Xin mời ủng hộ VNmilitaryhistory trên Facebook. Đa tạ

 

 

Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa

vietnam, việt nam, cờ việt nam

Là Chiến-Sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa,

Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

Điều 5: Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

Điều 6: Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

---------------

Quân Đoàn III Quân Khu III

quân sử việt nam, quân đoàn 3 quân khu 3

Sư Đoàn 25 Bộ Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 

quân sử việt nam, sư đoàn 25 bộ binh quân lực việt nam cộng hòa

Trận An-Lộc

bản đồ quân sự quân sự quân đoàn 3 quân khu 3, map of military of 3 corps

4/1972 - Thị xã An Lộc, tỉnh lỵ của tỉnh Bình Long, nằm trong phạm vi xã Tân Lập Phú, rộng chừng 740 cây số vuông chung quanh bao bọc bởi những ngọn đồi chiến lược như đồi 169, đồi Gió và đồi Đồng Long. Năm 1972, dân số trong thị xã chừng 44.000 người. Quốc lộ 13 từ cầu Bình Lợi, chạy suốt tỉnh Bình Dương, ngang thị xã An Lộc, tới thị trấn Lộc Ninh và biên giới Cam Bốt ở Sóc Pénang. Từ đây còn đường phân làm hai ngã, một là quốc lộ 13 tiếp tục vượt biên giới, chạy tới Kampong Cham và tỉnh Kratié. Nhánh thứ hai mang tên quốc lộ 14, chạy song song với biên giới Miên Việt, đi Bố Đức, Bù Gia Mập (Phước Long), Đức Lập (Quảng Đức). Tại Chơn Thành, quốc lộ 13 cũng phân nhánh, thành liên tỉnh lộ 13 và quốc lộ 14B, chạy qua các quận Đôn Luân, Đức Phong (Phước Long), tới Kiến Đức, tỉnh lỵ Gia Nghĩa (Quảng Đức) (See map).

Từ sáng sớm ngày 5 tháng 4/1972, ba Trung đoàn 174, 275 và E6 thuộc Sư đoàn 5 CSBV, vượt biên giới tấn công quận lỵ Lộc Ninh do các đơn vị QLVNCH trấn giữ, gồm Chiến đoàn 9 (TRD 9 BB, TD 1 KB, TD 74 BDQ Biên phòng) và lực lượng Địa phương quân-Nghĩa quân. Trong khi trận chiến xảy ra vô cùng ác liệt, thì đồng loạt ba Sư đoàn 7, 9 và Bình Long, từ nhiều phía uy hiếp thị xã An Lộc, lúc đó chỉ có TRD 8 BB của SD 5 BB trấn giữ. Sư đoàn 9 CSBV đánh mặt tây, Công trường Bình Long tấn công hướng đông bắc, còn Sư đoàn 7 thì đóng chốt ngăn chận quân tiếp viện trên quốc lộ 13, con đường duy nhất từ Sài Gòn, Bình Dương, Lai Khê tới An Lộc và Lộc Ninh. Trung tướng Nguyễn văn Minh, Tư lệnh QD 3, cho trực thăng vận ngay Bộ Tư lệnh SD 5 BB của Đại tá Lê Văn Hưng và LD 3 BDQ gồm TD 31 BDQ, TD 36 BDQ và TD 52 BDQ vào An Lộc. Ngoài ra, trong cuộc họp ngày 5 tháng 4/1972 tại Dinh Độc Lập, Tướng Minh đã yêu cầu được thêm quân tăng viện để phòng thủ An Lộc. Tổng thống Thiệu đồng ý cho một sư đoàn từ Quân khu 4 và Thiếu tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh QĐ 4, đã đề nghị SĐ 21 BB của Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

Sau ba ngày giao tranh đẫm máu chiếm được Lộc Ninh, Sư đoàn 5 CSBV bắt đầu di chuyển về phía nam, tấn công An Lộc. Hai Chiến đoàn 9 và 52 được lệnh rút về tử thủ An Lộc. Bộ Tư lệnh SD 5 BB của Đại tá Lê Văn Hưng, ngay ngày đầu cuộc chiến khi Cộng quân tấn công Lộc Ninh, cũng đã từ Lai Khê vào An Lộc. Riêng Bộ Tư lệnh Tiền phương QD 3, từ Biên Hòa cũng được di chuyển lên Lai Khê, chỉ huy trực tiếp cánh quân bảo vệ thị xã An Lộc và cánh quân giải tỏa quốc lộ 13 từ Lai Khê, tới Chơn Thành và An Lộc.

