Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Southeast Asia Sea belong to the Républic of Vietnam

cờ việt nam tung bay, quốc kỳ việt nam tung bay phất phới southeast asia sea, biển Đông Việt-Nam, south china sea, biển nam trung hoa, tranh chấp biển Đông

 

Chuyên mục Southeast Asia Sea được thành lập nhằm khẳng định chủ quyền biển Đông từ hơn 10 ngàn năm của dân tộc Việt-Nam.

Hơn 10 ngàn năm qua, dân tộc Việt-Nam đã sống với biển, gần biển. Đây là nền văn minh chói sáng của tộc Việt.

Tình cảm gắn bó giữa biển và con người Việt Nam đã có chiều dài hàng 10 ngàn năm và tình cảm này vĩnh viễn không thể nào chia cắt được cho dù trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử.

***

Phúc Trình Lượng Định Tình Hình Việt Nam của Tướng Fred C. Weyand, 4/4/1975

(Vào cùng thời buổi của bản phúc trình này, Tướng Hiếu, với tư cách Tư Lệnh Phó Hành Quân Quân Đoàn 3, cũng phải đương đầu với những vấn đề Tướng Weyand đề cập đến trong bản văn này. Tuy nhiên, Tướng Weyand đứng trên bình diện trừu tượng, còn Tướng Hiếu thì đứng trên bình diện cụ thể của chiến trường. Dù Mỹ có tiếp tay hay không, QLVNCH vẫn phải bảo vệ Sàigòn. Mà lúc đó, Tướng Hiếu đóng vai trò chính yếu trong việc điều nghiên và thi hành kế hoạch bảo vệ thủ đô Sàigòn. Tiếc là Tướng Hiếu bị ám hại ngày 8/4/975, một ngày trước ngày chiến trận Xuân Lộc bùng nổ, nên không ai biết kế hoạch đó sẽ khai triển toàn bộ ra sao - có lẽ ta thoáng chứng kiến được một phần nào qua chiến thắng Quân Đoàn 3 thâu hoặc được trong trận đánh Xuân Lộc. Nguyễn Văn Tín)

Quân Lực Hoa Kỳ
Tổng Tham Mưu Trưởng

Ngày 4/4/1975

Văn Thư Đệ Trình Tổng Thống

Đề Tài: Thẩm Định Việt Nam

Vâng theo chỉ thị của Tổng Thống, tôi đã viếng thăm Nam Việt Nam trong thời gian từ 28/3 đến 4/4. Tôi đã hoàn tất công việc lượng định tình hình hiện tại đó, đã phân tách Chính Phủ Cộng Hòa Việt Nam có những dự tính nào để phản công sự gây hấn từ phía Bắc Việt, đã cam kết với Tổng Thống Thiệu sự hỗ trợ kiên trì của Tổng Thống trong thời gian khủng hoảng này, và đã kiểm điểm các lựa chọn và các đường lối hành động mà Hoa Kỳ có thể thi hành để trợ giúp Nam Việt Nam.

Tình hình quân sự hiện tại đang lâm vào tình trạng gây cấn, và sự tồn tại của Nam Việt Nam trong tư thế một quốc gia đứt đoạn tại các tỉnh phía nam thật là mong manh. Chính Phủ NVN đang bên bờ vực thẳm của một sự thất bại quân sự hoàn toàn. Tuy nhiên, Nam Việt Nam dự tính tiếp tục chống cự với phương tiện có trong tay, và, nếu được phép dưỡng thở, có thể tái tạo khả năng chiến đấu tùy thuộc vào sự yểm trợ chiến cụ về phía Hoa Kỳ cho phép. Tôi xác tín là chúng ta có bổn phận phải hiến sự hỗ trợ này cho họ.

Chúng ta đã tới Việt Nam, trước tiên là để hỗ trợ nhân dân Nam Việt Nam--chứ không phải để đánh bại Bắc Việt. Chúng ta đã chìa bàn tay ra cho nhân dân Nam Việt Nam, và họ đã nắm lấy bàn tay ấy. Giờ đây họ cần tới bàn tay đó hơn bao giờ hết. Bằng mọi giá chúng ta đã trợ giúp cho 20 triệu người. Họ đã nói với cả thế giới là họ lo sợ cho tính mạng của họ. Họ là những người ưa chuộng các giá trị trùng hợp với các giá trị của các hệ thống không cộng sản, họ tha thiết đeo đuổi cơ hội tiếp tục phát triển một lối sống khác lối sống của những người hiện sống dưới ách Bắc Việt.

Mức độ yểm trợ hiện tại của Hoa Kỳ bảo đảm cho sự thất bại của Chính Phủ NVN. Trong số 700 triệu mỹ kim cho tài khóa 1975, số còn lại 150 triệu mỹ kim có thể xử dụng trong một thời gian ngắn cho một cuộc tiếp tế qui mô; tuy nhiên, nếu muốn đạt được một cơ may thành công thật sự, cần có lập tức thêm 722 triệu mỹ kim để đưa Nam Việt Nam tới một thế phòng thủ tối thiểu chống lại sự xâm chiếm được Nga và Tàu hỗ trợ. Sự viện trợ bổ túc này của Hoa Kỳ hợp với tinh thần và ý định của Hiệp Định Ba Lê. Hiệp Định này vẫn là phương thức thực tiễn làm việc cho một sự thỏa hiệp ôn hòa tại Việt Nam.

Việc xử dụng hỏa lực không quân Hoa Kỳ để tăng cường khả năng Nam Việt Nam chống lại sự xâm chiếm của Bắc Việt sẽ đem lại sự hỗ trợ cả trên hai bình diện chiến cụ và tâm lý đối với Chính Phủ NVN và đồng thời sẽ đem lại một thế trì hoãn cần thiết trên chiến trường. Tuy nhiên tôi nhìn nhận những phiền phức khả quan về mặt pháp lý và chính trị nếu thi hành chọn lựa này.

Xét về mặt biến chuyển nhanh chóng của các biến cố, Tổng Thống cần phải quan tâm tới một vấn đề khác. Dựa trên các lý do thận trọng, Hoa Kỳ phải có ngay bây giờ một kế hoạch di tản đại qui mô 6 ngàn kiều dân Mỹ và hàng vạn người Nam Việt Nam và Đệ Tam Quốc Gia mà chúng ta có bổn phận phải bảo vệ. Bài học tại Đà Nẵng cho thấy công việc di tản này đòi hỏi tối thiểu một chiến đoàn Hoa Kỳ của một sư đoàn tăng cường yểm trợ bởi không lực tác chiến để dập tan pháo binh và hỏa lực phòng của Bắc Việt. Khi tình thế đòi hỏi, một lời xác định công khai về chính sách này phải được công bố và Bắc Việt phải được cảnh cáo một cách rõ ràng : về ý định của Hoa Kỳ sẽ dùng tới vũ lực để bảo toàn tính mạng của các người được di tản. Hành Pháp phải được Quốc Hội cho toàn quyền xử dụng các hình phạt quân sự chống lại Bắc Việt nếu họ cản trở công cuộc di tản.

Thế giới đánh giá sự trung tín của Hoa Kỳ trên tư cách một đồng minh tại Việt Nam. Để duy trì sự tin tưởng đó, chúng ta phải thực hiện một nỗ lực tối đa trong việc hỗ trợ cho Nam Việt Nam ngay bây giờ.

Một phân tách chi tiết hơn được chứa đựng trong bản phúc trình đính kèm.

