Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai

Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa - Quân sử sư đoàn 7 bộ binh

vietnam, việt nam, cờ việt nam

quân sự quân đoàn 4 quân khu 4 việt nam cộng hòasư đoàn 7 bộ binh

Là Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa,

Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

Điều 5: Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

Điều 6: Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

***

Sư-đoàn 7 bộ-binh Việt-Nam Cộng-Hòa - Trận Ấp Bắc

1/1963 - Ngày 2 tháng 1/1963, các đơn vị thuộc Sư đoàn 7 BB tham dự cuộc hành quân Đức Thắng 1 nhằm tảo thanh Cộng quân tại Ấp Bắc và tiêu hủy đài phát thanh của chúng ở ấp Tân Thới thuộc xã Tân Phú, quận Cai Lậy, tỉnh Định Tường.

Là một cái làng bỏ trống tại mật khu Đồng Tháp Mười, nằm giữa khu đồng ruộng ngập nước quanh năm, chằng chịt kinh rạch, Ấp Bắc là nơi thuộc vùng kiểm soát của Cộng quân. Không giống như những lần đụng độ trước cấp trung đội hay đại đội, lần này Bộ Tư lệnh SD 7 BB đã mở cuộc hành quân trực thăng vận cấp trung đoàn có thiết vận xa M-113 yểm trợ (Đại đội 7 Cơ giới). Và đây cũng là lần đầu tiên, Cộng quân đã tung vào chiến trường một lực lượng đáng kể gồm Tiểu đoàn 514 Chủ lực Mỹ Tho, Tiểu đoàn Chủ lực Miền 263, chưa kể những thành phần dân quân du kích khác.

Lực lượng Sư đoàn 7 BB tham dự hành quân đã bị địch quân phục kích và gây thiệt hại nặng nề. Quân đến tăng viện cũng bị hỏa lực địch quân chận đứng. Sáng hôm sau, quân TD 8 ND mới tiến vào được Ấp Bắc, giải quyết chiến trường. Tổng kết trận đánh, QLVNCH bị thiệt hại nặng về nhân mạng cũng như vũ khí. Lần đầu tiên có 5 trực thăng bị bắn rơi và 3 thiết vận xa M-113 bị bắn cháy.

Trận đánh này đã được bộ máy tuyên truyền của Cộng quân tận tình khai thác. Báo chí thiên tả Tây phương thì khai thác những nhược điểm của các đơn vị tham dự trận đánh để cho rằng đây là “điển hình cho sự yếu kém” của QLVNCH. Riêng đối với Trung tá John Paul Vann, Cố vấn SĐ 7 BB, thì cho rằng chính sách tiến hành chiến tranh quy ước của Hoa Kỳ ở Việt Nam vào thời điểm đó, dùng đại đơn vị để chống du kích, là sai lầm.

http://www.mekongrepublic.com/vietnam/vn_infoloc.a...#show_mor

***

Trận Ấp Bắc (2 tháng 1, 1963)  Ký ức của một  quân y sĩ.

quan su viet nam, thiết giáp kỵ binh việt nam, thiết vận xa m113

Lời nói đầu:  Trận Ấp Bắc xẩy ra cách đây 40 năm, là một bại trận của Quân đội Quốc Gia. Vâng, một bại trận, vì không có một danh từ nào khác để đánh giá trận này. Quân Cộng sản do Hanoi điều khiển, xưa nay vẫn chỉ quen du kích chiến, đã giám đương đầu trong suốt một ngày với Quân đội Quốc Gia đông người và nhiều phương tiện hơn, đã thắng trận này và đã bảo toàn được lực lượng khi rút lui. Thất bại này của phe ta, hoàn toàn do sự bất tài bất lực của cấp chỉ huy. Lý do chính là việc dùng người của Tổng thống Ngô đình Diệm, không tin những ai  thật sự yêu Nước và có khả năng, mà chỉ vì ưa nịnh và sợ đảo chính, đã cho giai cấp gia nô khiếp nhược nắm hầu hết chức vụ then chốt trong Quân đội. Trường hợp điển hình là việc điều quân một cách bết bát ngoài sức tưởng tượng trong trận Ấp Bắc, khiến chúng ta đáng lẽ thắng lớn, mà đành phải chịu thua một địch quân yếu hơn chúng ta nhiều. Trận Ấp Bắc còn có một ảnh hưởng chiến lược lớn lao: trước hết Ðồng minh Hoa Kỳ đánh giá lại khả năng của Quân đội Quốc Gia và mượn cớ này để sửa soạn đổ quân ào ạt vào miền Nam, điều mà chính Tổng thống Ngô đình Diệm không muốn chút nào! Thứ hai là bộ máy tuyên truyền của Hanoi  mở hết tốc lực thổi phồng chiến thắng Ấp Bắc lên như một Stalingrad của phe Cộng sản,  vận động tinh thần quân cán và gửi thêm nhiều người và khí cụ vào miền Nam từ sau trận này. Tôi viết bài này để tưởng nhớ đến những quân nhân của Quân đội ta đã hy sinh trong ngày 2 tháng 1 năm 1963 tại Tân Thới - Ấp Bắc vì họ đã không được chỉ huy, và đặc biệt 18 chiến binh của TÐ8ND đã cùng chúng tôi nhẩy xuống vùng đồng lầy nước đọng này chiều tối hôm đó, và đã bỏ mình một cách oan uổng vì sự  kém cỏi cũng như tính toán ngu xuẩn của những người chỉ huy đương thời.

Trong bài này, đôi khi tôi ôn lại những kỷ niệm cũ không liên quan gì với đề tài chính, mong những mẩu chuyện ngoài đề đó giúp các chiến hữu đọc giả nhớ lại quãng đời  chúng ta đội mũ đỏ phục vụ Quê Hương.

Thật tình cờ mà tôi lại dự trận Ấp Bắc chiều ngày mồng 2 tháng 1 năm 1963. Binh chủng Nhẩy dù hồi đó là lực lượng tổng trừ bị duy nhất của quân đội,  chiến trận chưa đến nỗi sôi bỏng như các năm về sau, hoạt động địch quân hầu hết là du kích chiến hơn là trận điạ chiến. Lữ đoàn nhẩy dù năm 1963 gồm 5 Tiểu đoàn tác chiến cùng các đơn vị tiếp vận, đảm trách  nhiệm vụ ‘lính cứu hỏa ‘ cho toàn quốc, chỗ nào có chuyện gây cấn là được Tổng Tham Mưu gọi đi chữa cháy.

Ngoài những đơn vị đi hành quân xa, tại Saigon ngày nào cũng có 2 tiểu đoàn ứng trực: một tiểu đoàn trực hành quân bộ (ground alert), với một đoàn xe GMC đậu sẵn trong doanh trại, có lệnh là lên xe đi. Một tiểu đoàn trực hành quân không vận, được gọi là air alert : đơn vị ra nằm sẵn tại phi trường Tân sơn Nhất, khi hữu sự thì lên máy bay đi can thiệp những nơi dầu sôi lửa bỏng. Nếu từ sáng đến chiều không có chuyện gì xẩy ra, thì chúng tôi chỉ nằm dài bên cạnh những bộ dù được xếp ngay ngắn ngay tại sân bay,  chúng tôi tán gẫu để giết thời giờ, đọc sách báo hay đôi khi đánh boule cũng gọi là pétanque (một trò chơi của quân đội Viễn chinh Pháp để lại)  Binh sĩ  TÐ1ND mà tôi làm y sĩ trưởng trong suốt 4 năm trời, rất chuộng trò chơi này. Họ còn đánh ăn tiền hay nhậu la ve hết giờ nọ qua giờ kia và những tay ‘thiện xạ’ ném boule là nhũng chuyên viên uống bia Larue miễn phí. Hồi tôi mới về Dù, khu Chí hoà là nơi đóng quân của 3 đơn vị: cácTiểu đoàn 1, 3 và 6ND. Mỗi Tiểu đoàn có một sắc thái riêng biệt. TD1ND đa số là người gốc Miên, lính rất chì, rất trung thành, da sạm đen, huy chương và thâm niên công vụ đầy người. Hồi đầu tôi có cảm tưởng họ toàn anh em với nhau vì tên họ đều là Thạch, Sơn hay Lý . TÐ3ND đóng ngay ngã tư Bảy Hiền là giang sơn của người Nùng. Lính cũng rất chì, có lối ăn nói đặc biệt và khi đụng trận súng  mới nổ, đã thấy mấy que hương khói nghi ngút buộc ở đầu súng, không hiểu được đốt lên từ lúc nào? Trước mặtTÐ3 là doanh trại TÐ6ND, đơn vị nhẩy dù cuối cùng được thành lập trước khi ký kết hiệp định Genève. Tiểu đoàn này đa số là dân Việt chính cống, ông Tiểu đoàn trưởng là đại úy Ðỗ kế Giai, người điềm đạm, chậm rãi ít nói ít cười, được anh em tặng cho cái biệt danh là Hoàng Tử, sau này là Thiếu tướng chỉ huy binh chủng Biệt Ðộng Quân. Ông Tiểu đoàn phó, giáng dấp thư sinh, là đại úy Lê nguyên Vỹ, đã tuẫn tiết ngày 30/4/75 trong khi giữ chức vụ Tư lệnh SÐ5BB. Với số quân nhân đông đảo như vậy, các quán cà phê ăn uống xung quanh rất sầm uất. Có một quán mà bà chủ, (tôi nghi đã có một dĩ vãng me tây hoặc chị em ta, trừ khi là cả hai!..) rất am hiểu tâm lý và sinh lý mấy anh đực rựa sung sức này. Bà ta thách đố anh nào có đủ tửu lượng uống hết 4 chai Larue cổ cao trong hai tiếng đồng hồ, mà phải ngồi ở bàn không được đứng dậy. Nếu cầm cự được mà không đứng dậy đi tiểu, thì bà ấy sẽ đãi tất cả miễn phí, kể cả đồ nhắm (tôm khô, củ kiệu, thịt bò khô)! Theo các ‘ nạn nhân ‘ kể lại, không anh nào cầm cự nổi hai tiếng mà không phải đứng dậy trước, và trong trường hợp này lẽ dĩ nhiên là phải trả tiền tất cả những gì mình đã dùng. Kết quả là rất nhiều binh lính mũ đỏ đã mất tiền cho bà này. Ði qua ngã tư Bảy Hiền là đến trại Hoàng Hoa Thám, nơi bộ Tư lệnh của Binh chủng và các đơn vị trợ chiến.