Ngày 7 tháng 4/1972, Lữ đoàn 1 Nhảy dù gồm TD 5 ND, TD 6 ND, TD 8 ND và TD 3 PB/ND được lệnh di chuyển từ Lai Khê đến Chơn Thành. Từ đấy LD 1 ND sẽ mở một cuộc hành quân tiến về phía bắc để khai thông quốc lộ 13 dẫn đến An Lộc. Nhưng khi đơn vị tiền quân của Nhảy dù tiến qua khỏi bắc Chơn Thành khoảng 6km, cách An Lộc 15km thì bị một trung đoàn của Sư đoàn 7 CSBV chận lại bằng những chốt kiền trên khu vực Suối Tàu Ô. Cộng quân tìm mọi cách để chế ngự con đường tiếp tế huyết mạch này nhằm cắt đứt mọi viện binh từ phía nam vào An Lộc.

4/1972 - Đêm ngày 7 tháng 4/1972, phi đạo Quản Lợi, 3km về phía đông thị xã An Lộc, đã bị pháo và bộ binh CSBV tấn công. Quản Lợi bị rơi vào tay địch khiến An Lộc gần như bị cô lập hoàn toàn bằng đường không và đường bộ. Từ phi đạo Quản Lợi nằm trên một thế đất cao, Cộng quân đã xử dụng vị trí này để pháo vào thị xã một cách chính xác. Mọi phi vụ tiếp tế đều bằng trực thăng hay thả dù từ C-123 ở cao độ thấp. Ngày 12 tháng 4, một trực thăng Chinook CH-47 bị phòng không địch bắn rơi nên việc tiếp tế bằng trực thăng phải chấm dứt. Ngày 19 tháng 4, một C-123 cũng bị bắn hạ.

Ngày 13 tháng 4/1972, những đợt pháo dữ dội của CSBV bắt đầu đổ lên An Lộc. Khi vừa vầng đông, những đơn vị phòng thủ ở hưóng bắc và tây bắc báo cáo đã thấy những đoàn xe tăng Cộng quân tiến vào thị xã. Vào lúc 6 giờ sáng, trận tấn công thứ nhất do hai TRD 271 và 272 thuộc Sư đoàn 9 CSBV đã diễn ra ở phòng tuyến phía tây của TRD 7 BB. Những đơn vị phòng thủ đã chống trả mãnh liệt với các đợt yểm trợ của Không quân và pháo đài bay B-52. Bất chấp thương vong cao, ngày 14 tháng 4/1972, từ sáng sớm sau những cuộc pháo kích mở đầu, Cộng quân tiếp tục tấn công. Do không có kinh nghiệm về việc phối hợp tác chiến giữa bộ binh và thiết giáp, nên xe tăng địch chạy xuyên qua tuyến phòng thủ của ta mà không hề có bất cứ một sự yểm trợ hay bảo vệ nào của bộ binh. Vì thế nhiều xe tăng đã trở thành mục tiêu cho quân ta đua nhau bắn hạ. Mọi nỗ lực tấn công trong ngày của Cộng quân đều chuốc lấy thất bại.

Trong hai ngày chiến đấu, tinh thần chiến đấu của các đơn vị QLVNCH vẫn ở một mức độ cao đáng chú ý. Tất cả đều hiểu rõ một điều: Họ chẳng còn một sự lựa chọn nào hơn là cố thủ hay là bị tiêu diệt. Và họ cũng quyết tâm giữ lấy thị xã An Lộc này. Có một điều ít ai ngờ được, là trong trận chiến tại An Lộc không một đơn vị QLVNCH nào có chiến xa và pháo binh, vì toàn bộ chiến xa của TD 1 KB và các khẩu đội 105 của TD 52 PB đã bị phá hủy trước đó. Tại các mặt trận, binh sĩ VNCH không có súng chống xe tăng nên đã tự động dùng súng M-72 hay XM-202 (súng phóng lựu bốn nòng) kể cả các loại súng phóng lựu B-40, B-41 tịch thu được của CSBV, nhờ đó đã bắn cháy rất nhiều xe tăng của địch.