Trân trọng,
Fred C. Weyand
Đại Tướng, Quân Lực Hoa Kỳ
Tổng Tham Mưu Trưởng

Phúc Trình Đệ Lên Tổng Thống Hoa Kỳ Về Tình Hình Nam Việt Nam

Mục Lục

I. Tình Trạng Hiện Thời

A. Bối Cảnh
B. Tình Trạng Hiện Tại
C. Kế Hoạch và Ý Đồ của Bắc Việt

II. Các Vấn Đề Chính

III. Các Kế Hoạch Và Ý Định của Chính Phủ NVN

IV. Các Viễn Tượng Hiện Tại

V. Vai Trò Của Hoa Kỳ Và Các Lựa Chọn Đường Lối Hành Động

Nhập Đề

Ngày 24/3/1975 Tổng Thống chỉ thị tôi thực hiện một sứ vụ xem xét tình hình của Việt Nam Cộng Hòa. Trách vụ của tôi là:

Thẩm định tình trạng quân sự hiện tại và các ý đồ của Bắc Việt trong thế tấn công hiện tại.
Xác định và thẩm định điều gì Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa đang làm và định làm để đương đầu với thế tấn công này và ảnh hưởng của nó trong cả hai lãnh vực quân sự lẫn dân sự.
Xác định và thẩm định điều gì Chính Phủ Hoa Kỳ có thể làm để kiện toàn khả năng quân sự của Nam Việt Nam và để giảm bớt nỗi thống khổ của dân chúng.
Cam kết với Tổng Thống Thiệu rằng Chính Quyền này tiếp tục trung kiên trong việc hỗ trợ các nỗ lực của Việt Nam Cộng Hòa chống trả sự gây hấn của Bắc Việt và Chính Quyền này sẽ làm tất cả những gì cần thiết để cung cấp viện trợ chiến cụ cần thiết để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa.

I. Tình Trạng Hiện Thời

A. Bối Cảnh

Hiệp Định Ba Lê của 27/1/1973 không đánh dấu cho sự bắt đầu của hòa bình tại Việt Nam, nhưng đánh dấu cho sự bắt đầu của sự phát huy về phía Cộng Sản trong việc tiếp tế và tiếp vận để Bắc Việt tiếp tục gây hấn quân sự tại Việt Nam. Trong 26 tháng kế tiếp từ ngày Hiệp Định được ký kết, Bắc Việt kiến tạo lại Đường Mòn Hồ Chí Minh thành một huyết mạch tiếp vận chính dưới bất cứ thời tiết nào. Họ xây đắp một đường tiếp liệu dài 350 dậm vào Nam Việt Nam để chuyển vận quân cụ. Khi hệ thống tiếp vận này hoạt động tối đa, họ tăng gấp bốn lần số lượng pháo binh trận địa, tăng lên rất nhiều súng phòng không và phái xuống gấp sáu lần số chiến xa vào Nam Việt Nam so với số lượng tháng 1/1973. Đồng thời, họ tăng số quân lên gần 200 ngàn người. Tất cả những hành động này vi phạm trắng trợn Hiệp Định Ba Lê. Ngược lại, Hoa Kỳ không chu toàn bổn phận duy trì mức độ trang bị quân cụ Nam Việt Nam như Hiệp Định cho phép. Đạn dược giảm thiểu 30 phần trăm từ 179 ngàn tấn khi ngưng bắn xuống tới 126 ngàn tấn khi cuộc tấn công của Bắc Quân khởi sự. Xăng nhớt và các bộ phận máy móc bị cắt giảm 50 phần trăm đối với Không Quân Việt Nam.

Sự phác họa kiểm điểm vừa nêu trên khiến xảy ra tình trạng hiện thời tại Nam Việt Nam. Tình trạng này vừa khó lường vừa mong manh. Nó thay đổi rất rõ rệt trong tháng 3 và còn có thể thay đổi nhanh chóng hơn trong các tuần, hay ngay cả các ngày tới.

Ngày 10/3, Cộng Sản phát động "Gia Đoạn II" của chiến dịch 1975. Hai Sư Đoàn Bắc Quân tấn kích Ban Mê Thuột, một ngã rẽ chiến thuật tại Tây Cao Nguyên, chỉ được QLVNCH bảo vệ sơ sài. Cũng cùng một lúc, các đơn vị Bắc Quân phía tây Sàigòn phát động một nỗ lực quyết liệt nhằm loại trừ sự hiện diện của Chính Phủ NVN, cho Cộng Sản một hành lang ngắn đoạn và an toàn hơn để xâm nhập vào phía nam của Đồng Bằng Sông Cửu Long và, đồng thời, khóa chặt hai con đường giữa Sàigòn và Tây Ninh.

Vào giữa tháng 2, Tổng Thống Thiệu gửi Nghị Sĩ Trần Văn Lắm sang Hoa Kỳ trong một sứ vụ riêng tư để thẩm định thái độ của Quốc Hội liên quan đến Việt Nam và viễn tượng của một hành động ủng hộ về sự viện trợ của giới lập pháp. Lắm đệ trình một thẩm định rất yếm thế, mà Thiệu cảm thấy đồng quan điểm với các phiếu bỏ vào tháng 3 của phía đảng Dân Chủ tại Hạ Nghị Viện. Thiệu đang suy nghĩ mông lung về sự lượng định đen tối của Lắm khi Cộng Sản phát động các cuộc tấn công thuộc "Giai Đoạn II" kể trên. Thiệu thấy nước ông đương đầu với một cuộc tấn công qui mô của Cộng Sản trùng hợp với sự cắt giảm, mà cũng có thể sự chấm dứt của viện trợ Mỹ. Ông và các cố vấn của ông do đó đã quyết định rằng một triệt thoái chiến lược tối cần cho sự tồn tại của Chính Phủ NVN.

Khái niệm chiến lược mới này đòi hỏi xóa bỏ các vùng núi ít dân cư của Vùng 1 và 2 Chiến Thuật để tập trung các tài nguyên và nhân lực để bảo vệ Vùng 3 và 4 Chiến Thuật, cộng thêm các vùng ven biển thuộc Vùng 1 và 2 Chiến Thuật; các vùng này là vùng sản xuất nông nghiệp của Nam Việt Nam và là nơi tập trung dân cư đông đảo. Chiến lược này có vẻ hợp lý và ước đoán tính chất cần thiết của Thiệu là đúng. Tuy nhiên khi đem nó ra thi hành thì thật là thảm bại.