Kiểm điểm các đơn vị ND hồi đó mà không nói đến TÐ5ND đóng tại Thủ Ðức, là một  thiếu sót. Tiểu đoàn này đã dự trận Ðiện biên Phủ và đã chiến đãu tới phút chót cùng 5 Tiểu đoàn ND khác của Quân đội Viễn Chinh Pháp; đơn vị đã được bổ xung lại sau hiệp định Genève.Người Tiểu đoàn trưởng khét tiếng cua TD5ND là đại úy Ngô xuân Soạn, một con người sống cho chiến tranh và vì chiến tranh. Thành tích chiến trận của ông, từ ngoài Bắc vào đến trong Nam lừng danh trong hàng ngũ chúng tôi. Tiếc thay ông bị sát hại khi đảo chính 11-11-60 bất thành. Tiểu đoàn chót là TD8ND, tham dự trận Ấp Bắc mà tôi sắp kể, doanh trai đặt ngay trong can cứ Hoàng hoa Thám/ TSN . Chính tôi cũng đã có công trong việc thành lập Tiểu đoàn này. Ðầu năm 1960, bác sĩ Của, xếp của tôi, chỉ thị cho tôi mang một toán y tá ra Huế để tuyển mộ binh sĩ  thành lập thêm một TÐND. Nghĩ phảỉ ra nằm ụ nơi đất Kinh mấy tuần lễ, mặc dầu nhiều thi vị xong xa gia đình và Sài thành hoa lệ, tôi đã nói ngay với anh Của: tại sao phải ra tận Huế mới kiếm được lính nhẩy dù? Anh cho tôi mang loa ra quảng cáo ngay ngã tư Bảy Hiền và ngã ba Ông Tạ, chỉ trong không đầy một tháng tôi sẽ kiếm đủ quân để thành lập hai ba tiểu đoàn chứ một tiểu đoàn thì thấm gì! BS Của lắc đàu, nhăn đôi lông mày nói lại với tôi: toa chả hiểu gì cả, đây là lệnh trên! Cụ , ám chỉ Tổng thống Ngô đình Diệm, chỉ tin người Trung và muốn có một TÐND toàn lính Trung! Tôi đành lắc đầu ra Huế mộ đủ binh sĩ để về thành lập thêm TÐ8ND. Hồi xẩy ra cuộc đảo chính 11-11-60, một số lính Trung do tôi tuyển mộ, trên nguyên tác phải trung thành với Cụ, đã không ngần ngại tuân lệnh cấp chỉ huy bắn vào dinh ÐộcLập ! Sau đây tôi xin quay lại trận Ấp Bắc.

Ngày 2 tháng 1 năm 1963, TÐ8ND có nhiệm vụ ứng trực không vận ở phi trường Tân sơn Nhất, một ngày trực có vẻ êm ả vì lúc đó đã đến gần 5 giờ chiều; chỉ độ hơn một tiếng nữa là mọi người có quyền roméo (tục ngữ nhà binh có nghiã là rút lui, đi về) về hậu cứ. Thì đùng một cái, có lệnh nhẩy hành quân. Trong những năm đó, bác sĩ có bằng dù chỉ đếm trên đầu ngón tay; vì nhu cầu quân vụ, vài bác sĩ  không tình nguyện nhẩy cũng bị chỉ định về Quân Y  nhẩy dù. Mấy đồng nghiệp đó chỉ chân trước chân sau, hễ có người thay thế là ‘dọt ‘ Ðó là trường hợp TÐ8ND chỉ có một bác sĩ đi bộ mà thôi. Tại Bộ Tư lệnh, lúc đó có mình tôi. Bác sĩ Văn văn Của, Y sĩ trưởng Lữ đoàn, đang hành quân vùng Tây Ninh trong một chiến dịch khác. Vì tình thế cấp bách,  tôi phải chạy vội sang phi trường TSN để đi cùng TÐ8. Lúc đó gần 6 giờ chiều và một quang cảnh thật là hấp tấp diễn ra trước mặt tôi, các sĩ quan thì vừa nhận được lệnh hành quân và bản đồ đang quay đầu bàn bạc với nhau, binh sĩ thì mạnh ai nấy mang dù chứ ít được huấn luyện viên kiểm soát như trong những lần nhẩy bồi dưỡng hay nhẩy trận mà tôi đã từng tham dự. Tôi nhớ chỉ đủ thời giờ nói vài câu với ông bác sĩ của TÐ và chỉ kịp gặp anh y tá trưởng, tôi  không  tiếp xúc được với tất cả các y tá khác để biết phương tiện cấp cứu ra sao ( thời đó yểm trợ của Hoa Kỳ chưa được dồi dào nên vật liệu y tế còn thô sơ hơn là sau 1965). Chính thân tôi lúc lên máy bay mà dù bụng còn cầm trong tay! Thêm vào đó, ông cố vấn trưởng Lữ đoàn là đại tá Triplett đứng nhìn chúng tôi leo lên phi cơ mà cứ lắc đầu: too late! too late! Trễ quá, trễ quá...

Phi cơ thả chúng tôi là 7 chiếc C123 Fairchild với phi hành đoàn Hoa Kỳ, thả dù bằng hai cửa, khác với C47 Dakota chỉ  có một cửa. Mỗi chiếc C123 thả được 40-45 quân nhân  trong khi C47 chỉ chở được 25 người tối đa. Sau khi cất cánh, một sĩ quan cho tôi biết là sẽ nhẩy xuống ruộng và tôi nhớ là trong suốt chuyến bay tôi cứ vo viên một miếng giấy nhét vào họng khẩu súng carbine báng gấp, vì chỉ sợ nước hay bùn chui vào nòng súng..!           