LĐ 1 ND sau khi rút khỏi khu vực Suối Tàu Ô, nhanh chóng được bổ sung và trực thăng vận vào đồi 169 và đồi Gió khoảng 3km ở phía đông nam An Lộc trong hai ngày 13 và 14 tháng 4. Sự hiện diện của các đơn vị Nhảy dù ở những vùng lân cận bị cô lập bên ngoài thị xã đã có một tác dụng hết sức mạnh mẽ đối với lực lượng phòng thủ và dân chúng địa phương. Niềm tin của họ càng được tăng lên khi nghe tin SD 21 BB đã tiến vào khu vực Suối Tàu Ô và đang tiến về phía bắc để giải tỏa cho thị xã.

4/1972 - Mặt trận An Lộc tạm lắng dịu trong ngày 16 tháng 4/1972 sau ba ngày lâm chiến khi Cộng quân đã mất 23 xe tăng T-54 và T-59. Tuy nhiên phân nửa An Lộc ở phía bắc vẫn còn nằm trong tay địch. Nỗ lực chiếm An Lộc đã không thành, Cộng quân phải sửa đổi lại kế hoạch. Chúng quyết định mở một mặt trận thứ hai tấn công vào LD 1 ND ở đồi 169 và đồi Gió. Nỗ lực này được giao cho TRD 275 thuộc Sư đoàn 5 CSBV và TRD 141 của Sư đoàn 7 CSBV. Trách nhiệm chính tấn công vào An Lộc vẫn là Sư đoàn 9 CSBV. Để giảm thiểu hiệu quả của những đợt không kích, Cộng quân đã cho kéo súng phòng không đến gần vòng đai phòng thủ.

Sáng sớm ngày 19 tháng 4/1972, CSBV bắt đầu pháo kích bằng đại pháo 130 ly và hỏa tiễn vào thị xã. Hai TRD 275 và 141 mở cuộc tấn công dữ dội vào LD 1 ND. Bộ Chỉ huy Lữ đoàn và TD 6 ND ở đồi 169 đã bắt buộc phá hủy hai khẩu pháo 105 ly và rút lui về Chơn Thành bỏ những cao điểm về phía đông nam An Lộc. Nhưng mũi tấn công chính của Cộng quân vào An Lộc một lần nữa bị thất bại, những đơn vị của Sư đoàn 9 CSBV đã không thể nào tiến quân qua những vị trí cố thủ của QLVNCH ở phân nửa thị xã ở phía nam.

Vào ngày 23 tháng 4/1972, tình hình chiến sự có một sự thay đổi, đó là tuyến phòng thủ bây giờ được Liên đoàn 81 Biệt kích Dù đến tăng cường. Đây là một đơn vị ưu tú với lối tác chiến đặc biệt và đa dạng, nhất là trong thành phố. Đơn vị này được trực thăng vận đến góc đông nam của thị xã, rồi từ đó di chuyển bộ và được giao cho phần tuyến đầu ở phía bắc. Sự khai triển của LĐ 81 BKD ở phía bắc và LĐ 1 ND ở phía nam làm cho sự phòng thủ của thị xã được vững mạnh hơn.

quân sử việt nam, trận an lộc tháng 04-1972

Ngày 25 tháng 4/1972, bệnh viện thị xã bị pháo sập và một số thương binh cũng như dân sự bị chết. Sự tải thương vào lúc này cũng khó mà thực hiện được vì địch gia tăng hỏa lực phòng không. Cả một thị xã đều đổ nát và đầy xác người, hầu hết không được chôn cất trong những ngày qua. Để tránh bịnh dịch có thể xảy ra, binh sĩ VNCH phải chôn xác người trong những nấm mộ chung. Tiếp tế cũng sắp cạn, những nhu cầu cấp thiết là thực phẩm, đạn dược và thuốc men. Những phi vụ tiếp tế cho thị xã càng trở nên khó khăn vì hỏa lực phòng không của địch. Trong suốt 68 ngày tại hỏa ngục An Lộc, hứng chịu 200.000 trái đạn pháo kích đủ loại của CSBV, dân chúng An Lộc hầu hết bị kẹt lại, không thể di tản được vì đường bộ đã bị chận. Dân cũng như lính bị thương, đều không được cứu chữa vì không thể nào tải thương được ngay cả bằng máy bay do mạng lưới phòng không dày đặc của giặc Cộng. Bắt đầu ngày 20 tháng 4, mọi phi vụ tiếp tế đều do C-130 đảm nhiệm bằng cách thả dù. Khu vực thả dù là sân banh thị xã, ở phía nam, tương đối an ninh.

