Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai

Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa - Quân sử sư đoàn 7 bộ binh

vietnam, việt nam, cờ việt nam

quân sự quân đoàn 4 quân khu 4 việt nam cộng hòasư đoàn 7 bộ binh

Là Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa,

Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

Điều 5: Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

Điều 6: Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

***

Sư-đoàn 7 bộ-binh Việt-Nam Cộng-Hòa - Biệt Khu 44 Chiến Thuật

Tình hình chiến sự trong giai đoạn 1968-1975

1968 - Đầu năm 1968, để giảm bớt gánh nặng cho ba sư đoàn chủ lực SD 7 BB, SD 9 BB và SD 21 BB ở QK 4, Biệt khu 44 Chiến thuật được hình thành để bảo vệ khu vực biên giới với Cam Bốt, kéo dài từ Hà Tiên trong tỉnh Kiên Giang đến khu vực Mỏ Vẹt (Parrot’s Beak) ngay biên giới Kiến Tường-Long An, bao gồm các tỉnh Kiến Tường, Kiến Phong, Châu Đốc, và khu vực biên giới của tỉnh Kiên Giang. Bộ Tư lệnh Biệt khu 44/CT đặt ở thị xã Cao Lãnh, các đơn vị chiến đấu chính là LD 4 KB, LD 4 BDQ và 8 tiểu đoàn BDQ Biên phòng.

Sau cuộc hành quân vượt biên sang Cam Bốt trong năm 1970 đến cuộc tổng tấn công Xuân Hè 1972 của CSBV, Biệt khu 44/CT duy trì hai căn cứ tiền phương trên đất Cam Bốt ở Neak Luong và Kompong Trach, do các đơn vị Biệt động quân giữ để bảo vệ khu vực biên giới.

Sau khi mối đe dọa của CSBV ở khu vực biên giới từ Hà Tiên đến Đồng Tháp không còn nữa, vào cuối năm 1973, Biệt khu 44/CT được giải tán. Trách nhiệm các tỉnh Kiến Tường, Vĩnh Long và Vĩnh Bình được chuyển giao cho Sư đoàn 7 BB, trong khi tỉnh Châu Đốc, Kiến Phong và bắc Kiên Giang thuộc về Sư đoàn 9 BB. Các đơn vị BDQ và BDQ Biên phòng ở Quân khu 4 bị giải tán, thuyên chuyển, sát nhập vào hệ thống tổ chức mới của BDQ ở ba quân khu phía bắc. Riêng LD 4 BDQ thuộc quyền điều động của Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH.

● Từ ngày hình thành (đầu năm 1968) cho đến ngày giải tán (cuối năm 1973), Biệt khu 44 Chiến thuật có 5 vị Tư lệnh.
Vị Tư lệnh thứ nhất (1968) là Đại tá Nguyễn Hữu Hạnh mà sau ngày 30 tháng 4/1975 lộ nguyên hình là Cộng sản nằm vùng.
Vị Tư lệnh thứ hai (giữa năm 1968) là Đại tá Phạm Văn Phú, tuẫn tiết chết vào ngày 30 tháng 4/1975.
Vị Tư lệnh thứ ba là Đại tá Võ Hữu Hạnh mà thời gian cầm quyền rất ngắn.
Vị Tư lệnh thứ tư (1969) là Đại tá Trần Văn Hai, cũng tuẫn tiết chết vào ngày 30 tháng 4/1975.
Vị Tư lệnh thứ năm (1971), cũng là Tư lệnh cuối cùng của Biệt khu 44, là Đại tá Hoàng Đức Ninh.

http://www.mekongrepublic.com/vietnam/vn_infoloc...44/CT

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)