Rồi đến lúc nhẩy. Dù vừa bọc thì tôi nghe như có mưa rào lên nón sắt, tôi ngửa mặt lên  thì thấy cánh dù mở to như thường lệ và tôi thầm nghĩ là nếu có mưa đi nữa thì làm sao  hạt nước mưa có thể rơi vào nón sắt tôi được. Liền sau đó tôi nhìn xuống đất thì mới thấy cảnh hãi hùng: đạn lửa chằng chịt như một mạng nhện, bắn tứ phiá và bắn lên chúng tôi! Hoá ra những tiếng mưa trên nón sắt chỉ là tiếng súng dưới đất vang lên và bị lá dù cho dội lại mà thôi. Bình thường khi nhẩy dù bồi dưỡng, ai cũng muốn rớt thật chậm để hưởng những giây phút thú vị lơ lửng trên không, lần này sao mà tôi thấy mãi không xuống tới đất! Mà càng xuống gần đất, tiếng súng nổ càng chát chúa, đến khi đáp xuống bùn ruộng thì đạn bay vèo vèo, chỉ còn một nước là nằm úp mặt xuống đất, hay núp sau các bờ ruộng để khỏi bể sọ. Lúc đó khoảng 18giờ30, trời bắt đầu tối, tầm nhìn xa bắt đầu giới hạn. Một trực thăng ‘trái chuối’ H21 vừa đáp sau lưng chúng tôi độ 300 thước bị một tia đạn lửa từ trong làng bắn ra và kịp thời bay đi. Ðã thử lửa đôi lần khi hành quân, nghe đạn bay là thường, song khi quá nhiều đạn bay như kỳ này, tôi có cảm tưởng là cả một bầu không khí rung chuyển xung quanh. Lần đầu tiên tôi chứng kiến một người bị trúng đạn cách tôi có 5 thước, tôi nghe rõ thấy như một quả đấm vào người  lính đó trước khi anh ta lăn quay ra. Trong khoảnh khắc sau khi đáp xuống ruộng trước xã Ấp Bắc, đã có 3 binh sĩ bi thuong chung quanh tôi, tôi đã lấy 3 băng cá nhân tôi có trên người, một trên mũ sắt, hai trong túi áo saut  lấy vội ở hậu cứ trước khi đi, để mà băng cho họ, may mà 3 thương binh này không bị nặng lắm. Một anh còn nói chuyện với tôi suốt đêm, hai ngưoi núp sau một cái mả. Có một lúc anh ấy hỏi tôi có thuốc chích cho anh ấy bớt đau không, tôi rất buồn phải trả lời là trong tay tôi không có một thứ thuốc nào để có thể làm cho anh ấy bớt đau hết. Vừa trả lời nguời thương binh vừa lo cho số phận mình, chẳng may bị thương thì ai săn sóc mình đây, trong tay không còn đến một cuộn băng. Y tá của tôi thì giờ này ở đâu? Cứ tính với đà nhẩy trung bình, thì khi xuống đất mỗi người phải cách nhau ít nhất 50 thước; vậy toán y tá khoảng 20 người đi theo bác sĩ ở Ðại đội Chỉ huy phải rải rác trên dưới một cây số, cần ít nhất 30 phút để tập họp trong điều kiện bình thường. Nay trời đã tối, địch trong các điạ điểm làm sẵn trong xã Ấp Bắc, nhìn thấy chúng tôi rất rõ và không cho phép chúng tôi tập họp để lấy đội hình tấn công, ai nấy nằm bẹp tại chỗ. Báo hại thỉnh thoảng lại có một quả hỏa tiêu chiếu sáng từ đâu bắn tới, làm tất cả bãi ruộng sáng như ban ngày, và địch thừa thế từ trong làng cứ bắn sẻ hoặc bắn ra như mưa. Dần dần, tôi thấy chừng ba bốn sĩ quan trong đó có đại úy Tiểu đoàn phó, đứng cách chỗ tôi độ vài chục thước, bàn tính cách đối phó trong tình cảnh nguy hiểm này.Trời đã tối hẳn, chạy từ thương binh này sang thương binh kia, tôi cũng được các vị này cho biết là  chỉ có nửa tiểu đoàn nhẩy mà thôi, phần còn lại cùng ông Tiểu đoàn trưởng kẹt lại phi trường TSN vì trời tối máy bay không thả được nữa. Tình thế lúc đó thật là éo le: một nửa TÐ8ND nằm dài trên một cây số ngoài đồng ruộng, tập hợp rất khó khăn, không có yểm trợ phi pháo, hoả lực cơ hữu ngoài vũ khí cá nhân chỉ có mấy khẩu đại liên 30, súng cối của đơn vị (60 hay 81 ly) một mặt tản mát, một mặt ruộng xình lầy không đặt bàn tiếp hậu được. Tôi hiểu qua các đàm thoại của mấy ông Ðại đội trưởng, là với quân số tập trung lại được, hai ba cuộc tấn công lẻ tẻ của ta vào làng đều bị đẩy lui. Trong tình thế rối beng đó, một vị đại đội trưởng, đại úy Phạm huy Sảnh thì phải, gặp tôi và nói:’ bác sĩ ơi, ở bià làng bị thương nhiều lắm, bác sĩ lên đó coi xem sao’ Tôi nhớ có trả lời đại úy Sảnh: đại úy muốn tôi lên thì tôi lên ,song trong tay tôi không còn một thứ gì để săn sóc thương binh cả, y tá của tôi không có lấy một người, tôi làm gì được bây giờ?...’ Phân vân  không biết xử trí ra sao, rồi nghĩ biết đâu với hai bàn tay trắng, may ra tôi có thể làm được một cái gì chăng?..Lúc đó một anh lính ngơ ngác đi qua, tôi vội chộp lấy anh ấy: ‘nếu cậu không biết đi đâu thì cậu đi với tôi đến gần làng xem có ai bị thương, mình có thể di tản về khu tương đối an toàn sau mấy gò mả này’. Trời tối đen, thỉnh thoảng có vài viên đạn lửa bay trên đầu, tôi và anh binh sĩ mò mẫm bò theo các bờ đê nhỏ tiến về phiá làng cách xa độ hai ba trăm thước. Lết được một lúc, không biết bao xa, không gặp một thương binh nào hết, tôi có cảm tưởng là chúng tôi đang ở  cái no man’s land giữa bạn và địch, đêm thì tối om... Hai  chúng tôi đồng quyết định quay về vị trí cũ vì ở chỗ này nguy hiểm quá! Và cứ như thế cho đến sáng, tôi cứ thấy mấy ông sĩ quan xem bản đồ và bàn kế to nhỏ với nhau. Tôi quả quyết là suốt đêm đó, không một quả đại bác nào được bắn vào đám địch quân đóng trong làng trước mặt chúng tôi. Cũng may là chúng  không có súng cối hay súng không giật (SKZ) bắn ra. Tôi giám cam đoan là lúc đó chỉ cần pháo binh bạn yểm trợ vài chục quả 105 vào bià làng là chúng tôi có thể tấn công  và có triển vọng thanh toán mục tiêu mặc dầu quân số chỉ có nửa tiểu đoàn. Vậy pháo binh Tiểu khu, pháo binh SÐ7BB đâu? Tôi không thấy có tiền sát viên pháo binh tiền tuyến, và nếu tôi không nhầm thì TÐ8 chẳng có liên lạc gì được với Bộ Tư lệnh Hành quân ở Tân Hiệp hay Mỹ Tho. Khi trời tờ mờ sáng thì tiếng súng thưa thớt rồi im hẳn. Lúc đó tôi gặp anh đại úy Mỹ cố vấn của Tiểu đoàn, bị thương  ở cánh tay. Tôi hỏi ông ta có cần tôi làm băng lại không vì đám y tá của tôi bắt đầu đến, vị đại úy này lắc đàu và thở dài một cách chán nản. Chúng tôi thận trọng vào làng thì địch đã rút, chỉ còn mấy chỗ đặt súng đại liên cùng các hố chiến đãu cá nhân và ít vỏ đạn. Chúng tôi thu tập được mấy binh sĩ nhẩy dù rớt vào làng bị địch giết, người còn đeo đai dù nhưng lá dù thì đã bị địch cắt mang đi. Thấy cảnh này, tôi thật hồi hộp nghĩ lại chuyến nhẩy tối hôm qua: theo tục lệ, lúc nào sĩ quan hay cán bộ chỉ huy cũng nhẩy đầu. Trong trường hợp này vì nhẩy đầu nên tôi đáp xuống ruộng ở ngoài làng, còn binh sĩ nhẩy sau, một vài người không may đã rớt lạc vô làng và bị sát hại. Giá phi cơ thả ngược hướng, thì sĩ quan hoặc cán bộ sẽ có triển vọng rớt vô làng rồi...Sau khi kiểm điểm sơ tổn thất, 18 tử thương và độ 30 bị thương, TÐ8 rút bằng đường bộ và chiều ngày hôm đó ra tới đường cái đi lục tỉnh, xe đò chở hành khách chạy ngược xuôi như trong thời bình.

Ðã chọn đời sống ngang dọc với một binh chủng khét tiếng chiến đấu, tôi không có quyền lo sợ hay ta thán khi gặp nguy hiểm, song xuýt chết trong một cuộc hành quân lãng nhách làm tôi bực bội và nghĩ ngợi liên miên trên con đường rút quân. Các sĩ quan khác chắc cũng cùng một mối ưu tư như tôi, nên chẳng ai nói với ai cho đến khi Tiểu đoàn về tới hậu cứ .