Phần lớn những kiện hàng tiếp tế rơi ra ngoài sân banh vào trong khu vực địch. Phi hành đoàn phải bay thả những kiện hàng ở cao độ thấp với tốc độ chậm nên rất dễ bị thiệt hại do vũ khí phòng không. Sau khi một phi cơ thứ ba bị bắn hạ thì tất cả những chuyến thả dù đều bị tạm ngưng vào ngày 4 tháng 5. Theo yêu cầu của Trung tâm Chỉ huy Tiếp vận của quân đội Hoa Kỳ, hai toán chuyên viên từ Okinawa đến để hướng dẫn và huấn luyện cho nhân viên thả dù. Kết quả được cải tiến trông thấy. Sau đó những cuộc tiếp tế thả dù cho An Lộc được tái lập.

5/1972 - Trong thời điểm này, Tổng Cục Chiến tranh Chính trị đã phát động một chương trình nhân dân yểm trợ cho những chiến sĩ đang bảo vệ An Lộc. Đây không phải là một cuộc tái tiếp tế cho thị xã bị bao vây, mà là những phần quà đặc biệt gói trọn tấm lòng biết ơn của người dân Sài Gòn. Những gói quà này nhiều khi bao gồm những thức ăn ngon như rau tươi, thịt nướng và những lá thư đầy lòng biết ơn của những em nữ sinh. Hành động đoàn kết này đã có một tác động thật tuyệt vời đến tinh thần chiến đấu của những người lính đang quyết tâm bảo vệ thị xã bị bao vây.

Vấn đề thực phẩm trở nên nghiêm trọng vì dân chúng còn kẹt lại trong thị xã cũng phải được tiếp tế lương thực và thuốc men. Hầu hết dân chúng bị Cộng quân ngăn cản không cho rời thị xã sau khi biết Quân đội VNCH sẽ gặp khó khăn nếu phải đảm đương thêm công việc tiếp tế cho người dân ở đây. CSBV bắt những người còn khỏe mạnh cả đàn ông lẫn phụ nữ đưa vào những đội vận chuyển tiếp tế, còn những người già cả và trẻ em thì bị bỏ mặc cho số phận. Họ bị bỏ đói, lang thang vô định làm mồi cho bom đạn. Nhưng rồi mọi người cũng tìm cách dắt díu nhau qua những vùng nguy hiểm tìm về với người lính Quốc gia đang tìm đến giải vây cho họ.Lúc đó thì vấn đề thâu lượm và phân phối lại gặp khó khăn. Ban đầu vì không có sự phối hợp và kiểm soát, nên thường thường những đơn vị ở gần bãi thả được điều động đến để thâu lượm những đồ tiếp tế. Để giải quyết vấn đề này, Tư lệnh SD 5 BB đã chỉ định Đại tá Lê Quang Lưỡng, Lữ đoàn trưởng LD 1 ND, lo việc thâu lượm và phân phối cho các đơn vị. Khi tiếp tế thả dù bắt đầu thì Cộng quân cũng bắt đầu pháo kích tập trung vào bãi thả làm chậm đi thời gian thâu lượm. Thực phẩm và thuốc men lượm được phân phối đều cho các đơn vị và cũng được chia cho dân chúng địa phương. Những đơn vị quân đội đều nhận được sự thương mến và kính nể từ những người dân ở thị xã này.

Ngày 1 tháng 5/1972, Bộ Chỉ huy Sư đoàn 5 CSBV dời về phía nam lên ngọn đồi 169 chuẩn bị cho cuộc tấn công thứ ba vào An Lộc. Những ngày sau đó, hai Trung đoàn E6 và 141 của Sư đoàn 7 CSBV cũng rời khỏi vị trí ở Suối Tàu Ô di chuyển ngược về hướng bắc đến đóng chốt tại phía nam và tây nam của thị xã. Những đơn vị còn lại của Sư đoàn 9 CSBV vẫn tiếp tục đóng chốt ở phía đông bắc. Đối diện với 7 trung đoàn địch bao quanh, quân phòng thủ VNCH chỉ có không quá 4.000 tay súng trong đó gần 1.000 thương binh mà không được tải thương.

