Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Southeast Asia Sea belong to the Républic of Vietnam

cờ việt nam tung bay, quốc kỳ việt nam tung bay phất phới southeast asia sea, biển Đông Việt-Nam, south china sea, biển nam trung hoa, tranh chấp biển Đông

 

Chuyên mục Southeast Asia Sea được thành lập nhằm khẳng định chủ quyền biển Đông từ hơn 10 ngàn năm của dân tộc Việt-Nam.

Hơn 10 ngàn năm qua, dân tộc Việt-Nam đã sống với biển, gần biển. Đây là nền văn minh chói sáng của tộc Việt.

Tình cảm gắn bó giữa biển và con người Việt Nam đã có chiều dài hàng 10 ngàn năm và tình cảm này vĩnh viễn không thể nào chia cắt được cho dù trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử.

***

Tình Hình Việt Nam Tháng 4/1975

(Tuy tên Tướng Hiếu không được nhắc đến trong bản văn này, nhưng với tư cách Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 3, với trực tính không ngại phát biểu ý kiên riêng - thể nào Tướng Hiếu cũng được tác giả bài này vấn ý. Nếu xét kỹ sẽ thấy một số ý kiến phát biểu trong bài này trùng hợp với chiều hướng suy tư của Tướng Hiếu vào thời buổi đó. Nên ghi nhận là -theo bản tin của thông tấn xã UPI - Tướng Hiếu bị thảm sát ngày 8/4/1975 sau một cuộc cãi vả với Tướng Toàn về chiến thuật bảo vệ Sàigòn. Nguyễn Văn Tín)

Hội Đồng An Ninh Quốc Gia

Ngày 5/4/1975

Văn Thư Gửi: Tướng Scowcroft
Người Gửi: Clinton E. Granger
Đề Tài: Tường Trình về Việt Nam

Tướng Weyand đã hoàn tất cuộc viếng thăm Việt Nam, và bản thảo của sự nhận định của ông được đính kèm. Bản tường trình tối chung đã hoàn tất, nhưng Tướng Weyand từ chối phổ biến nó ngoại trừ cho Tổng Thống, tuy một bản sao đã được chuyển đến Tổng Trưởng Ngoại Giao Schlesinger - và Tướng Wickham. Tôi nghĩ sẽ chỉ có một ít thay đổi giữa bản thảo và bản chính. Bản tường trình lên Tổng Thống rất khách quan, và phản ảnh sự thẩm định kỹ lưỡng của ông. Tôi đồng ý với sự phân tách của ông, và góp phần soạn thảo phần chi tiết của bản tường trình.

Tuy nhiên, bổ túc cho bản tường trình chính thức, Tướng Weyand sẽ trình bày thêm ý kiến lên Tổng Thống, trong đó ông quảng diễn các quan điểm tổng quát nêu trong bản tường trình. Tướng Weyand đã phát biểu mối quan tâm của ông về sự tồn tại của Tổng Thống Thiệu, và về khả năng của nhiều tướng lãnh cao cấp của Quân Đội Việt Nam; ông sẽ trình lên Tổng Thống những điểm này.

Hơn nữa, ông có thể sẽ chuyển đạt một số cảm nghĩ tương tự như cảm nghĩ của tôi mà tôi sẽ trình bày tiếp đây. Bản tường trình, cũng như các bản tường trình khác do Đại Sứ Martin đệ trình, phản ảnh sự cần thiết mà hai vị cùng cảm thấy là phải tìm ra một giải pháp cho một vấn đề hầu như không thể giải quyết nổi. Theo sự thẩm định của tôi, cả Tướng Weyand lẫn Đại Sứ Martin đều cảm thấy bị trói buộc bởi việc đòi hỏi cần duy trì thái độ "có thể làm được" của Mỹ trước mối hiểm họa; lời góp ý của tôi cung ứng một thế quân bình yếm thế hơn.

Câu hỏi chính là liệu Chính Phủ Việt Nam có thể tồn tại trong giai đoạn ngắn không. Nếu không có sự trợ lực đầy đủ từ phía Hoa Kỳ, tôi không nghĩ Chính Phủ Việt Nam sẽ tồn tại tới cuối tháng 4. Với sự thay thế nhanh chóng các vũ khí chính yếu về phía Hoa Kỳ, tình hình có thể chịu đựng được đến giữa hay cuối tháng 5. Lẽ đương nhiên là giả dụ Bắc Việt sẽ dùng tới các cơ may của họ, và tiếp tục các cuộc hành quân hiện thời trong khi mà họ đang hưởng được lợi thế rõ rệt. Tin tức tình báo vào thời kỳ bản văn này được soạn thảo - và tình hình biến chuyển rất mau chóng - cho thấy là Bắc Quân đang di chuyển quân cụ xuống miền nam rất mau lẹ để duy trì thế thượng phong.