Ngày hôm sau, tôi sang TYV Cộng Hoà thăm các thương binh TÐ8ND và tạt luôn vào US 3rd Field Hospital tọa lạc ngay trước Bộ TTM, để thăm viên đại úy cố vấn  bị thương. Vì thoát hiểm cùng với nhau và có lẽ tính tôi thích nói chuyện quân sự, nên chúng tôi có cảm tình ngay với nhau và thẳng thắn trao đổi ý kiến về cuộc hành quân ly kỳ này. Anh đại úy này cùng chia sẻ lập trường của tôi về cách sử dụng TÐ8ND và tất cả những thiếu sót trong việc phối hợp điều hành trận đánh. Tôi còn nhớ thỉnh thoảng anh ta cứ lắc đầu với câu ‘ number ten...’ (hạng chót), tục ngữ nhà binh Mỹ mô tả cái gì bết bát bê bối, (ngược lại với  câu ‘number one’ - số dách - để chỉ những gì hay ho, đáng khen đáng phục). Hai chúng tôi cũng hứa với nhau là sẽ cho nhau biết thêm tin tức về trận đánh này, anh ấy dò la bên phiá cố vấn Mỹ, tôi thì tìm hiểu bên phiá VN. Chúng tôi còn gặp nhau vài lần sau đó và được biết tình hình ngày hôm đó đại để như sau: trong những ngày cuối năm 1962, tin tức tình báo và cơ quan kiểm thính cho biết tại xã Tân Thới và Ấp Bắc, hai thôn nhỏ  nằm cạnh nhau, có một đài phát thanh VC hoạt động với sự hiện diện của độ hơn 100 du kích võ trang. Tướng Huỳnh văn Cao, vừa được chỉ định làmTư lệnh V4CT, mở cuộc hành quân tảo thanh hai mục tiêu này với sự yểm trợ của trực thăng Hoa Kỳ. Cuộc hành quân khởi diễn sáng sớm ngày 2 tháng 1, 1963: một TÐ bộ binh của SÐ7 (Ðại tá Bùi đình Ðạm vừa được cử làm Tư lệnh), được trực thăng vận đến phiá bắc xã Tân Thới, để đánh chiếm xã này, hai tiểu đoàn Bảo An được điều động đến phiá nam Ấp Bắc để tảo thanh Ấp này và tiến lên nắm tay đon vị từ phiá bắc đánh xuống. Một đon vị thiết giáp gồm 13 chiếc  M113 tiến đánh hai xã này từ phiá Tây, mỗi chiếc xe bọc sắt M113 chở thêm một tiểu đội lính, những binh sĩ này sẽ nhẩy ra khỏi xe để phối hợp tấn công khi hữu sự. Các M113 đều trang bị đại liên 50 (12ly7) với tầm bắn hữu hiệu và độ phá hơn đại liên 30 rất nhiều, có một chiếc còn gắn thêm súng phun lửa. Yểm trợ hỏa lực của ta, ngoài pháo binh còn có phi cơ khu trục và lần đầu tiên trực thăng võ trang ‘Hueys’ (HU 1 B). Ba tiểu đoàn của ta gặp sự kháng cự mạnh của địch cố thủ trong Tân Thới và Ấp Bắc. Quân số địch không phải một đại đội mà là một tiểu đoàn, sẵn sàng chống cự các cuộc tấn công của ta (Cộng quân đã theo rõi được tất cả việc điều quân của ta qua hệ thống truyền tin). Các đơn vị bộ binh không vào được Tân Thới cũng không vào được Ấp Bắc và bị thiệt hại nặng về nhân mạng. Ðại đội M113, vì xình lầy và hỏa lực địch, cũng bị thiệt hại nhân mạng (các xạ thủ đại liên 50 chưa được bảo vệ bởi lá chắn đạn thép gắn trước súng đã lần lượt bị thương hay tử thương) và không yểm trợ gì được cho quân bạn và cũng không chọc thủng được phòng tuyến của địch. Yểm trợ phi pháo ít chính xác, nếu không phải vô hiệu vì địch ẩn náu rất kỹ. Ðến 15giờ ngày hôm đó, tình hình được coi như sau: một Tiểu đoàn VC trấn giữ Ấp Bắc đã đẩy lui các đơn vị bộ binh của SÐ7 cùng một đại đội thiết giáp M113, mặc dầu có Pháo binh và Không quân yểm trợ; Hoa Kỳ còn mất 5 trực thăng, vừa H21 vừa HU 1 B. Về phiá ta, không lúc nào một cấp chỉ huy cao cấp có mặt tại trận địa (Tư lệnh Vùng, Trung đoàn, Sư doàn ,Tiểu khu...) để kịp thời có quyết định thích ứng, và chỉ theo rõi diễn tiến và ra chỉ thị tại bộ tư lệnh hành quân ở Tân Hiệp, phó mặc các cán bộ cấp úy lo liệu tại chỗ. Thấy tình hình  không ổn, tướng Cao mới gọi Nhẩy dù xuống tiếp viện, song quá muộn và trong điều kiện vô cùng bất lợi. Ðược biết trong cuộc hành quân này, đã có sự bất đồng ý giữa VN và các cố vấn Mỹ ngay tại cấp Quân đoàn. Ông đại úy cố vấn TÐ8ND cho biết là các cấp trên của ông đánh giá rất thấp tài năng chỉ huy của VN trong cuộc HQ này. Không hiểu chuyện này có đến tai đại tá Cao văn Viên  Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn  Nhây dù không?

Sau 1975, di cư ra nước ngoài tôi được đọc nhiều sách báo về chiến tranh Việt Nam, sách của phiá Mỹ thường bất lợi cho miền Nam Tự do. Tuy nhiên, sau cái thảm họa vô tiền khoáng hậu của Ðất Nước, tôi nghĩ mình phải nhìn lại chiến sử một cách khách quan chứ không nên lúc nào cũng cho mình phải và đổ lỗi lên đầu người khác. Riêng về trận Ấp Bắc, tôi được biết thêm là có sự hiềm khích và bất đồng ý kiến giữa tướng Cao và cố vấn Trung tá JP Vann: ngày hôm đó, ông này thường xuyên bay trên Ấp Bắc bằng phi cơ L19 để quan sát và đốc thúc các đơn vị dưới đất, trong khi đó tướng Cao chỉ ở Bộ tư lệnh hành quân. Những đề nghị của JP Vann ít khi được chấp nhận thi hành, từ việc điều khiển các đơn vị bộ binh cho đến việc xử dụng TÐ8ND quá trễ và không đúng chỗ (nếu thả sớm hơn, trước 16 giờ, thì còn đủ thời giờ thả cả một tiểu đoàn chứ không phải 1/2  tiểu đoàn trong điều kiện vô cùng bất lợi và nhất là phải cho quân nhẩy dù đáp xuống phiá đông Ấp Bắc để chặn đường rút của địch, chứ không phải ở phiá tây đã có mặt quân ta). Quả nhiên tối hôm đó địch đã rút lui một cách ngon lành về phía đông mang theo chết ( chắc chắn ít hơn ta) và bị thương. Cũng được biết là quân số VC là 350 người, chỉ có vũ khí cá nhân và đại liên 30, sau này mới được biết thêm chúng có một súng cối 60. Nói về lãnh đạo chỉ huy, nếu các sĩ quan cao cấp bên ta chịu khó đến ngay mặt trận  đôn đốc binh sĩ, giám liều bay thám sát trận địa để lấy quyết định nhanh chóng tại chỗ, thì Ấp Bắc chắc chắn phải là một thắng lợi lớn của Quân đội Quốc Gia.

Người ta đã nói nhiều về JP Vann, cố vấn SÐ7BB, sau này là cố vấn trưởng tại Cao nguyên Trung phần. Anh này mang tiếng là thực dân, hống hách, độc tài, lúc nào cũng muốn chỉ huy...Tôi không được biết và không hề gặp người sĩ quan đồng minh này, song theo sách vở kể lại thì JP Vann đã xả thân trong trận Ấp Bắc để cố kéo chiến thắng về phiá ta . Và đã không ngớt lời chỉ trích các tướng tá Viêt Nam sau trận này. Trong đời binh nghiệp, tôi đã có cơ hội làm việc nhiều với các cố vấn Mỹ, từ cấp nhỏ (Tiểu đoàn) đến cấp lớn (Tổng tham mưu). Tôi khẳng định không một người cố vấn nào sách nhiễu tham nhũng, khinh miệt hoặc bắt chúng tôi phục vụ cá nhân họ. Có cố vấn hiền hậu vui tính, có cố vấn căn cơ tỉ mỉ, cũng có vài cố vấn khó tính khó ưa, song người nào cũng chỉ muốn giúp cho Quân đội ta khá lên mà thôi. Tôi chỉ xin đặt lại một câu hỏi : trong ngày 2-1-1963, có vị chỉ huy cao cấp VN nào bay cùng JP Vann trên bầu trời Ấp Bắc không? Có vị nào lấm bùn đôi giầy trận, nghe đạn bay trên đầu với các binh sĩ trước xã Tân Thới và Ấp Bắc không?

Mới đây, tôi được đọc một bài của Trung tướng Tôn thất Ðính viết về Ấp Bắc. Bài khá dài, đọc đi đọc lại mới rút tiả được hai kết luận:

1/ Chúng ta đã thua trận Ấp Bắc

2/ Ông Ngô đình Nhu, nhân vật quan trọng trong chính quyền hồi đó, rất xung khắc với người Mỹ, và đã làm đủ mọi cách để tỏ cho người Mỹ biết là họ không thể  thắng trận nếu họ cứ muốn chỉ huy.