Trong buổi họp ngày 13/3 với Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Tướng Trưởng, Tổng Thống Thiệu phác họa khái niệm chiến lược mới của ông và sự quyết định rút Sư Đoàn Dù từ Quân Đoàn 1 về Quân Đoàn 3, mặc dù Tướng Trưởng hết sức phản đối cho là sự rút sư đoàn dù đi sẽ khiến quân Chính Phủ NVN không thể nào giữ vững nổi phòng tuyến. Trong mười hai ngày kế tiếp (13-25/3) có nhiều do dự, cả tại Vùng 1 Chiến Thuật lẫn tại Sàigòn, liên quan tới vấn đề phần đất nào phải giữ -- và đặc biệt có cần thiết cố bảo vệ Huế hay không. Vì lẽ lệnh nhận được từ Sàigòn thay đổi liên miên, Tướng Trưởng đã phải thay đổi thế dàn quân ít nhất là ba lần, mặc dù Bắc Quân gia tăng cường độ tấn công không ngừng. Thành phố Quảng Trị được di tản trong trật tự ngày 19/3, nhưng trước khi tuyến phòng mới của Chính Phủ NVN được thiết lập dọc theo sông Mỹ Chánh, các lực lượng địa phương quân đã tan hàng trước áp lực của Bắc Quân; Sàigòn triệu hồi lữ đoàn dù cuối cùng tại Vùng 1 Chiến Thuật, thế là một sự tan rã xảy ra. Áp lực của Bắc Quân tăng lên rất nhanh từng ngày. Huế được di tản ngày 25/3, nhưng lúc đó các đơn vị Bắc Quân đã cắt đứt Quốc Lộ 1 phía nam thành phố và việc triệt thoái 20 ngàn chiến binh khỏi Huế, bao gồm hầu hết là Sư Đoàn 1 QLVNCH, trở nên lệ thuộc vào rút lui vội vã, không chuẩn bị trước và đầy nguy hiểm bằng đường biển. Cũng trong thời gian này, các đơn vị giàn mỏng của Chính Phủ NVN tại Quảng Nam, Quảng Tín, và Quảng Ngãi bị phân tán và đánh bại từng mảnh bởi các lực lượng của Bắc Quân.

Sự hiện diện của Chính Phủ NVN tại Vùng 1 Chiến Thuật thu gọn lại tại địa bàn Đà Nẵng. Lực lượng còn sót lại tại vùng này--bao gồm Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và một phần bộ của Sư Đoàn 3 QLVNCH--cố gắng lập tuyến phòng tại Đà Nẵng, nhưng nỗ lực này không thành công. Mười ngàn quân trú phòng hỗn độn của Chính Phủ NVN phải đương đầu với hơn 30 ngàn quân Bắc Việt đang trên đà chiến thắng. Tình trạng càng phức tạp thêm với làn sóng của hơn một triệu dân di tản. Với tổng số 2 triệu người tìm cách thoát ly ra khỏi thành phố, bấn loạn lan tràn và ngày 28/3 trật tự tan biến. Các chiến xa Bắc Quân tiến vào thành phố ngay sau đó. Không quá 50 ngàn dân di tản được đem ra khỏi bằng máy bay hay tàu thủy, và Chính Phủ NVN thành công trong việc cứu vớt 22 ngàn chiến binh, trong số đó có khoảng 9 ngàn TQLC và 4-5 ngàn lính thuộc Sư Đoàn 2 và 3 QLVNCH, nhưng số mạng của phần còn lại của đám quân dân cán chính tại Đà Nẵng thì không biết ra sao.

Tại Vùng 2 Chiến Thuật, Tổng Thống Thiệu và Tư Lệnh Vùng, Tướng Phú, họp tại Cam Ranh ngày 14/3 để bàn thảo tình hình sau khi mất Ban Mê Thuột. Trong buổi họp này, Tổng Thống Thiệu phác họa khái niệm chiến lược mới của ông, triệt thoái khỏi cao nguyên và củng cố lực lượng quân chính phủ để bảo vệ các vùng ven biển huyết mạch. Không rõ lời lẽ chính xác của Tổng Thống Thiệu như thế nào, nhưng Tướng Phú hiểu là ông được phép tùy nghi di tản hoàn toàn và ngay lập tức Pleiku và Kontum, mặc dù không hề có một kế hoạch hay một sự chuẩn bị nào cả. Việc di tản khởi sự hai ngày kế đó, với sự di tản các lực lượng QLVNCH về vùng ven biển tại Tuy Hòa, theo hai Quốc Lộ 14 và Hương Lộ 7B ngang qua Phú Bổn và Phú Yên. Cộng thêm vào những nỗi khó khăn gây nên bởi một cuộc di tản không được chuẩn bị, 7B là một con đường phụ, không được xử dụng từ nhiều năm nay, với nhiều cầu bất khả dụng và các khúc sông cạn không được khai triển. Chỉ huy và kiểm soát sụp đổ. Sáu liên đoàn Biệt Động Quân và một trung đoàn Bộ Binh từ Kontum và Pleiku phái đến, bị phân tán lẫn lộn trong đám đông dân sự trên 200 ngàn hỗn độn chạy theo đàn quân rút lui. Có ít ra hai hoặc có thể ba trung đoàn Bắc Quân tiến lên hướng bắc từ Darlac tới Phú Bổn và Phú Yên để đánh phá đoàn quân di tản, kết quả là các đơn vị tàn quân sống sót tới Tuy Hòa ngày 26/3 không còn sức chiến đấu nữa. Cảnh giết chóc đám dân chúng trên đường rút lui thật là thảm khốc.

Đang khi những biến cố trên tiếp diễn, Chính Phủ NVN đưa một lữ đoàn dù từ vùng Huế vào Tỉnh Khánh Hòa để ngăn chận từ hai tới bốn trung đoàn Bắc Quân đang đuổi theo đám tàn quân của Sư Đoàn 23 QLVNCH chạy từ Ban Mê Thuột theo hướng đông băng qua tỉnh Darlac. Sư Đoàn 23 đã thảm bại tại tuyến phòng Ban Mê Thuột, và coi như không còn là một đơn vị chiến đấu khi tàn quân lê lết được tới Nhatrang.

B. Tình Trạng Hiện Tại

Tình trạng quân sự trong tuần đầu của tháng 4 cần được thẩm định chiếu theo điều gì xảy ra trong tháng 3. Giữa tình trạng hỗn độn của Vùng 1 và 2 Chiến Thuật, một số đơn vị QLVNCH đã chiến đấu cừ khôi. Nếu không có sự chiến đấu hữu hiệu của TQLC và một số đơn vị thuộc Sư Đoàn 3 QLVNCH, không ai có thể thoát ra khỏi Đà Nẵng. Tại Ban Mê Thuột, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 23 QLVNCH cầm cự hơn một tuần lễ đối đầu với hai sư đoàn Bắc Quân. Các trung đoàn 40 và 41 thuộc Sư Đoàn 22 QLVNCH đã chiến đấu dũng mãnh để cầm chân các lực lượng đông đảo hơn của Bắc Quân tại phòng tuyến ven biển tại Qui Nhơn trong tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, ảnh hưởng gây nên bởi các biến cố trong tháng 3 đã đưa đến những hậu quả xấu cả trên lãnh vực thực tế, và tệ hại hơn, lẫn tâm lý.

Các lực lượng Cộng Sản trên đà thành công và tuy họ bị thiệt hại nặng nề, nhưng họ được thay thế bởi nhân sự và quân cụ mới. Vào ba tuần cuối của tháng 3, năm sư đoàn QLVNCH, mười hai liên đoàn Biệt Động Quân và hai lữ đoàn thiết giáp đã bị loại khỏi vòng chiến. Các sĩ quan và các binh sĩ thuộc các đơn vị này có thể được tân trang trong các đội ngũ mới, nhưng hầu như họ đã mất mát hết tất cả quân cụ. Nhiều đơn vị khác của Chính Phủ NVN bị thiệt hại nặng nề về mặt nhân sự và quân trang.

Vào khoảng ngày 1/4, tổng số các lực lượng tác chiến Cộng Sản tại Nam Việt Nam, mà đa số thuộc thành phần các đơn vị Bắc Quân, lên tới trên 200 ngàn chiến binh chia ra thành 123 trung đoàn--71 bộ binh, 7 công binh tác chiến, 4 thiết giáp, 16 pháo binh và 25 phòng không.