Nói cách tổng quát, Chính Phủ Việt Nam trước đây có 13 sư đoàn đối đầu với sự tấn công của Bắc Quân. Nay họ chỉ còn 6 sư đoàn mà thôi , cộng thêm các mảnh vỡ của các đơn vị đã rút xuống miền Nam từ các tỉnh phía bắc. Sáu sư đoàn này chia ra làm hai nhóm, với ba sư đoàn trong Vùng 3 Quân Sự, tại các trục lộ chính đưa tới Sàigòn, và ba trong Vùng 4 Quân Sự, bảo vệ Vùng Đồng Bằng. Đối đầu lực lượng này Bắc Quân có 11 sư đoàn trong các tỉnh phía bắc và thuộc thành phần lực lượng trừ bị chiến lược, và cộng thêm tám sư đoàn tại miền nam, tổng cộng là 19 sư đoàn. Một lần nữa nói cách tổng quát, tỷ lệ các lực lượng chiến đấu khoảng 3 đối 1 với Nam Quân nắm phần yếu thế.

Bắc Quân có trên 600 chiến xa do Nga và Tàu cung cấp; Nam Quân chỉ có hơn 100 chiếc còn lại trong tay. Các tiểu đoàn cơ hữu (chiến xa và bộ binh) của họ được yểm trợ bởi pháo binh đầy đủ, và đã chứng tỏ khả năng dùng các lực lượng của họ trong trận chiến quy ước một cách rất bài bản. Họ có dư thừa đạn dược dự trữ để yểm trợ cho một cuộc tấn công kéo dài cho tới khi đạt được một kết thúc cuối cùng.

Bắc Quân duy trì kỷ luật cao độ trong các cuộc hành quân của họ, mặc dù các đơn vị thay thế của họ chỉ trải qua một thời kỳ huấn luyện ngắn, cho phép họ dùng các lực lượng của họ một cách hữu hiệu trong các cuộc tấn công của họ.

Các sư đoàn QLVNCH trong Vùng III và IV còn nguyên vẹn, kỷ luật còn khá cao, nhưng tinh thần thì sa sút trầm trọng gây nên bởi các thảm họa vô tiền khoáng hậu tại vùng bắc. Các sư đoàn này đang lâm vào trong thế tự vệ, và cứ mỗi lần Bắc Quân thành công, chí phấn đấu của họ trong các cuộc hành quân kéo dài sẽ tiếp tục co rúm lại. Tinh thần đang giảm sút một cách nhanh chóng trong tuần qua.

Bắc Quân hành quân như những đơn vị quân sự, với gia đình của họ ở miền Bắc Việt Nam. Ngược lại, QLVNCH bận tâm về tương lai của gia đình họ, và đang khi họ chiến đấu trong vùng gia đình họ cư ngụ họ đương nhiên đặt trọng tâm vào trách nhiệm đối với gia đình lên trên trách nhiệm đối với Chính Phủ, trong khi Chính Phủ có thể không có khả năng bảo vệ các gia đình này. Tôi tin là yếu tố này, hơn mọi yếu tố khác, giải thích cho tình cảnh tán loạn tại Vùng I và II. Bắc Quân có tầm nhìn hướng về chiến thắng, đang khi đó QLVNCH có một triết lý chủ bại.

Trong bối cảnh tổng quát đó, tôi không nghĩ là QLVNCH sẽ có thể kham chịu nổi một thế chống cự tại nửa phần đất còn lại của Nam Việt Nam - ngoại trừ Bắc Việt không thừa thắng xông lên, và cho phép Chính Phủ Việt Nam có thì giờ củng cố quân đội họ. Điều này khó có thể xảy ra, vì tin tức tình báo cho thấy Bắc Quân đang trên đà khai thác phần thắng lợi.

Nếu có thời giờ củng cố lực lượng, như phác họa trong tờ tường trình của Tướng Weyand, và với quân cụ và tiếp tế cung ứng bởi một ngân sách 722 triệu đô cho tài khóa 1975, Chính Phủ Việt Nam có lẽ có thể tự vệ phần đất thu hẹp, đặc biệt nếu xét đến sự giảm thiểu của các đường giây liên lạc và thế lợi của các đường giây bên trong của một chiến tranh qui ước. Điều này đòi hỏi tăng gấp đôi tài nguyên trong một thời gian ngắn. Khó có thể mà Bắc Quân sẽ đình trệ các cuộc hành quân hiện hành của họ lâu đủ để QLVNCH hoàn bị việc tái tổ chức và tái thiết. Có phần hợp lý nếu lập luận là Bắc Quân sẽ dùng toàn bộ tài nguyên không mấy tiêu hao trong lúc chiếm đoạt Vùng I và Vùng II - để duy trì thế thượng phong và tìm lấy một giải pháp quân sự nhanh chóng.