quân sử việt nam, chiến trường an lộc 1972, an loc battle

Ngày 9 tháng 5/1972, bộ binh và pháo binh CSBV tấn công dồn dập vào thị xã An Lộc. Hai giờ sau áp lực bộ binh có giảm nhưng pháo địch vẫn nặng nề đổ xuống. Ngày hôm sau chiến thuật cũ lại tái diễn. Sáng sớm ngày 11 tháng 5/1972, sau nhiều giờ nã pháo vào thị xã, bộ binh địch bắt đầu mở cuộc tấn công từ mọi phía. Cuộc tấn công mở ra thật dữ dội. Địch đã xử dụng nhiều hỏa tiễn SA-7 để bắn hạ các trực thăng võ trang và những phi vụ yểm trợ cận phòng của ta. Chúng cũng đã biết phối hợp giữa bộ binh và thiết giáp. Nhưng lần này những người lính VNCH đã biết phá hủy tăng địch một cách có hệ thống với những hỏa tiển cầm tay M-72 mà bây giờ họ rất tin cậy.

Ở khu vực phía tây và đông bắc, lực lượng địch đã đánh xuyên qua hàng rào phòng thủ của ta. Chúng tiếp tục đẩy mạnh tăng và bộ binh vào khu vực trung tâm thị xã để bao vây và chia cắt lực lượng VNCH ra từng mảnh nhỏ. Đại tá Lê Văn Hưng, Tư lệnh SĐ 5 BB, đã phản ứng một cách bình tĩnh và nhanh nhẹn. Ông gởi ngay một tiểu đoàn Nhảy dù đang ở phía nam băng qua những khu vực nguy hiểm đến trám ngay khu vực bị xâm nhập. Trước phòng tuyến vững chắc của binh sĩ Nhảy dù, địch không thể tiến thêm một bước.

5/1972 - Không quân VNCH và những phi vụ yểm trợ chiến thuật của Hoa Kỳ đã hoạt động ngay từ lúc cuộc tấn công của địch bắt đầu. Hiệu quả những đợt không kích thật rõ ràng, không những giúp cho đơn vị bạn giữ được vị trí mà gây cho địch nhiều thương vong nặng nề bắt chúng phải rời bỏ vị trí trong tình trạng hoảng loạn. Chỉ trong một ngày gần 300 phi vụ yểm trợ chiến thuật được xử dụng để yểm trợ cho An Lộc.

Chiều hướng của trận chiến đã nghiêng hẳn về phía QLVNCH khi những pháo đài bay B-52 bắt đầu nhập trận, đúng vào lúc Cộng quân xua toàn bộ lực lượng bộ binh và thiết giáp của chúng vào cuộc tấn công. Đến trưa cuộc tấn công của Cộng quân đã hoàn toàn bị bẻ gãy. Tất cả kinh hoàng bỏ chạy, nhiều đơn vị xe tăng CSBV bị những đợt B-52 đánh ngay đội hình. Trong khu vực phía đông bắc, toàn bộ một trung đoàn CSBV bị LD 81 BKD tiêu diệt.

Ngày 12 tháng 5/1972, địch lại cố vùng lên, nhưng lần này lực lượng tấn công của chúng què quặt và yếu đuối thấy rõ. Vài chiếc xe tăng ngập ngừng từ xa, bắn một vài phát súng vào những mục tiêu không rõ ràng. Mặc dầu thời tiết xấu, những phi vụ yểm trợ chiến thuật và những đợt trải thảm của B-52 vẫn tiếp tục không cho địch tìm lại thế quân bình chung quanh thị xã. Sáng ngày 14 tháng 5, chiến xa và bộ binh CSBV lại mở cuộc tấn công từ phía tây và tây nam. Cuộc tấn công bị bẻ gãy ngay bởi các pháo đài bay B-52. Lợi dụng tình hình suy sụp của đối phương, quân phòng thủ VNCH được lệnh mở lại cuộc phản công và chiếm lại hầu hết những phần đất ở phía bắc. Bấy giờ hầu hết lực lượng CSBV đã rút lui và để lại một vài toán nhỏ ở những vị trí ngăn chận ở phía tây và phía bắc. Trong những ngày sau đó, các đơn vị địch dần dần rút ra khỏi An Lộc và những đợt pháo kích cũng giảm dần. Những đơn vị CSBV ở phía nam cũng lui dần và SD 21 BB cũng đang tiến dần về phía bắc. Cộng quân không còn đủ khả năng để thực hiện những điều mà chúng đã huênh hoang tuyên bố.