Trong khi đó, lực lượng QLVNCH chỉ tổng cộng khoảng 54 ngàn chiến binh, chia ra thành 39 trung đoàn/lữ đoàn hay tương đương--18 trung đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn thiết giáp, 5 liên đoàn biệt động quân, 3 lữ đoàn dù và 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến. Nếu được tái trang bị, quân số tác chiến của QLVNCH có thể tăng thêm với các chiến binh thuộc các đơn vị sống sót sau các cuộc đụng độ trong tháng 3 tại Vùng 1 và 2 Chiến Thuật, nhưng điều này đòi hỏi thời gian. Tính đến ngày 1/4, lực lượng Bắc Quân tại Nam Việt Nam trội vượt lực lượng QLVNCH với tỷ lệ 3 chọi 1.

Về mặt lãnh thổ, Chính Phủ NVN đã mất hết Vùng 1, và hầu hết Vùng 2. Chính Phủ NVN hiện còn nắm giữ một giải đất ven biển xuôi nam từ Cam Ranh đến biên giới Vùng 3 Chiến Thuật, cộng thêm mảnh đất phía nam của tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng thất thủ ngày 1/4, thành phố Đà Lạt được di tản ngày 2/4 và phần còn lại của tỉnh Tuyên Đức đang tan rã.

Tại Vùng 3 Chiến Thuật, tỉnh Phước Long đã mất trong tháng 1. Trong tháng 3, lãnh thổ bị hao mòn thêm theo một vòng cung trải rộng 50 dậm phía tây, bắc và đông Sàigòn. Các cuộc đụng độ trong Vùng 3 Chiến Thuật lẻ tẻ và, đôi khi mạnh nhưng tại đây, QLVNCH tương đối đứng vững trong ba tuần qua. Trong Vùng 3 CT, các lực lượng QLVNCH chưa phải đối diện với một quân số địch đông đảo hơn. Mặc dù Cộng Sản đang gây áp lực mạnh tại nhiều khu vực (chẳng hạn, Tây Ninh và quanh Xuân Lộc) và rõ ràng đang toan tính những đợt tấn công mới, các lực lượng QLVNCH cách chung đứng vững và chiến đấu cừ khôi, và đồng thời gây thiệt hại trầm trọng cho một số đơn vị Cộng Sản. Ngoại trừ phía lực lượng QLVNCH hoàn toàn mất hết tinh thần hay phía Cộng Sản tăng lực lượng khả quan nhiều hơn mức độ thấy trong tuần qua, Chính Phủ NVN có thể giữ được tình trạng trong Vùng 3 CT theo như thế đứng vào ngày 3/4, ít nhất là trong tương lai tiếp cận.

Trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (Vùng 4CT), không có mấy thay đổi trong mấy tuần qua. Lực lượng tương quan không mấy chênh lệc. Tình hình chiến thuật có thể hao mòn nhanh chóng nếu các đơn vị Cộng Sản tăng thêm vào trong vùng hay nếu Chính Phủ NVN điều động một trong ba sư đoàn hiện có mặt tại Vùng 4 CT lên Vùng 3 CT.

Về mặt quân sự, Chính Phủ NVN ở trong thế thủ và bị vây hãm. Các thất bại trong tháng 3 và các hậu quả kéo theo sau--mất mát lãnh thổ, thương vong quân sự và dân sự, di chuyển to tát của hơn hai triệu dân di tản--đã ảnh hưởng tiêu cực nặng nề trên cơ cấu chính trị và xã hội của Nam Việt Nam. Sâu đậm tới mức độ nào thì không thể lường được, vì dân chúng Nam Việt Nam còn trong tâm trạng giao động mạnh và vì sự hiểu rõ điều gì đã xảy ra trong Vùng 1 và 2 chưa được lan rộng tới, ngay cả tại Sàigòn, huống hồ là các vùng nông thôn thuộc Vùng 3 CT hay Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long trù phú.

C. Ý Định và Kế Hoạch của Bắc Việt

Khó có thể đoán được toan tính của Bắc Việt và có lẽ Trung Ương Đảng Lao Động của Hànội đang ráo riết thảo luận về những đường hướng hành động tới. Những bằng chứng hiện có cho thấy Hànội đang cân nhắc hai đường lối chính:

a. Áp đặt nỗ lực tối đa để khai thác các thành quả chiến thuật mới đây và các lợi điểm hiện tại tại chiến trường của Quân Đội Bắc Việt để phá đổ Chính Phủ Nam Việt Nam và loại khử Chính Phủ này trên địa hạt một thực thể điều hành chính trị.
b. Củng cố các thắng lợi mới và cố gắng tạo thêm một hay hai chiến thắng (chẳng hạn, đánh tan Sư Đoàn 25 QLVNCH và/hay đánh chiếm Tây Ninh)., rồi kêu gọi một thương thảo dẫn tới sự đầu hàng của Chính Phủ NVN, đặt kế hoạch để đi tới một chiến thắng quân sự vào cuối năm 1975 hay 1976 nếu không dùng biện pháp chính trị để ép buộc Chính Phủ NVN chịu chấp nhận một hình thức "chính phủ liên hiệp" khiến Cộng Sản thực sự kiểm soát được Nam Việt Nam trên bình diện chính trị.

Từ khi ký kết Hiệp Định Ba Lê năm 1973, Hànội liên tục cải tiến khả năng quân sự tại Nam Việt Nam bằng cách liên tục cải tiến các hạ tầng cơ sở tiếp vận (đường xá, đường mòn, kho chứa, vân vân, tại Lào và tại Nam Việt Nam) và liên tục chuyển quân, tiếp liệu và quân cụ--tất cả vi phạm trắng trợn điều khoản 7 của Hiệp Định 1973. Trào lưu này lúc trồi lúc sụt trong suốt 26 tháng qua, nhưng không khi nào đình trệ.

Trong mùa hè 1974, khi tình hình chung của vị thế Chính Phủ NVN còn sáng sủa, sự tăng vận này của Bắc Việt có phần suy giảm. Nó bắt đầu tái phát mạnh ngay sau các biến chuyển chính trị tại Hoa Kỳ mùa hè năm ngoái và sau khi Quốc Hội cắt giảm viện trợ cho Nam Việt Nam. Trào lưu tiếp vận nhân sự và quân cụ từ Bắc Việt đổ xuống--và, do đó, khả năng của Bắc Quân tại phần đất Nam Bộ--bắt đầu gia tăng vào cuối năm 1974. Nhịp độ gia tăng mạnh từ khởi đầu năm 1975 tiếp qua tháng 2 và tháng 3, và hiện thời thì đang ở mức độ tối đa.

Chắc chắn Hànội đã có kế hoạch hành động tấn công ở một mức độ cao vào mùa xuân này. Nhìn lại, "Giai Đoạn I" của chiến dịch tháng Giêng (lấn chiếm tỉnh Phước Long), trong số các yếu tố khác, hình như là để trắc nghiệm xem HK sẽ có phản ứng gì đối với hành động mà chính Hànội phải nhìn nhận là vi phạm trắng trợn Hiệp Định Ba Lê 1973. Xét theo hành vi tiếp sau của Cộng Sản--chẳng hạn, gia tăng quân số, du nhập các đơn vị trừ bị chiến lược Bắc Quân, tấn công Ban Mê Thuột với hai sư đoàn Bắc Quân (một sư đoàn thuộc đơn vị trừ bị chiến lược mới từ Hànội đưa xuống miền Nam) và hô hào lớn tiếng trong các nỗ lực tuyên truyền của Cộng Sản rêu rao HK "bất lực"--hình như Hànội đã quyết định là HK quá bận tâm với các vấn đề khác để mà phản ứng mạnh đáng kể trước bất cứ điều gì Bắc Việt có thể làm tại Việt Nam.