Tôi đã đàm phán lâu dài với Trung Tướng Toàn, tư lệnh Vùng III (trên căn bản đã chiến đấu trong cùng một đội ngũ khi ông là tư lệnh sư đoàn 2 QLVNCH năm 1967. Chúng tôi trao đổi quan điểm như đôi quân nhân kỳ cựu, đã cùng nhau chia xẻ kinh nghiệm chiến đấu một kẻ địch chung trong quá khứ). Đây là người sẽ đảm nhiệm trọng trách chiến đấu những cuộc chiến định đoạt trong Vùng III, và quan điểm của ông mang tính chất then chốt trong mọi thẩm định, và quả thật là yếu tố quan yếu cho những ý kiến tôi phát biểu trong bản văn này.

-- Trả lời cho các câu hỏi về viễn ảnh đối với tương lai gần, Tướng Toàn thuyết trình với tôi về các tin tức tình báo của ông, các thế sắp xếp của ông, và cho thấy rằng kế hoạch của ông là chống cự tại chỗ với các lực lượng tại tư thế hiện thời. Tôi hỏi ông có tính rút Sư Đoàn 25 khỏi vùng Tây Ninh, hay Sư Đoàn 18 khỏi các trục lộ đông bắc đưa tới Biên Hòa-Long Bình-Sàigòn, và kế hoạch ông ra sao. Ông nói là không có kế hoạch rút quân, và lập lại ý định của ông là chiến đấu tại chỗ "tới giọt máu cuối cùng và viên đạn cuối cùng."

-- Tôi hỏi quan điểm của ông về khả năng đương đầu với mối đe dọa đang khai triển từ phía bắc. Ông nói là các lực lượng của ông có thể đối phó với địch quân hiện có mặt tại Vùng III, và có lẽ cũng có thể đương đầu với thêm một sư đoàn Bắc Quân nữa. Tuy nhiên, ông chỉ cho thấy là nếu hơn một sư đoàn Bắc Quân nữa thì sẽ trở thành "vấn đề nan giải."

-- Trả lời câu hỏi của tôi về diện nào trầm trọng nhất trong mối đe dọa của địch, ông nêu lên sự liên kết của chiến xa, pháo binh và bộ binh. Khả năng của địch trong việc xử dụng pháo binh cách hữu hiệu đã tạo nhiều khó khăn lớn, nhưng Tướng Toàn cho chiến xa Bắc Quân là mối đe dọa chính yếu. Ông mong ước có thêm chiến xa để phản công mối đe dọa này, nhưng chúng tôi không thảo luận tới sự hữu hiệu của hỏa tiễn chống chiến xa TOW đặt trên các thiết vận xa M113 thay cho việc phải dùng chiến xa khi không có. (Sau này tôi nhận định riêng là QLVNCH có đủ súng phóng hỏa tiễn TOW và thiết vận xa M113 để xử dụng chung với nhau như một vũ khí hữu hiệu, và họ đã khéo léo tài tình trong việc điều chỉnh cách đặt đại bác phóng hỏa tiễn TOW trên thiết vận xa. Tuy nhiên, các thiết vận xa và súng TOW rải rác khắp cùng các đơn vị QLVNCH, và việc gom lại và điều chỉnh kịp thời rất mong manh.)

-- Ông nêu lên sự cần thiết tăng phần di động chiến thuật, và ước có thêm trực thăng. Tuy nhiên, mặc dù trực thăng tiện dụng thật, nhưng có thể lời bàn của ông chỉ là một bộc phát do mối liên hệ của chúng tôi vào năm 1967, khi mà tôi tiếp vận cho ông trực thăng vận tải và trực thăng võ trang để yểm trợ Sư Đoàn của ông.

-- Tôi đề cập tới các khó khăn tại các tỉnh phía bắc gây nên bởi sự hiện diện của các gia đình quân nhân gần bên các vị trí chiến thuật của các lực lượng Chính Phủ Việt Nam, và hỏi ông có kế hoạch nào đưa các gia đình tới những vị trí quang đãng hơn ở Sàigòn không. Ông nói ông không có kế hoạch nào như vậy, và thật ra chẳng có nơi nào có thể đưa các gia đình đó tới được - và các gia đình đó sẽ bất động cùng với các quân lính. Tuy không mấy thực tế, điều này có lẽ cho thấy tâm trạng sẽ biểu hiện khi áp lực gia tăng.