Nếu đúng như vậy, Tướng Cao, người đảng Cần Lao tuyệt đối trung thành với nhà Ngô, đã theo đường lối đó và không bao giờ đếm sỉa đến ý kiến của Mỹ, tức cố vấn JP Vann hồi bấy giờ. Cộng thêm cái tài năng chỉ huy thấp kém, luôn luôn sợ sệt bị thất sủng nếu phải báo cáo lên Cụ tổn thất của phe ta, ông đã dâng cho VC một chiến thắng mà chúng không ngờ.

Bác sĩ  Hoàng Cơ Lân

Cựu Y sĩ trưởng SÐND/ QLVNCH

http://mekongforum.tripod.com/lanapbac.htm

***

Trận Ấp Bắc Thực Tế Và Huyền Thoại

Cựu tướng Lý Tòng Bá

quân sự việt nam, thiết giáp kỵ binh việt nam, thiết vận xa m 113, trận ấp bắc, sư đoàn 7 bộ binh việt nam cộng hòa

Lời tòa soạn: Nhân mùa 30/4 năm nay, sau khi nói chuyện qua phone, cưu tướng Lý Tòng Bá đã gửi tới tòa soạn một bài ký viết tay, trong đó, tướng Bá đã viết lại tỉ mỉ những sự thực về trận Áp Bắc, những sự thực mà một số sách báo ngoại quốc và cộng sản đã xuyên tạc hay bóp méo sự kiện. Tướng Bá nguyên là người chỉ huy Đại Đội 7 M113 trong trận Áp Bắc đầu năm 1963 tại Mỹ Tho, sau này là tư lệnh Sư Đoàn 23 BB. Với sự chấp thuận của tướng Lý Tòng Bá, bài viết này được Hải Triều viết lại ( cách hành văn) mà không sửa đổi bất cứ ý chính và chi tiết nào. Toàn bộ nội dung bài viết vẫn được giữ nguyên vẹn. Mong là bài viết này giải tỏa được một phần nổi uất nghẹn của tướng Lý Tòng Bá nói riêng và QLVNCH nói chung về những bất công và bất hạnh của quân lực trong cuộc chiến Việt Nam

Chúng tôi xin được giới thiệu bài viết đặc biệt này đến quý độc giả nhân ngày 30/04 bất hạnh năm nay, và chân thành cám ơn niên trưởng lý Tòng Bá/ HT

Trận Ấp Bắc được ghi vào quân sử trong cuộc chiến Việt Nam. Báo chí quốc tế, và kể cả sách báo VC cũng nhắc nhiều về Ấp Bắc. Đó là một trong những trận đụng độ khốc liệt quan trọng giữa Đại Đội 7 M113 của VNCH và quân Việt cộng tại Khu Chiến Thuật Tiền Giang. Nói rõ hơn, là tại mật khu Đồng Tháp Mười thuộc miền Tây Nam Bộ của Việt cộng, cách xa quận Cai Lậy Mỹ Tho trên dưới chỉ 10 cây số về hướng Đông Bắc.

Không giống như những lần trước với những cuộc đụng độ cấp trung đội hay đại đội, lần này, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 QLVNCH đã phải sử dụng cả một trung đoàn, lần đầu tiên mở ra cuộc hành quân "Trực Thăng Vận" với một tiểu đoàn Bảo An của tiểu khu Mỹ Tho tăng cường mà Đại Đội 7 M113 của Sư Đoàn 7 làm nỗ lực chính để đối đầu với VC.

Và cũng là lần đầu tiên mở rộng chiến tranh, cộng quân đã bất ngờ tung vào trận Ấp Bắc một lực lượng đáng kể gồm Tiểu đoàn 514 Chủ Lực Mỹ Tho, tiểu đoàn Chủ Lực Miền 263, chưa kể những thành phần dân quân du kích khác. Lợi dụng địa thế hiểm yếu quen thuộc, Ấp Bắc không khác gì hơn là một cái làng bỏ trống nằm giữa khu đồng ruộng ngập nước quanh năm, chằng chịt kinh rạch, và cũng là nơi mà VC luôn có mặt kiểm soát với nhiều lần chạm trận trong cuộc chiến 1945 - 1955, một lần nữa tại Ấp Bắc, họ đã áp dụng lối đánh lén, phục kích, bắn sẻ để trì hoãn thế trận và gây thiệt hại cho các cánh quân VNCH bạn trong giai đoạn đầu, hầu có thể tập trung lực về vị trí chọn lựa với hầm hố của cái gọi là "chiến thuật công kiên chiến", đánh cầm cự để tùy nghi khai thác chiến quả nếu được, bằng không, khi thấy thế yếu, họ lần lượt trốn chạy, rút nhanh theo kiểu mà họ thường nói là "chém vè" trong đêm tối, rút lui mất dạng. Ý đồ và hoạch định trận Ấp Bắc khi đó là vậỵ

Muốn hay không, VC đã biết lợi dụng những kẽ hở của quân VNCH mà người chỉ huy phía ta không để ý hoặc không tiên liệu những biện pháp thích ứng... để bất ngờ khai thác tình hình cho nhu cầu "tâm lý chiến và chính trị" trong chủ trương một cuộc chiến tiêu hao lâu dài kiểu "tầm ăn lá", nhất là trong thời gian đó, VC có nhu cầu phải gây lại uy tín và tinh thần cán binh đã mất trong vài tháng trước khi tiểu đoàn 502 Chủ Lực tỉnh Sa đéc bị tổn thất hàng trăm quân tại ranh giới Mỹ Tho - Sa Đéc trong trận đụng độ ác liệt với Đại Đội 7 M113 vào ngày 18 tháng 2 năm 1962. Trong trận đánh này, một nửa quân số của TĐ 502 bị loại ra khỏi vòng chiến ngay trong những giờ phút đầu tiên của trận đánh, một nửa còn lại đã phải ngụp lặn trong cánh đồng ngập nước để tìm cách chém vè trong đêm tốị Thế nhưng số VC định chém vè này đều bị bắt sống. Kiểm điểm tổn thất, Đại Đội 7 M113 chỉ có một tử thương là Thượng sĩ Ninh, trung đội trưởng, và một số binh sĩ khác bị thương. Tại sao sự tổn thất giữa hai bên chênh lệch như thế nàỷ Nguyên nhân, chúng ta phải hiểu là các đơn vị VC không biết được khả năng của loại xe M113 do hãng Chrysler của Mỹ chế tạo, nó hoàn toàn không giống loại xe được cho là những con cua lội nước, hay "Crabe" của quân Pháp cũng do Mỹ chế tạo, được sử dụng trong đệ nhị thế chiến, và được trang bị cho các chiến đoàn xe lội nước gọi là "GA", viết tắt từ chữ Groupement Amphilies mà có lần bị chính tiểu đoàn 502 của VC đánh thiệt hại nguyên một đơn vị.

Từ những yếu tố không biết về khả năng mới - cơ động trên của M113, các đơn vị VC đã dàn trận. Đúng như lời của một anh tù binh kể lại thì tình thế quả không giống như lần phục kích đoàn xe "Crabe" của quân Pháp. Những gì VC điều nghiên, dàn thế trận, chuẩn bị tinh thần cho cán binh lâm trận... đã không xẩy ra như những gì họ hoạch định và mong đợi. Chẳng hạn xe M113 không có lần nào bị súng nhỏ bắn thủng như loại xe "crabe" của Pháp, và cũng không một lần nào thấy bất cứ một xa đội M113 nào phải ngừng lại từng chập để cho lính nhảy xuống gỡ gỡ rơm rạ, cỏ lúa... kẹt trong bánh xích xe làm xe không chạy được, để nhân cơ hội này, VC bất thần nổ súng tấn công.

Khi thế trận bùng ra, tôi ( Lý Tòng Bá) đã ra lệnh các xa đội, từng chiếc lội nước, khai hỏa phóng thẳng ngay vào ổ phục kích của tiểu đoàn 502 đang dàn thành đội hình bán nguyệt ở giữa ruộng nước. Mũi tiến quân xông vào vị trí địch đang ngâm mình dưới nước, các xa đoàn M113 được đại liên và trung liên BAR đặt trên các xuồng ba - lá bắn yểm trơ.. M113 đã tung hoành với những khả năng đa hiệu bất ngờ ngoài dự liệu và sự hiểu biết của các cấp quân sự VC, đã làm cho thế trận phục kích giăng bẫy của VC bị tan vỡ thê thảm. Khi thanh toán chiến trường, không biết quân VC đã bố trí ở đó lúc nào, nhưng trên mình của mỗi cán binh VC còn sống sót, bị bắt làm tù binh, mỗi anh ít lắm cũng phải đeo ba bốn con đỉa, loại đỉa trâu không nhỏ của đồng bằng sông Cửu Long, no tròn đầy máu lớn bằng cỡ ngón tay cái, muốn rức nó ra phải dùng điếu thuốc đang cháy chấm vào đầu nó... Một anh VC được anh em binh sĩ kéo lên từ ruộng nước, đặt ngồi trên M113. Anh ta ngơ ngẩn nhìn quanh quẩn như mất hồn. Anh ta và đồng đội đã tham dự một trận đánh hoàn toàn không giống những gì cấp chỉ huy của anh ta huấn thị và dạy trên sa bàn hành quân.