Các chỉ dụ của đảng và các chỉ thị của giới cao cấp tuyên bố trong tháng 1 và 2 và ngay qua tới tuần thứ ba của tháng 3 cho thấy ít ra mục tiêu khởi thủy của chiến dịch 1975 nhắm tới một thành quả không hẳn là toàn thắng--chẳng hạn, cải tiến vị trí lãnh thổ (có thể bao gồm chiếm đoạt thành phố Tây Ninh), đánh tỉa và đánh dằng dai các đơn vị QLVNCH, và gây áp lực toàn diện phủ đầu Chính Phủ NVN. Mục tiêu chính của chiến dịch này hình như là đặt để Cộng Sản vào một tư thế thượng phong khiến họ có thể đòi buộc một thương thảo đưa tới một chính phủ liên hiệp, và, nếu điều này không xảy ra, khiến họ có thể phát động một cuộc tấn công "dứt điểm" vào năm 1976.

Khó có thể lường được các mục tiêu của Hànội đã tăng vọt lên làm sao và tham vọng của họ đã gia tăng làm sao gây nên bởi các biến cố của mấy tháng qua tại Nam Việt Nam-và tại Hoa Kỳ, đặc biệt là chính Hànội cũng không có thì giờ để tiêu hóa những biến chuyển mới nhất đây. Tuy nhiên, mức độ đổ quân và tiếp liệu từ Bắc Việt xuống Nam Việt Nam cho thấy chắc chắn Hànội có ý định tiếp tục thúc đẩy lực lượng xâm lược viễn chinh tấn công.

II. Các Vấn Đề Chính

Chính Phủ NVN phải đương đầu với một đống bùi nhùi vấn đề trồi hiện lên nhanh chóng mà chúng ta có thể phân ra làm ba loại chính.

Trước hết, các vấn đề cụ thể và vật chất. Vấn đề quan trọng nhất là Bắc Quân--bao gồm số lượng, gia tăng lực lượng và các hoạt động xông xáo. Tiếp đến, là sử tổn thất đại qui mô của ba tuần lễ qua về nhân sự và quân cụ--ngoại trừ và đến khi được bổ sung--đặt một QLVNCH bị suy yếu vào một tình thế thảm khốc đối với mối đe dọa càng gia tăng của Bắc Việt. Trong lãnh vực dân sự, là một trào dâng làn sóng di cư, khiến hơn 10 phần trăm toàn dân bị mất gốcễ, cần thiết thực phẩm, quần áo, cư trú, thuốc men tạo nên một gánh nặng cho guồng máy chính phủ. Đáp ứng được những nhu cầu cấp bách này của đám người di cư là cả một vấn đề vĩ đại nhưng định cư và xáp nhập họ vào những vùng dưới quyền kiểm soát của chính phủ quả là một trách vụ tầy trời.

Còn có những vấn đề cụ thể khác không kém phần quan trọng (tỉ như, duy trì đường xá và đường giây thông tin thông suốt, vận chuyển thực phẩm, duy trì trật tự và luật lệ tối thiểu tại những vùng tràn ngập dân di cư, kiểm soát và ngăn ngừa các hoạt động phá rối của đặc công Việt Cộng tại những vùng chưa hẳn bị địch tấn công), nhưng những vấn đề này lu mờ trước ba vấn đề cụ thể kể trên.

Cộng thêm vào đó, phải kể tới một lô các vấn đề mới chớm nở mà ta có thể gọi là thuộc phạm vi "hành chánh". Trước hết là cần cung ứng lãnh đạo, và chỉ đạo cần thiết để đối phó với các vấn đề cụ thể nêu trên. Tiếp đến là cần lãnh đạo và quản trị, về mặt quân sự và mặt dân sự, cần thiết để lôi cuốn một quốc gia sau một loạt thất bại, chận đứng tinh thần chủ bại và thất vọng, phát huy một tinh thần hiệp nhất và một chí hướng chung cho toàn quốc, và thực thi một trận đánh sống còn. Trong bối cảnh Việt Nam, tình hình đòi hỏi một sự lãnh đạo và một hành chánh hữu hiệu kiểu như của Nội Các Chiến Tranh Anh do Thủ Tướng Churchill cầm đầu sau trận Dunkirk và sự tan vỡ của Pháp. Tới giờ phút này (như phác họa ở Phần III dưới đây) kiểu lãnh đạo và hành chánh này không có được--và tại Việt Nam, không có eo biển Anh để ngăn chận làn sóng thủy triều của cuộc xâm chiếm và cung ứng một giây phút nghỉ ngơi và tái tổ chức.

Trong Quân Đội, các vấn đề tâm lý càng tập trung và nặng nề hơn. Các đơn vị Quân Đội tại vùng ven biển Quân Đoàn 2 biết là họ sẽ bị tràn ngập nay mai. Mặc dù có được một vài thành công chiến thuật tại địa phương, các đơn vị thuộc Quân Đoàn 3 có thể lâm vào tâm trạng chủ bại và vô vọng. Tại Vùng Đồng Bằng, các chỉ huy trưởng QLVNCH khẳng định là tinh thần chiến binh họ còn tốt và khi vị tấn công họ sẽ chiến đấu, nhưng khi nói chuyện riêng với những người Mỹ mà họ quen biết, và tin tưởng kín miệng, chính những vị chỉ huy trưởng này cảnh giác là tinh thần chiến binh họ không đứng vững nếu như có tin thất bại lớn tại Quân Đoàn 3.

Một trong những vấn đề quan yếu về mặt tâm lý và thái độ tại mọi tầng lớp trong giới quân đội cũng như dân sự, là sự tin tưởng Nam Việt Nam đã bị bỏ rơi, và ngay cả bị phản bội, bởi Hoa Kỳ. Cộng Sản dùng mọi phương cách tuyên truyền và chiến tranh tâm lý để nung nấu quan điểm này. Càng tiến cao lên trong bực thang gia cấp và phẩm trật thì các cảm tưởng này càng rõ rệt. Cảm nghĩ này hầu hết đều bắt nguồn từ Hiệp Định Ba Lê và sự rút lui tiếp sau của Hoa Kỳ. Ai nấy đều tin tưởng Chính Phủ NVN bị ép buộc ký kết hiệp định này sau khi Hoa Kỳ và Bắc Việt ngầm thỏa thuận cho phép Hoa Kỳ triệt thoái quân đội và thu hồi các tù nhân đánh đổi lấy hành động bỏ rơi Nam Việt Nam. Cảm tưởng bỏ rơi này càng khắc sâu hơn nữa bởi cảm nghiệm thấy Hoa Kỳ không công khai nhìn nhận Nam Việt Nam đang trong tình trạng nguy ngập và không sẵn sàng cung ứng yểm trợ cần thiết.