Nhắc lại, ngày 12 tháng 4/1972, sau khi An Lộc bị tấn công lần thứ nhất, Bộ Tư lệnh SD 21 BB đã được điều động đến Lai Khê cạnh Bộ Tư lệnh Tiền phương QD 3. Nhiệm vụ đầu tiên của SD 21 BB là bảo vệ an ninh cho quốc lộ 13 từ Lai Khê đến Chơn Thành, một quận lỵ ở cách An Lộc khoảng 30km về phía nam. TRD 32 BB là đơn vị đầu tiên được chuyển vận đến Chơn Thành từ ngày hôm trước. Ngày 22 tháng 4, trên đường tiến quân khoảng 15km về phía bắc Lai Khê, đơn vị đã bị chận bởi các chốt của TRD 101 biệt lập. Từ ngày 24 đến ngày 29 tháng 4, hai mũi tiến công do TRD 32 BB về hướng bắc và TRD 33 BB từ phía nam đẩy lên bắt buộc Cộng quân phải rút về hướng tây, sau khi bị thiệt hại nặng nề, phải để lại một tiểu đoàn chận hậu. Tiểu đoàn này hai ngày sau đó cũng đã bị đánh bật ra khỏi vị trí.

Sau khi quét sạch con đường dẫn đến Chơn Thành, SD 21 BB mở cuộc hành quân tiến về phía bắc. TRD 31 BB được trực thăng vận đến 6km phía bắc Chơn Thành. Tại đây đơn vị đã chạm súng dữ dội với TRD 165 thuộc Sư đoàn 7 CSBV. Trong suốt 13 ngày, địch quân đã hứng chịu tổn thất nặng do những phi vụ của Không quân VNCH và pháo đài bay B-52. Ngày 13 tháng 5/1972, TRD 31 BB đã đánh tan hai vị trí sau cùng của địch, kiểm soát được quốc lộ 13 từ điểm 8km về phía bắc Chơn Thành. Ở khu vực Suối Tàu Ô của TRD 32 BB, những trận đánh ở đây diễn ra gay go và lâu dài hơn. Địch đã tăng cường TRD 209 đến cố thủ tại những vị trí chốt và đã cầm chân được TRD 32 BB trong suốt 38 ngày liên tục. Sự bế tắc này kéo dài cho đến khi TR 209 rút đi để tham dự cuộc tấn công vào An Lộc lần thứ hai. Tuy thất bại không thể nhổ chốt địch ra khỏi khu vực Suối Tàu Ô, nhưng TRĐ 32 BB ít nhất đã cầm chân được hai trung đoàn địch ở đây.

quân sử việt nam, chiến xa m 41, thiết giáp kỵ binh việt nam

5/1972 - Một nhu cầu khẩn cấp cho chiến trường An Lộc và cho cả SD 21 BB là cung cấp yểm trợ pháo binh. Để thực hiện điều này Quân đoàn 3 đã quyết định thành lập một căn cứ hỏa lực ở Tân Khai nằm ngay trên quốc lộ 13, khoảng 10km phía nam An Lộc và 4km phía bắc Suối Tàu Ô. Tại đây, Bộ Tư lệnh QĐ 3 đã sử dụng Chiến đoàn 15 gồm TRĐ 15 BB của S 9 BB, một chi đoàn M-113 của T 2 KB và TĐ 9 KB từ vùng châu thổ sông Cửu Long.

Ngày 15 tháng 5/1972, một tiểu đoàn thuộc CD 15 đã mở một cuộc hành quân về phía bắc tiến qua phía đông của quốc lộ 13 và vòng qua những vị trí của địch. Đồng thời Bộ Chỉ huy Chiến đoàn và một tiểu đoàn khác đã được trực thăng vận vào Tân Khai. Trong ngày kế tiếp căn cứ đã được thiết lập và sẳn sàng yểm trợ hỏa lực cho quân bạn và làm nhẹ bớt áp lực của địch vào An Lộc. Sự tiến quân mới từ phía nam này đã lôi kéo sự chú ý của địch. Trong khi đó nỗ lực chính tấn công vào An Lộc của CSBV đã bị thảm bại. Để yểm trợ cho lực lượng Cộng quân ở phía nam, ngày 20 tháng 5/1972, TRD 141 thuộc Sư đoàn 7 CSBV mở một cuộc tấn công vào căn cứ hỏa lực Tân Khai. Cuộc tấn công này kéo dài ba ngày, nhưng cũng như các cuộc tấn công sau đó trong suốt tháng 6, tất cả đều đã bị đẩy lui.

