyền thoại truyền miệng của những người lính mũ xanh không ? Huyền thoại của sống hùng, sống mạnh . . . mà không sống dai không ?

Bên cạnh các cấp chỉ huy dạn dày kinh nghiệm chiến trường, lỗi lạc trong lảnh đạo chỉ huy, là những tinh anh của Quân Lực VNCH, bên cạnh sự huấn luyện gian khổ, được trang bị hùng hậu, yểm trợ dồi dào, bên cạnh sự liên hệ thân thiết của những " ông thầy ", những thuộc cấp và kỷ luật sắt đá của đơn vị. Những câu chuyện, có phải chăng đây là một trong những yếu tố quan trọng, tạo nên lối sống oai hùng của người lính TQLC Viêt Nam? Tạo nên truyền thống TQLC khi mà đoàn quân mũ xanh đi đến đâu đều là những chiến thắng? Tạo nên tính kiêu hùng đặc biệt và đầy tự hào, hãnh diện về binh chủng của mình ?

Bằng vào những câu chuyện của huyền thoại anh hùng.

MX Huỳnh Thừa Dũng

http://www.tqlcvn.org/linh_tinh/linh_tqlc_huyenthoai.htm

Sự Tích Thập Bát Đại Thần Tướng, Thiên tài Quân Sự Việt Nam Thời Cận Đại:

1/ Thần tướng Trình Minh Thế (1922 - 1955)

2/ Thần tướng Phan-quang-Đông (1929-1964)

3/ Thần tướng Trương Quang Ân, Dương-thị-Thanh (1932 - 1968; 1931-1968)

4/ Thần tướng Nguyễn Viết Thanh (1930 - 1970)

5/ Thần tướng Lê-đức-Đạt (? - 1972)

6/ Thần tướng Trần-thế-Vinh (1946-1972)

7/ Thần tướng Nguỵ-văn-Thà (1943-1974)

8/ Thần tướng Nguyễn-xuân-Phúc (1938 - 1975)

9/ Thần tướng Đỗ-hữu-Tùng (? - 1975)

10/ Thần tướng Nguyễn-hữu-Thông (1937 - 1975)

11/ Thần tướng, Thiên tài quân sự Nguyễn-văn-Hiếu (1929-1975)

12/ Thần tướng Nguyễn-văn-Long (1919 - 1975)

13/ Thần tướng Phạm Văn Phú (1929 - 1975)

14/ Thần tướng Lê Nguyên Vỹ (1933 - 1975)

15/ Thần tướng Trần Văn Hai (1929 - 1975)

16/ Thần tướng Lê Văn Hưng (1933 - 1975)

17/ Thần tướng Nguyễn Khoa Nam (1927 - 1975)

18/ Thần tướng Hồ-ngọc-Cẩn (1938-1975)

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)