Tất cả các vấn đề kể trên tác động lẫn nhau. Một trong những hậu quả của sự tương tác này là sự thiếu tin tưởng, càng ngày cang lan rộng, vào giới lãnh đạo chóp bu Chính Phủ NVN trong quần chúng có ý thức chính trị cao và trong giới quân đội. Tập đoàn cố vấn thân cận của Tổng Thống Thiệu không còn được ai nể trọng nữa. Sự bực tức này càng ngày càng chĩa vào cá nhân Tổng Thống Thiệu. Ý thức chung là nếu có bất cứ một cuộc đảo chánh nào xảy ra, dù có thành công đi nữa, cũng kéo theo thảm họa; nhưng ta có thể quyết đoán là nếu khủng hoảng tin tưởng này không được hóa giải, Tổng Thống Thiệu sẽ phải từ chức.

III. Các Ý Định và Kế Hoạch Hiện Tại của Chính Phủ NVN

Chính Phủ NVN có một "kế hoạch chiến lược" nhưng nó được duyệt xét lại hình như hằng ngày tùy theo các biến cố. Một tuần trước (25/3) kế hoạch này hình dung một địa bàn tại Đà Nẵng và một tuyến phòng thủ về phía nam đặt tại ven biển ở Bình Định hay, nếu thất bại, ngay phía dưới Tuy Hòa trong tỉnh Phú Yên. Tuyến phòng này băng qua các tỉnh Tuyên Đức và Lâm Đồng, rồi tới Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh và kéo qua Tây Ninh. Từ khi kế hoạch được thiết lập, Đà Nẵng đã mất, vị trí của Chính Phủ NVN tại vùng ven biển thuộc Quân Đoàn 2 đã tan rã phía bắc Cam Ranh.

Chính Phủ NVN có ý định tái tổ chức và tái võ trang các đơn vị QLVNCH và TQLC bị tan hàng trong các trận đánh tháng vừa qua càng nhanh chóng càng tốt. Họ cũng có ý định dùng các biện pháp khác để tăng cường lực lượng QLVNCH bằng tăng cấp các lực lượng địa phương quân và các liên đoàn Biệt Động Quân. Sự thành công trong nỗ lực này tùy thuộc vào khả năng Chính Phủ NVN có thể chỉnh đốn sự kém cỏi trầm trọng trong giới lãnh đạo và chỉ huy và trong khả năng của giới này trong việc biến cải kế hoạch này thành hành động có tổ chức. Tổng Thống Thiệu và Tướng Viên ý thức được điểm này và hứa sẽ hành động sửa sai.

Vấn đề di cư cũng có những khiếm khuyết về mặt điều nghiên và hành chánh. Mối quan tâm và ý chí muốn nâng đỡ có đấy và có thể lợi dụng tới cảm tình từ các nguồn mạch quốc tế muốn tiếp ứng ngân khoản, nhân sự y tế, tiếp liệu, vân vân... Bác Sĩ Đán--Phó Thủ Tướng đặc trách di cư--đang làm hết sức mình, nhưng hiện chưa có một guồng máy trong Chính Phủ NVN khả dĩ giải quyết các chi tiết phức tạp của một vấn đề thật là to tát khôn lường. Kết quả là gánh nặng được đặt lên vai một vài giới chức, kể cả tại cấp địa phương; một số giới chức này đã đương đầu trách vụ với nhiều sáng kiến để giải quyết những khủng hoảng cấp thời, nhưng những nỗ lực này mang tính cách cá nhân, lẻ tẻ và không nằm trong một hệ thống toàn diện.

Tuyên truyền và chiến tranh tâm lý và ngay cả sự đả thông tối thiểu với chính dân chúng cũng khiếm khuyết về mặt khái niệm và theo dõi hành động.

Nói tóm lại, Chính Phủ NVN có hy vọng và mong muốn đáp ứng, nhưng những ý định này ít được tập trung và tổ chức đúng mức. Chính phủ, đặc biệt là giới hành chánh, đang trong tâm trạng chấn động và bấn loạn, và giới chóp bu hình như không ý thức được hoàn toàn hay thấu hiếu mức độ to tát của tất cả các vấn đề này của Chính Phủ NVN.

IV. Viễn Tượng Hiện Tại

Những gì xảy ra tại Nam Việt Nam trong tháng tới hay sau đó, tùy thuộc rất nhiều vào những gì được thực hiện--hay không được thực hiện--bởi Bắc Việt, Chính Phủ NVN, và Hoa Kỳ trong hai tới ba tuần tới hay ngay cả trong những ngày tới.

Ngoại trừ Lực Lượng Bắc Quân bị chận đứng tại trận địa hay Hànội bị thuyết phục ngưng chiến qua ngã ngoại giao hay ngã nào khác, Bắc Việt sẽ đánh bại Chính Phủ NVN trên bình diện quân sự. Không có dấu chỉ cho thấy Bắc Việt đang gặp khó khăn tiếp vận hay bắt đầu thiếu hụt nguồn tiếp liệu. Sự nam tiến của chỉ một, nếu không nói là hai, trong số năm sư đoàn Bắc Quân hiện đang có mặt tại Vùng 2 CT sẽ đủ để thanh toán quân Chính Phủ NVN tại vùng ven biển thuộc Quân Đoàn 2. Nếu một trong số năm sư đoàn Bắc Quân hiện đã có mặt tại Vùng 2 CT được đưa xuống Vùng 3 CT, đặc biệt là nếu được tăng cường với pháo binh và chiến xa, cán cân lực lượng tương quan hiện tại Vùng 3 CT sẽ bị nghiêng ngửa. Các lực lượng Chính Phủ NVN tại vùng Đồng Bằng, đủ khả năng đương đầu với lực lượng Bắc Quân hiện đã có mặt trong Vùng 4 CT, và Vùng 4 CT sẽ không đứng vững nổi nếu Vùng 3 CT tan rã sau các cuộc thất bại tại Vùng 1 và 2 CT.

Hình ảnh phác họa trên may ra có thể biến cải đang khi Chính Phủ NVN điều quân tại Vùng 3 CT với các đơn vị sống sót từ Vùng 1 và 2. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi thời gian để tái tổ chức và tái trang bị. Ta có thể chẩn đoán là Bắc Việt có thể tiến quân và xung trận các sư đoàn hiện diện tại NVN nhanh hơn là Chính Phủ NVN có thể thiết lập các sư đoàn tân trang.

Còn phần Chính Phủ NVN, phải thực hiện những công tác thật sự hữu hiệu không những để ngăn ngừa sự suy thoái của vị trí quân sự tại Vùng 3 CT, nhưng cũng để--và có lẽ quan trọng hơn--hiến cho dân chúng và giới quân đội, một thôi thúc tâm lý tin tưởng vào tài lãnh đạo của giới chóp bu Chính Phủ NVN. Trong lãnh vực tinh thần, Nam Việt Nam--ít ra tại Vùng 3 CT, kể cả Sàigòn--rất gần kề miệng dốc đưa tới chủ bại và vô vọng của một sự đổ vỡ cơ cấu toàn diện.

V. Vai Trò và Các Lựa Chọn Hành Động của Hoa Kỳ

Điều gì Hoa Kỳ làm, hay không làm, trong những ngày tới có lẽ là yếu tố định đoạt cho những biến cố xảy ra trong mấy tuần tới; điều này cũng đúng đối với điều gì Sàigòn hay Hànội làm hay không làm. Một mình Hoa Kỳ không thể cứu vãn Nam Việt Nam, nhưng Hoa Kỳ có thể, cho dù có vô tình đi nữa, xô đẩy Nam Việt Nam xuống hố chôn.