-- Trả lời các câu hỏi liên quan tới khả năng của Không Quân Việt Nam, Tướng Toàn có những lời lẽ khiếm nhã, cho thấy Không Quân không hữu hiệu, không vận dụng đủ trong việc tấn kích các mục tiêu để yểm trợ cho các đơn vị trên mặt đất đối lại các vị trí phòng không của địch; thả bom từ trên không rất cao, và ngay cả thả bom vào các toán quân của Tướng Toàn mới đây.

-- Thảo luận về sân khấu chính trị và các tổng hành dinh cấp cao hơn rất là hạn chế - Tướng Toàn không muốn thảo luận quan điểm của ông, nhưng ông có một vài văng tục khi phát biểu ý kiến riêng.

Tiếp đó chúng tôi thảo luận về diễn tiến của các biến cố có thể xảy ra trong tương lai tại Vùng III. Hai chúng tôi đồng quan điểm: nỗ lực chính của Bắc Quân sẽ là tìm cách cô lập Tây Ninh và Sư Đoàn 25, với một cuộc tấn công phụ nhắm về phía tổ hợp Biên Hòa-Long Bình-Sàigòn mặt đông bắc.

Điều này rất có thể đưa tới một tình trạng tan rã chiến thuật nhanh chóng khắp Vùng III, và có thể khiến Chính Phủ Việt Nam tìm cách chuyển một sư đoàn từ miền Đồng Bằng lên phía bắc. Tuy nhiên, một sư đoàn sẽ không làm tăng khả năng khả dĩ tạo được thế ổn định thiết thực, và khoảng trống ở Đồng Bằng sẽ tạo một sự đổ vỡ nhanh chóng hơn ở phần đất đó.

Có lẽ Sàigòn sẽ là một thành thị bị vây hãm rất sớm - có thể là vào tuần cuối của tháng 4.

Một biến cố có thể thay đổi cục diện trong tất cả lực lượng còn lại của Nam Việt Nam là việc thay thế Tổng Thống Thiệu. Có một sự cay cú rộng lớn chĩa vào Thiệu liên quan đến việc rút quân khỏi các tỉnh phiá bắc. Đúng hay sai, Thiệu bị gán tội gây nên thảm trạng quân sự tại Vùng I và II.

Quan điểm yếm thế của tôi là Hoa Kỳ không làm gì được mấy để thay đổi diễn tiến của các biến cố trong tương lai tại Nam Việt Nam, ngoại trừ là tái lập sức mạnh không quân Hoa Kỳ một cách dồi dào - và ngay cả trường hợp này có lẽ cũng không thể đảo ngược thủy triều trên mặt đất.

Đồng thời, Hoa Kỳ có quan yếu về mặt tinh thần lẫn thực tiễn trong việc tạo dựng một nõ lực tối đa khả dĩ cứu vớt tình hình tại Việt Nam. Sự đáng tin cậy của chúng ta với tư cách một đồng minh sẽ được đo lường bởi nỗ lực của chúng ta trong các tuần tới và, mong được vậy, các tháng tới. Tuy thành quả rất mong manh, Hoa Kỳ cần thiết phải biểu lộ một hình ảnh của một thái độ rõ rệt trong sự quyết tâm trợ giúp Nam Việt Nam. Điều này sẽ khiến Chính Phủ Việt Nam có thêm chút ít cơ may sống còn, và điều quan trọng hơn là sẽ bảo tồn lòng tin cậy vào Hoa Kỳ trên toàn cầu.

Nói một cách thực tế, trong khi chúng ta có thể bàn tới kế hoạch kéo dài thời gian thêm mấy năm nữa, chúng ta có thể chấp nhận hầu như bất cứ loại tài trợ nào của Quốc Hội khả dĩ hiến cho chúng ta một đột phát nhất thời ngay bây giờ. Nếu không có lấy một tài trợ ngắn hạn nhanh chóng thì sẽ chẳng còn vấn đề phải bận tâm tới tài khóa bắt đầu của năm 1976, khi đó chỉ còn là một vận dụng khoa bảng viển vông.

Sau cùng, việc di tản dân chúng rất dễ dàng tăng trưởng tới con số cả triệu người. Vấn đề này được bàn tới riêng biệt.

(Bản chính của bức bản văn này đưọc tồn trữ tại Gerald R. Ford Library)

generalhieu.com

 

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)