Nhân viết lại những dòng này, chúng ta một lần nữa có thể nói đây không phải là lần duy nhất mà chạm trận với QLVNCH, địch đã bị tổn thất nặng nề, không phải chỉ có một lần, chỉ có Đại Đội 7 chiến xa M113 thành đạt được song thường ít khi giới truyền thông bạn triệt để khai thác, mà chính Neil Shehan, người phóng viên chiến trường đã viết quyển "The Bright Shining Lie" nói về chiến tranh Việt nam đã nhiều lần nghe nói đến. Có lần, anh theo xe M113 với tôi trong một vài cuộc hành quân tại Mỹ Tho, nhưng những lần đó lại không đụng độ với VC, vì thế, anh ta vẫn chưa chịu hiểu, và chưa thất sự thật, và vẫn mang nặng tinh thần trái ngược khi đề cập tới cuộc chiến đấu tự vệ của QLVNCH, mà thường là chỉ tìm và chú trọng tới chiến thắng, dù lớn hay nhỏ của VC để phóng đại, cho nên mãi đến bây giờ, dù Neil Shehan tôi coi là một người bạn quen thân, tôi cũng chẳng biết Shehan có chủ trương hay mục đích gì... Một người chịu khó, khá thông minh, đỗ đạt từ một Harvard nổi tiếng, thích tự do mà chỉ viết những bài báo lập luận phê bình ác ý và không chính xác nhắm vào QLVNCH. Nhứt là sau ngày 30/4/75, anh ta đã cho xuất bản quyển "The Bright Shining Lie" với những biện luận bất công nhắm vào QLVNCH, một quân lực bị bất ngờ "ngã ngựa" vì sự phản bội của đồng minh.

Sau khi xuất bản quyển sách nói trên, có một lần Shehan đã viết một bài khá lịch sự liên quan đến tôi trên tờ The New Yorker, đó là bài "After the War was over" xuất bản ngày 18/11/91, và anh ta đã gửi tặng cho tôi tờ báo đó. Phải chăng đây là lần cuối Shehan gián tiếp muốn tôi bỏ qua những lỗi lầm mà anh ta đã viết về tôi khi chỉ huy Đại Đội 7 chiến xa M113 trong trận Ấp Bắc với những lập luận vô căn cứ và lệch lạc khi được vài cố vấn Mỹ thời đó kể lại câu chuyện với dụng ý bào chữa những khuyết điểm nông nổi của mình.

Sau gần 13 năm ở tù cộng sản ra, tôi gặp Neil Shehan một lần tại Việt Nam, đến Mỹ năm 1991, tôi gặp lại Neil Shehan tại Las Vegas khi hắn tham dự một "convention" với sự có mặt của tướng Powell. Đó là lần gặp mặt lâu nhứt trong đó tôi kể lại tình tiết và sự thật của trận Ấp Bắc cho anh ta nghe:

... Ngày đó, sau đêm cuối cùng, Đại Đội 7 M113 rời thị xã tỉnh Mỹ Tho đến quận Cai Lậy, xuất phát theo đội hình hàng dọc ( để giảm làm thiệt hại lúa) hướng về mục tiêụ Đại Đội M113 ít lắm cũng đã vượt qua 2 con kinh ngang trước khi vào vùng tiếp giáo với mật khu Bà Bèo của VC nằm dọc theo hai bờ kinh Tổng Đốc Lộc mà Ấp Bắc là một trong những vùng ven biên. Cùng lúc tôi nhận được lệnh từ Bộ Chỉ Huy hành quân nhẹ đặt ở Cai Lậy, Tiểu Khu Mỹ Tho là phảI nhanh chóng đưa Đại Đội 7 M113 đến mục tiêu, vì nơi đó đã có một chiếc trực thăng bị rơi trong cuộc đổ quân lần đầu mà nguyên nhân có thể là lỗi vụng về kỹ thuật của phi công chứ chưa chắc là do đạn VC bắn. Đó là chiếc H21 hình thù như quả chuối già quá cũ gần đến ngày phế thảị Vì theo anh trung úy chỉ huy toán nhảy đợt đầu xuống mục tiêu Ấp Bắc cho tôi biết là anh không nghe bất cứ tiếng nổ nào lúc phi cơ đáp xuống mà chỉ nghe vài tiếng súng nhỏ sau đó.

Không lâu sau đó, Đại Đội 7 M113 phải đối diện với con kinh thiên nhiên mà nông dân địa phương gọi là "kinh lạn" không bờ ác nghiệt. Lần đầu dưới mắt tôi, nó như một dòng nước chảy xuôi qua một bãi ruộng bằng phẳng, lởm chởm vài bụi cỏ với lá rủ mình quặt què theo nước.. . Quả thật, nếu là một thi sĩ, con kinh lạch trước mặt sẽ là nguồn cảm hứng của muôn bài thơ, nhưng ở đây, nó như là khúc xương khó nuốt của những con trâu sắt M113. Canh cánh với trách nhiệm, lo cho sự an nguy của phi hành đoàn, tôi phân vân chưa biết phải xử trí ra saọ Có lần tôi đưa ra ý kiến lên ban cố vấn cũng như Bộ Chỉ Huy Hành Quân là nên chỉ thị cho một cánh quân bạn nào gần đó mở cuộc hành quân bộ đến nơi chiếc trực thăng bị rơi, dù chậm nhưng chắc chắn hơn là sử dụng Đại Đội 7 M113. Lý do là không làm sao chúng tôi đoán biết việc vượt qua kinh lạch để tiến đến mục tiêu phải mất bao nhiêu thời gian. Xa đội chúng tôi thay nhau từng bước mò mẫm độc bờ kinh nhưng không lần nào cho xe băng ngang được vì lòng kinh toàn là bùn không đáỵ Vì không hiểu và nhận ra yếu tố đặc biệt này mà phía cố vấn Mỹ đã hiểu lầm, cho tôi là thiếu tinh thần trách nhiệm, không muốn đụng độ với địch quân. Đó là một nhận định phiến diện, cạn cợt, không hiểu thực trạng của địa thế chiến trường. LốI suy nghĩ và nhận định ấu trĩ ấy tôi không hề hay biết. Đến khi qua Mỹ, đọc quyển " The Bright Shining Lie" của Neil Shehan có viết những điều ngộ nhận sai lầm đó về tôi, tôi mới biết. Lúc đó thì quá trễ để nóI lại vần đề cho rõ.

Nghĩ lại, trong cảnh đầu tắt mặt tối của tôi và anh em các xa đội, ông sĩ quan cố vấn J. Scanlon của chúng tôi ngồi luôn trên xe với chiếc máy truyền tin, không nhúc nhích một bước, đã nói gì với trung tá J.P.Vaun, cố vấn Sư Đoàn 7 đang bay trên đầu với chiếc L19. Sau khi Scanlon đưa ống nói cho tôi, lần đầu tiên tiếp chuyện thẳng với Vaun, tôi nghe được một câu hắc búa của J.P. Vann:

- Anh Bá! Nếu anh không cho xe qua kinh thì tôi sẽ nói cho Dại Tướng Lê Văn Tỵ bỏ tù anh!

Câu nói này tôi không bao giờ quên. Lúc vừa nghe, tôi tức giận đỏ bừng cả mặt. Tôi âm thầm tự nhủ, tại sao ông Vann này lại có thể thốt ra một câu như vậỷ! Tôi thẳng thắn trả lời:

- Trung tá Vann! Tôi rất mong thấy ông đáp xuống đây để tận mắt ông nhìn thấy những khó khăn thực tế của trận địa và những gì chúng tôi đang làm. Bằng không, vì lý do nào đó mà tôi phải đi ở tù, thì đó chẳng qua là vì danh dự của người lính!"

Khi đó, trong đầu tôi bỗng thấp thoáng cái câu " một ngày lính là chín ngày tù" của ai đó đặt ra và bây giờ tôi thấy như rất đúng. Tôi nói lời chào cám ơn Trung Tá Vann rồi cúp máỵ Theo tôi, đó là đầu dây mối nhợ của câu chuyện "ăn thua" trong trận Ấp Bắc.