Đề nghị cụ thể của tôi có thể được phân thành hai loại. Có những hành động ngắn hạn--một phần về mặt thể lý nhưng chính yếu về mặt tâm lý--cần để nâng tinh thần Nam Việt Nam và, nếu có thể, ép buộc đình trệ hành động. Điều này chỉ mua được thời giờ, nhưng trong tình thế hiện tại thời giờ là điều tối cần. Thứ đến, có những hành động dài hạn, tuy mang tính chất vật chất nhưng cũng có khía cạnh tâm lý mạnh mẽ, cần thiết nếu muốn Nam Việt Nam có tí hy vọng tồn tại trước sự tàn phá của Bắc Việt hay thương thảo một hiệp ước khác hơn là đầu hàng.

Điều kiện tiên quyết và cấp bách là Việt Nam cảm thấy Hoa Kỳ ủng hộ. Cảm quan này quan trọng về mọi mặt. Cảm quan Hoa Kỳ giảm thiểu ủng hộ Nam Việt Nam khuyến khích Bắc Việt tiếp tục tấn công. Chính cảm quan này đã khiến Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu triệt thoái khỏi các vị trí lẻ tẻ và lộ liễu tại các tỉnh phía bắc. Cảm quan này được cấu tạo bởi các hành động sau đây: Ngay sau khi ký kết Hiệp Định Ba Lê, 1.6 tỷ mỹ kim được đệ trình để cung ứng cho nhu cầu của Nam Việt Nam cho tài khóa 1974; 1.126 tỷ mỹ kim được xuất ra--thanh thỏa 70% nhu cầu. Tiếp sau đó 500 triệu mỹ kim còn lại bị từ khước không được tháo khoán. Đối với tài khóa năm nay, 1.6 tỷ được đệ trình để duy trì khả năng tự vệ của Nam Việt Nam; 700 triệu được chấp thuận--thanh thỏa 44 nhu cầu. Những hành động này đã giúp khai sinh khủng hoảng tin tưởng khiến Chính Phủ NVN dùng tới biện pháp triệt thoái chiến lược.

Điều then chốt cho sự tồn tại sống còn của quốc gia Việt Nam nằm trong khả năng của Chính Phủ NVN ổn định tình thế, và đem các nguồn lực quân sự chống đối lại sức tấn công của Bắc Việt. Khả năng ổn định tình thế này tùy thuộc, một phần lớn, vào khả năng thuyết phục hạ tầng giới quân nhân và dân sự là chưa đến nỗi mất tất cả, và còn có thể chận đứng Bắc Việt. Tuy đó là trách vụ chính của Chính Phủ Việt Nam, các hành động về phía Hoa Kỳ mang tính chất quyết liệt trong việc tái tạo niềm tin.

Hành động mà Hoa Kỳ có thể làm để gây nên ấn tượng tức khắc cho Việt Nam--Bắc lẫn Nam--là dùng không lực Hoa Kỳ để chận đứng thế tấn công hiện tại của Băc Quân. Cho dù chỉ giới hạn trên phần đất Nam Việt Nam và chỉ thực hiện trong một thời gian giới hạn, những tấn công này sẽ gây tổn thất lớn lao cho lực lượng viễn chinh Bắc Việt về mặt nhân sự và quân cụ, và sẽ tạo một chấn động về mặt tâm lý đối với các chiến binh xâm lăng. Những tấn công không tập này cũng sẽ khiến giới lãnh đạo Hànội phải đắn đo suy nghĩ, thái độ mà hiện giờ họ không có, đến hậu quả tai hại có thể xảy đến nếu họ làm ngơ lời cam kết chính thức họ đã hứa với Hoa Kỳ.

Giới lãnh đạo quân sự Nam Việt Nam thuộc mọi cấp bậc đều luôn lập đi lập lại tầm mức quan trọng của sử dụng B-52 phản công chống lại một lực lượng địch to lớn hơn và quan điểm này hợp lý về mặt quân sự.

Tôi ý thức đến các khó khăn về mặt pháp lý và chính trị gây nên bởi việc thi hành biện pháp không tập này.

Một việc quan trọng mà Hoa Kỳ cần phải làm là xác định cách rõ ràng Hoa Ky quyết tâm ủng hộ Nam Việt Nam. Việc này phải bao gồm lời minh định tích cực của Tổng Thống và các giới chức cao cấp Mỹ. Tinh thần suy sụp của dân chúng Việt Nam đã hứng khởi lên rõ rệt khi phái đoàn Hoa Kỳ do Tổng Thống phái đi với nhiệm vụ điều tra tình hình đặt chân tới Sàigòn. Có thêm những hành động tương tợ như vậy sẽ minh chứng mối quan tâm của Hoa Kỳ. Cộng thêm vào các lời xác định của Ngành Hành Pháp, cần thêm nỗ lực tạo một mối quan tâm chung tại mọi lãnh vực trên đất Hoa Kỳ. œng hộ từ các thành viên của Quốc Hội; xác định lập trường ủng hộ từ các nhân vật có trọng trách trong và ngoài chính phủ; và sự thông cảm trong giới báo chí Hoa Kỳ sẽ cải biến cảm quan về phía Hoa Kỳ liên quan đến tình hình tại Việt Nam.

Nỗ lực này cần nhấn mạnh vào ba điểm chính sau đây:

--Dân chúng Việt Nam, với kinh nghiệm trực tiếp sống dưới Chính Phủ Thiệu và Cộng Sản, đã cho thấy rõ họ đã lựa chọn bằng cách "đầu phiếu bằng chân cẳng," giống như các dân Đông Đức đã làm trước khi thiết lập Bức Tường Bá Linh. Làn sóng di cư từ các tỉnh phía bắc, trước các khổ cực, nguy hiểm và thống khổ, là một dấu chỉ đích thực của cảm nghĩ họ. Trong lựa chọn này, không một ai chạy trốn về hướng bắc tìm tới Hànội hay Bắc Việt--nơi không có giặc dã, nơi không có các đám đông di cư, và nơi không có chiến tranh từ khi Hiệp Định Ba Lê được ký kết. Vấn đề đặt ở đây không phải là một bài toán lý thuyết đối với người dân Việt Nam, mà là một vấn đề sống hay chết. Qua hành động của họ, họ đã lựa chọn tự do và nguy hiểm đến tính mạng.
--Nam Việt Nam đã chiến đấu để tự vệ bản thân. Chiến cụ Hoa Kỳ cung cấp là để bảo vệ Nam Việt Nam, trong khi chiến xa và quân cụ Nga Sô và Trung Cộng cung cấp được Bắc Việt xử dụng để gây hấn trắng trợn và miệt thị công khai. Chính là hành động xâm lăng này của Bắc Việt, chứ không phải hành động của Nam Việt Nam, đã khiến Hành Pháp xin Quốc Hội cho thêm viện trợ.
--Chúng ta cần tiếp tục nhấn mạnh tác động của Việt Nam đối với niềm tin đặt để vào sự can dự của Hoa Kỳ. Thế giới rõ ràng thông cảm các cam kết của Hoa Kỳ đối với Việt Nam trong quá khứ. Ai nấy đều ý thức sự mất mát về nhân lực và tài lực trong việc đeo đuổi sự cam kết này. Các chính phủ trên thế giới đều biết quá khứ, nhưng sẽ coi sự bất lực ủng hộ Nam Việt Nam hiện tại đang trong cơn khủng hoảng sống chết như là một thất bại trong quyết tâm về phía Hoa Kỳ. Nếu chúng ta không cố gắng, trong tương lai, bạn cũng như thù sẽ coi như chúng ta không còn biết đến chữ tín là gì nữa.