J.P.Vann, một sĩ quan cố vấn, nóng nảy quá độ, hăng say quá trớn, sợ bị qui trách nhiệm, "ăn thì OK, thua thì đổ thừa". Mà thực ra, trong trận Ấp Bắc có gì phải quan trọng hóa việc ăn thua, ngoài những trở ngại, những khó khăn chồng chất, chết chóc xẩy ra khi phải đánh nhau với kẻ thù dùng du kích chiến kiểu " nói láo, đánh lén, bắn sẻ, chém vè..." Ngày đó, trong trận cuối cùng, VC cũng đã bị Đại Đội 7 M113 đẩy lui để lại 8 xác tại chỗ, kể cả người chỉ huỵ

Không bao giờ tôi quên những khó khăn gian khổ mà tôi và những anh em binh sĩ thuộc quyền tưởng là không tài nào vượt qua được, kể cả lần các M113 bị kẹt xích, kẹt bùn loay hoay giữa ruộng hơn một ngày đêm, anh em các xa đội phải thay nhau liên tiếp móc kéo xe ra khỏi vùng nguy hiểm... Cuối cùng, Đại Đội 7 M113 cũng vượt qua được con kinh lạn ác nghiệt đó để tiến đến mục tiêu Ấp Bắc khoảng trên dưới 4 giờ chiềụ Sau khi anh trung úy chỉ huy toán quân nhảy trực thăng đầu tiên xuống trận địa cho tôi biết tình hình tại chỗ, tôi ra lệnh cho cố chuẩn úy Nguyễn Văn Nho (anh là cây vợt vô địch bóng bàn của binh chủng thiết giáp) đưa trung đội I áp sát vào mé làng Ấp Bắc để dò dẫm. Trung đội chỉ huy và các trung đội khác tiếp theo tiến theo đội hình hàng dọc, trước khi tôi ra lệnh mở rộng đội hình thành hàng ngang, quân VC đã bất thần nổ súng cách trung đội 1 chỉ khoảng 50 thước, mở đầu cho trận đánh Ấp Bắc. Trong những giây phút khai hỏa đầu tiên của địch, chuẩn úy Nguyễn Văn Nho của Trung Đội 1, Thượng Sĩ Nguyễn Văn Hào của xe chỉ huy bị hy sinh, chưa kể một số xạ thủ đại liên 50 của các trung đội khác vừa chết vừa bị thương. Tổng số thiệt hại của Đại Đội 7 M113 từ phút đầu cho đến tàn trận là 8 chết và 14 bị thương. Số thiệt hại này phần lớn do các khẩu đại liên thời đó không có trang bị tấm chắn đỡ đạn. Sau trận Ấp Bắc, các loại lá chắn này mới thực hiện để che đạn cho các xạ thủ đại liên M113.

Nhắc lại chuyện này, tôi vẫn phân vân thắc mắc tại sao người ta chỉ chịu trang bị thêm phương tiện và vũ khí mới cho quân đội VNCH sau khi các đơn vị quân đội chúng ta bị thiệt hai hay bị mất đi những chiến sĩ và cán bộ chỉ huy tài giỏi, gan dạ vì thiếu phương tiện chiến đấu thích hợp. Chỉ riêng một yếu tố là nếu trên xe M13, các xạ thủ đại liên có những lá chắn đạn an toàn cho xạ thủ thì trong trận Ấp Bắc thì số thương vong của chúng ta giảm nhiều, đồng thời Đại Đội 7 M113 có thể đã đưa tiểu đoàn 514 Chủ Lực VC tỉnh Mỹ Tho tan tác đi theo tiểu đoàn 502.

Tôi nhớ một lần trước trận Ấp Bắc, đoán được ý đồ của VC là khi không còn cách nào khác để mở trận mới đánh với Đại Đội 7 M113, thì họ chỉ còn dựa vào ven làng, vào một thế đất mà chọn lựa để có thể dễ dàng gây khó khăn cho Đại Đội 7 M113 khi bất ngờ xuất hiện từ các hầm hố kiên cố được che khuất, tấn công khai hỏa vào các xạ thủ đại liên 50 trên xe M113 chứ không dám nằm giữa đồng ruộng phục kích như lần tiểu đoàn 502 của họ bị tiêu diệt ở tỉnh Sadec. Tiên liệu điều như trên, tôi gửi lên cấp chỉ huy cũng như cố vấn Mỹ một đề nghị khẩn cấp và thiết thực việc trang bị lá chắn đạn an toàn cho xạ thủ đại liên càng sớm càng tốt... Đề nghị đó không được chấp thuận. Tướng Stilwell của phái bộ viện trợ Mỹ đã trực tiếp trả lời cho trung tá Nguyễn Văn Thiện, nguyên chỉ huy trưởng binh chủng Thiết Giáp ( 1957 - 1964) (*) bằng một câu mà tôi không bao giờ quên. Câu nói nguyên văn bằng tiếng Pháp của tướng Stiwell như sau: "le meilleur moyen de défance c'est tirer." Ờ nghĩa là " muốn bảo vệ mình, người lính chỉ có bắn!" Theo tôi, trên lý thuyết thì quá đúng, hoặc trong phim xi-nê cao bồi, hay tại "desert storm" với "bão sa mạc" thì còn có lý... chứ đối với chiến tranh du kích kiểu VC trên địa thế núI rừng, sông lạch Việt Nam thì chưa chắc câu của tướng Stilwell là câu thần chú hộ mạng, mà trận Ấp Bắc là một thí dụ điển hình. Làm sao chúng ta thấy được VC nằm phục kích trong nước, dưới lá, dưới sình mà bắn trước để bảo vệ mình.

Nhắc lại, cả một chiến đoàn gọi là GM 100 của quân Pháp đã bỏ mạng tại đèo An Khê ở Pleiku trong chiến tranh Việt Pháp trước đây đã ở trong tình huống trên. Tôi rất may đã sống sót trong trận Ấp Bắc. Từng tràng đạn địch "thay nhau tránh né" khi bay qua đầu tôi, một điều kỳ lạ, mãi cho đến bây giờ tôi không biết tại sao mạng tôi còn, tại sao tôi còn sống với hàng loạt đạn vượt qua đầu để lại những tiếng kêu "bực... bực" bên taị Có lần tôi đang bắn trả qua lại với đám VC đứng trong những hầm hố không quá 20 thước trước mặt, bất ngờ tôi thấy anh đại úy J. Scanlon đang ngồi trong M113 của tôi mở cửa sau M113 chỉ huy nhảy ra ngoài chạy mất da.ng. Trong xe chỉ huy của tôi lúc đó có xác của thượng sĩ Nguyễn Văn Hào bị tử thương, và có lẽ lần đầu tiên anh chứng kiến tận mắt xác chết trong xe chỉ huy, chưa kể hai người bị thương khác nằm la liệt máu me, đó là anh Kiên, tài xế xe jeep riêng của tôi bị đạn xuyên cổ và anh lính kèn ngả xuống sau tiếng kèn xung phong ngả xuống bên tay mặt của tôị Tình trạng này có lẽ đã làm cho Scanlon mất tinh thần, và đã thật sự gây khó khăn không nhỏ cho tôi trong việc điều động đơn vi.. Thành phần bị chết và bị thương trong những giây phút chạm súng đầu tiên phần đông là những anh em chỉ huy trưởng xa và xạ thủ đại liên 50 chứ không ai khác. Dĩ nhiên, trong tình huống đó, sức mạnh và đà tấn công của Đại Đội 7 M113 bị yếu và khựng lại, nhứt là ở phía trước mặt tôi, giữa Đại Đội 7 M113 và mé làng chỉ là một bãi nước không biết là ruộng hay là một vũng bùn. Nếu M113 kẹt dính ở đó thì vô cùng nguy hiểm.

Trước tình huống đó, tôi dự định cho các xa đội lui về phía sau vài chục thước để bảo đảm an toàn hầu có thể dùng các loại pháo hỏa tập tiêu diệt mục tiêu ( fire of destruction) mà tôi mới chợt nghĩ ra, vô cùng cần thiết để giải quyết một tình huống khó khăn. Không dùng pháo trong trường hợp này là một thiếu sót nghiêm tro.ng. Lúc đó, kể cả cố vấn V.P.Vaun lúc đó cũng chỉ lo cho an ninh phi hành đoàn của chiếc trực thăng bị rớt mà không có sáng kiến gì khác. Sau khi việc yêu cầu cung cấp hỏa tập được đáp ứng và ban ra, nó đã vừa tiêu diệt địch, vừa dọn đường cho một trận xung phong cuối cùng.

Từ bộ chỉ huy hành quân nhẹ của Tiểu Khu Mỹ Tho, Trung Tá Lâm Quang Thơ, tỉnh trưởng, lệnh cho tôi lui về phía sau 400 thước an toàn cho đơn vị để một phi tuần 2 chiếc B26 oanh tạc mục tiêụ Cần nói rõ thêm, mỗi lần dùng "phi pháo yểm" là mỗi làn từng đợt pháo và từng đợt phi cơ thay nhau đánh vào mục tiêụ Thường thì VC hay nằm dọc theo mé rừng hay ven làng trong các hầm hố kiên cố, còn nếu địa thế là vùng núi thì họ không nằm trên đỉnh mà lại bám các vùng yên ngựa hay bên sườn đồi... cho nên, tại Ấp Bắc, những đợt oanh kích của 2 chiếc B26 lúc đó chỉ có tác dụng tâm lý hơn là tiêu diệt đối phương.

Đúng khoảng trên dưới 5 giờ chiều, sau quả bom cuối cùng mà tôi thấy rõ rời bụng phi cơ rớt xuống giữa mục tiêu Ấp Bắc với hai cánh máy bay dường như run rẩy báo hiệu ngày phế thải... thì Đài Độ M113 ào ạt mở đợt tấn công lần chót, đẩy lui không khó quân VC ra khỏi các vị trí. Các toán quân VC bị đánh bật ra khỏi vị trí đã bỏ chạy tán loạn, để lại 8 xác chết, trong đó có cả một cấp chỉ huy.

Đúng như trong bài viết thêm của Neil Shehan về trận Ấp Bắc trong nguyệt san "The New Yorker" với bài "After the war was over", bài viết có đoạn : " Tối lại, quân VC có cho một thành phần nhỏ nào đó bò về mục tiêu Ấp Bắc để tìm xác anh chỉ huy..." Nhưng việc nói VC lén về Ấp Bắc tìm xác cũng là chuyện không thật. Làm sao có chuyện đó khi toàn Đại Đội 7 M113 đang nằm dàn trận chờ sẵn tại chỗ. Một tên chỉ huy VC bi tử thương là có thật, nhưng toán VC mò về lấy xác thì không.

Tôi nhớ chiều hôm đó, khoảng 6 giờ, sau khi Đại Đội 7 M113 đã hoàn toàn làm chủ tình hình và chấm dứt trận đánh, thì việc cho một đơn vị Dù nhảy xuống cánh đồng trống phía sau lưng Đại Đội 7 là một điều vô ích. Có một toán nhỏ quân Dù bị gió chiều bọc cuốn đựa lạc vào một vùng không an ninh, đã gặp một thiệt hại nhỏ , nhưng đó quả là một thiệt hại không đáng xẩy ra và rất oan uổng. Đúng là tháng xui ngày rủi của quân tạ

Trong lửa đạn, trong trận đánh, cái đầu tôi với cái mũ nồi đen kỵ binh lúc nào cũng nhoi ra khỏi M113 mà đạn mọi phía bắn ào ào tới mà cái đầu chẳng bị trúng viên nào, làm cho tôi có cảm tưởng VC bắn rất tồi! Nhưng chưa hết, vào sáng sớm hôm sau, vì còn ấm ức về cái vùng sâu phía trong của mục tiêu Ấp Bắc chưa được chế ngự và lục soát kỹ, tôi đã quyết định mở cuộc hành quân loại bỏ túi - tức là "hạ chiến" - với một thành phần nhỏ của các xa đội tạm thời rời M113 để đánh bô.. Đến hơn nửa đường di quân, bất ngờ không biết ai gọi mà những tràng pháo binh loại 105 ly của phe ta không mời mà đến, thay nhau từng đợt 4 quả với 4 tiếng "bụp - bụp - bụp - bụp" nghe từ quận Cai Lậy vọng lại báo hiệu những lần đạn rời nòng bay đị Những trái đạn chạm đất nổ vang, và chúng tôi mừng là nó không rơi vào vị trí chúng tôị Có khoảng 40 trái đạn bắn đi, có trái rơi cách chúng tôi khoảng 10 thước. Từ trong một cái hố với với máy truyền tin PRC trên lưng, Hạ Sĩ Tòng lúng túng gọi khẩn cấp về xe chỉ huy để chuyển lời yêu cầu của tôi yêu cầu Bộ Chỉ Huy Hành Quân cho ngưng cuộc pháo kích vì "chúng tôi đã đầu hàng vô điều kiện!" Trong khi tôi đang trong thế ngồi chồm hổm, đẩy mạnh lưng vào thành hố để tim bớt đập mạnh thì anh đại úy cố vấn J. Scanlon mất tinh thần, bò quanh bò quẩn trước mặt tôi... trông ngơ ngác như một con bê lạc bầỵ Theo tôi, nếu cảnh đó được Neil Shehan chứng kiến và viết đầy đủ lại trong quyển "The Bright Shining Lie" của anh ta thì chắc anh ta đáng lãnh giải "nobel" ở Thụy Điển chứ không phải giải Pulitza mà anh ta nhận ở Mỹ.

Cả cộng sản, vì nhu cầu tuyên truyền chính trị, lẫn các nhà báo Mỹ, vì thiếu chứng liệu và nhiều thiên kiến, đã viết sai sự thực, xuyên tạc sự thực về cược chiến tự vệ anh dũng của quân dân miền Nam. Và cũng thể theo lời yêu cầu của một số chiến hữu cựu quân nhân QLVNCH và đồng minh, tôi đã gạn lọc trí nhớ để tìm lại những dữ kiện thật thuộc loại "đầu dây mối nhợ" của trận Ấp Bắc mà vì lý do chính trị và nhu cầu phản chiến, họ đã cố tình bóp méo sự thật. Tôi đã viết lại bằng tay, bằng chính thủ bút của mình Ờ và như chiến trường Ấp Bắc tan hoang, khi tôi viết xong bài này trên mấy trang giấy cuối thì dưới bàn viết của tôi là một đống giấy nháp với cây viết "bi" đã gần hết mực "dàn trận tan tác ngổn ngang" dưới gầm bàn.

Viết bài này, tôi cũng có ý nhắc cho những ai chưa biết sự thật, là, với chiến thắng và kinh nghiệm từ trận Ấp Bắc, không biết bao nhiêu lần tôi đã đánh thắng những đơn vị địch quân từ các cấp tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn và cả quân đoàn của VC - bất cứ ở đâu, từ miền Tây, miền Đông Nam phần đến Tây Nguyên, đặc biệt là hầu hết các lần đó đều có sự hiện diện của J.P Vann, kẻ có lần đã đề nghị lên đại tướng Lê Văn Tỵ cho tôi đi tù - và sau này, cũng chính J.P.Vann vận động cho tôi lấy quyền chỉ huy Sư Đoàn 23 Bộ Binh đánh tan 3 sư đoàn VC do tướng Bắc quân Hoàng Minh Thảo, một trong những tướng hùng hổ nhất của Bắc Việt chỉ huy.

Từ những điều trên trong bài này, việc sách báo VC và Tây phương nói quân VNCH thua trong trận Ấp Bắc là xuyên tạc, là sai sự thật. Và nếu còn sống (**) đến hôm nay, chưa chắc J.P Vann đã cho Neil Shehan viết trận Ấp Bắc một cách thiếu sót và sai lê.ch. Vì đó cũng chính là cái thiếu sót của J.P.Vann trong những phút giây đầu tiên của trận Ấp Bắc, vì ông chưa đủ kinh nghiệm và hiểu biết về chiến tranh du kích kiểu VC. Sự thiếu sót và thiếu kinh nghiệm đó của ông và ký giả Tây phương đã làm cho các bài viết về trận Ấp Bắc (cũng như nhiều lãnh vực khác...) bị bóp méo và hiểu lệch khác đi.

Cựu tướng Lý Tòng Bá Cựu tư lệnh sư đoàn 23 BB/ Cựu tù cải tạo

(Hải Triều đánh máy bài viết và sắp xếp hành văn với sự chấp thuận của tướng Bá)

Ghi chú:

* Trung Tá Nguyễn Văn Thiện, sau lên Đại Tá, phục vụ tại Quân Đoàn 1 của tướng Hoàn Xuân Lãm, là một trong hai người được tướng Nguyễn Văn Thiệu gọi về dinh Độc Lập để gắn sao cấp tướng. Chẳng may chiếc A37 chở anh về Sài Gòn bị ngộ nạn và mất tích.

** Ông Vann, trong một chuyến đến thăm tướng Bá ( Sư Đoàn 23 BB) đả tử thương trong một tai nạn máy bay tại Cao Nguyên. Chiếc trực thăng chở ông trên quốc lộ 14 gần Chu Paọ Đại Tá Nhu chỉ huy Biệt Động Quân là người chỉ huy cuộc tìm và thu hồi xác ông Vann và phi hành đoàn. Anh em Biệt Động Quân cho biết không hề nghe tiếng súng khi máy bay bi rớt. Dù đến nay vẫn chưa rõ nguyên nhân tai nạn, song người ta có thể dự đoán là máy bay rớt vì trục trặc kỹ thuật chứ không phải vì đạn phòng không. Chi tiết này ghi lại từ tướng Lý Tòng Bá qua cuộc điện đàm sáng 9/4/2001./HT

source: http://www.viettrade.net/military_history/ly_tong_ba.htm

Quân Sử Việt Nam (TOP)