Các lời xác định ủng hộ của Hoa Kỳ là quan trọng, nhưng chúng phải được hỗ trợ bởi những hành động cụ thể chứng tỏ quyết tâm của Hoa Kỳ đứng sau lưng đồng minh của mình. Tuy các tài nguyên quân sự tùy thuộc tối hậu vào ngân khoản bổ túc Quốc Hội chấp thuận cho tài khóa này, nhưng hiện giờ còn dư hơn 150 triệu mỹ kim từ 700 triệu mỹ kim Quốc Hội đã chuẩn chi với Đạo Luật Chuẩn Chi Quốc Phòng. Số tiền này có thể được dùng để đáp ứng nhu cầu cấp bách ngay bây giờ và cho một vài tuần tới. Tuy nhiên, sự tiêu xài của ngân khoản thặng dư này sẽ làm hao mòn nhanh chóng khả năng hỗ trợ của Hoa Kỳ. Một ngân khoản chuẩn chi, có lẽ khoảng 722 triệu, cần thiết cấp bách để đáp ứng những nhu cầu quân sự căn bản để tạo nên cơ may sống còn cho Việt Nam Cộng Hòa. Sau đây là các chi tiết của ngân khoản này:

Chiến dịch tấn công hiện tại của Bắc Quân khiến mất mát quân cụ trầm trọng cần được thay thế ngay bây giờ:

--Năm Sư Đoàn QLVNCH đã bị phá hủy hay bất khả dụng và một sư đoàn khác chỉ được cứu vãn một phần. Tuy không thể xác định con số chính xác về sự mất mát nhân sự và quân cụ giờ phút soạn thảo bản thẩm định này, sau đây là những mất mát chiến cụ biết được :

Đạn dược (dự trữ tồn kho mà thôi) $129.0 triệu
Súng ống cá nhân và đội toán $24.6 triệu
Pháo binh $16.0 triệu
Thiết vận xa $85.0 triệu
Quân xa thiết bị bánh cao su $77.0 triệu
Dụng cụ truyền tin $15.6 triệu
Tiếp liệu $6.3 triệu
Y tế $7.9 triệu
Công binh $1.8 triệu
Tồn kho tổng quát $110.5 triệu
Tổng cộng $473.7 triệu

--Thêm vào đó Không Quân Việt Nam mất 393 máy bay trị giá 176.3 triệu mỹ kim, 52.8 triệu mỹ kim đạn dược, và 68.6 triệu mỹ kim bộ phận và khí cụ yểm trợ.
--Trong cuộc tấn công hiện tại Hải Quân Việt Nam mất ba chiến hạm trị giá 2.4 triệu mỹ kim và 5.4 triệu mỹ kim tiếp liệu và khí cụ yểm trợ.

Tổng cộng, sự mất mát của QLVNCH trong cuộc tấn công hiện tại về tiếp liệu và quân cụ được ước tính vào khoảng 779.2 triệu mỹ kim. Những mất mát này không bao gồm đạn dược gài nòng căn bản, các đơn vị yểm trợ không thuộc về sư đoàn và các công trình xây cất tỉ như phi đạo, hải cảng và các cơ sở quân sự.

Chính Phủ NVN tin rằng có thể chận đứng được cuộc tấn công hiện tại với các lực lượng hiện có và tái thiết bị. Họ dự tính giữ lại một Việt Nam Cộng Hòa thu hẹp bao gồm một phần lãnh thổ phía đông nam của Vùng 2 CT, hai phần ba lãnh thổ phía nam của Vùng 3 CT và tất cả Vùng 4 CT. Phần đất phải giữ chứa đựng hầu hết dân số và có đủ điều kiện cho một thể chế chính trị và kinh tế tồn tại được. Họ đang thực hiện một kế hoạch tái tổ chức, nếu thi hành thành công, thì có thể bảo vệ về mặt quân sự cho một Việt Nam Cộng Hòa thu gọn.

Trong giờ phút soạn thảo bài này, kế họach tái tổ chức của Chính Phủ NVN có ý định tái thiết bị bốn sư đoàn bộ binh, cải biến 12 liên đoàn biệt động quân thành bốn sư đoàn biệt động quân và tăng cấp 27 liên đoàn lực lượng địa phương quân thành 27 trung đoàn bộ binh. Để có thể hữu hiệu, việc thi hành phải được thực hiện tức khắc. Trong giả thuyết Chính Phủ NVN có thể ổn định tình thế quân sự hiện tại, với các chiến cụ và tài nguyên nhân lực hiện tại nắm trong tay và trong sự giới hạn của ngân khoản chuẩn chi cho tài khóa 1975, họ cần có được ngay một số chiến cụ đòi hỏi một chuẩn chi mới. Theo ước tính của chúng tôi, điều kiện cấp thời như sau:

--Trang bị cho bốn sư đoàn:
$138.6 triệu

--Biến cải 12 liên đoàn BĐQ thành bốn sư đoàn:
$118.0 triệu

--Biến cải 27 liên đoàn ĐPQ thành 27 trung đoàn BB:
$69.6 triệu

--Đạn dược bộ binh cho hành quân tác chiến và tái thiết mức độ tồn kho:
$198.0 triệu

--Đạn cho không quân hành quân tác chiến và tái thiết tồn kho:
$21.0 triệu

--Nhiên liệu hành quân tác chiến và tái thiết mức độ tồn kho:
$10.4 triệu

--Tiếp liệu và bộ phận sửa chữa chung:
$21.0 triệu

--Yểm trợ y tế (bệnh xá và trang bị)
$7.0 triệu

--Máy bay (hai C-130), bộ phần rời, khí cụ yểm trợ, sửa chữa phi đạo:
$44.9 triệu

--Phí tổn vận chuyển tiếp liệu và khí cụ:
$93.7 triệu

Tổng cộng
$722.2 triệu

Chúng tôi ước tính các vật liệu trên có thể được giao vào tay Việt Nam Cộng Hòa nội trong 45 ngày kể từ khi có ngân khoản. Phải hiểu là nếu không có các vật liệu bổ sung này, QLVNCH sẽ tiêu hao hết đạn dược hiện có trong kho trước khi tài khóa năm nay chấm dứt với mức độ giao tranh hiện tại. Không thể tái tạo các đơn vị bất khả dụng nếu không có các vật liệu bổ sung này.

Ngoài đáp ứng nhu cầu quân sự chúng ta còn phải xin thêm ngân khoản biệt lập cho công cuộc cứu trợ di cư. Không nên buộc Chính Phủ NVN phải cáng đáng thêm gánh nặng tái định cư cho hơn một triệu dân di cư trong khi tài nguyên hiện có phải cung ưng vào cuộc chiến sống còn này của họ.

Không có và cũng không thể có được một bảo đảm những biện pháp tôi đề nghị sẽ đủ để ngăn chận chiến thắng hoàn toàn của Bắc Việt. Tuy nhiên nỗ lực này cần phải được thực thi. Ván bài tại Việt Nam hiện giờ là chữ tín của Hoa Kỳ trên phương diện đồng minh. Chúng ta không được phép bỏ rơi mục tiêu của chúng ta cho một Nam Việt Nam tự do và độc lập.

(Bản chính của phúc trình này đưọc tồn trữ tại Gerald R. Ford Library)

generalhieu.com
 

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)