Trận tổng tấn công sau cùng bắt CSBV phải trả bằng một cái giá quá đắt. Cả ba Sư đoàn 5, 7 và 9 CSBV đều bị thiệt hại rất nặng về nhân mạng, ước tính khoảng 10.000 người. Toàn bộ thiết giáp của chúng tung vào cuộc chiến đã hoàn toàn bị phá hủy. Bốn mươi chiếc tăng đủ các loại phơi mình rải rác trên bãi chiến chung quanh thị xã. An Lộc đã đứng vững với một lực lượng khá chênh lệch. Chiến thắng này đã nói lên được sự kiên trì chịu đựng của những người lính bộ binh QLVNCH và sự tinh nhuệ của những đơn vị tổng trừ bị. Cũng đáng tuyên dương ở đây sự chiến đấu đầy hiệu quả của những người lính DPQ-NQ kể cả thành phần Nhân dân Tự vệ dưới sự lãnh đạo của Đại tá Trần Văn Nhựt, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Long.

Ngày 4 tháng 6/1972, khi TD 6 ND bắt tay được với TD 8 ND trong An Lộc, quốc lộ 13 được giải tỏa. Cũng từ lúc đó, quân trang quân dụng được tiếp tế, thương binh và thường dân được di tản. Lợi dụng tình trạng này, những người lính VNCH, mặc dầu rất mệt mỏi, căng thẳng trong suốt thời gian qua đã vùng lên mở cuộc phản công. Đến ngày 8 tháng 6/1972 thì TRD 8 BB đã loại ra tất cả những ổ kháng cự của Cộng quân trong khu vực trách nhiệm. Và sau đó TRD 7 BB cũng đã hoàn thành công việc tương tự trong khu vực trách nhiệm của họ ở phía tây.

Sau khi TD 36 BDQ đã cắm cờ tại trại gia binh pháo binh và kế đó, TD 52 BDQ đánh lên mặt tây bắc, chế ngự một cao điểm sát đồi Đồng Long để yểm trợ cho LD 81 BKD tái chiếm đồi Đồng Long, là nơi CSBV đặt pháo binh bắn vào An Lộc từ mấy tháng qua, ngày 12 tháng 6/1972, Đại tá Lê Văn Hưng tuyên bố An Lộc được giải tỏa hoàn toàn.

6/1972 - Tình hình ở An Lộc tiếp tục được cải thiện sau đó. Ngày 13 tháng 6/1972, Quân đoàn 3 đưa hai trung đoàn thuộc SD 18 BB đến hoán đổi cho SD 5 BB đã mệt mỏi, cần dưỡng quân và bổ sung quân số. Ngày 17 tháng 6/1972, TRD 48 thuộc SD 18 BB đã tái chiếm đồi 169. Từ cao điểm này những quan sát viên điều không có thể hướng dẫn những phi vụ oanh tạc đánh vào những điểm địch đang tập trung hay những vị trí pháo binh của địch. Đây là lần đầu tiên từ nhiều tuần qua, những người lính VNCH được dịp dạo quanh những vị trí phòng thủ của họ, nhìn lại những chiếc xe tăng địch bị chính họ phá hủy, những chứng tích thật rõ ràng nói lên thành tích chiến đấu của họ. Ngày 18 tháng 6/1972, LD 1 ND và LD 81 BKD rời An Lộc về đơn vị gốc.
Ngày 7 tháng 7/1972, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã mở một cuộc viếng thăm An Lộc không báo trước. Tất cả những người lính tử thủ An Lộc đều được đặc cách thăng lên một cấp.

Từ ngày 12 tháng 7/1972, toàn bộ SD 18 BB của Đại tá Lê Minh Đảo cùng LD 5 BDQ của Trung tá Ngô Minh Hồng tăng phái, sau khi đã thanh toán xong các mặt trận ở Chà Rầy-Trung Lập (Củ Chi)-Dầu Tiếng (Bình Dương) và Đất Đỏ (Phước Tuy), được lệnh vào An Lộc, nhận lãnh trách nhiệm bao vùng toàn tỉnh Bình Long. SD 25 BB cũng thay cho SD 21 BB, tiếp tục nhiệm vụ tảo trừ địch ra khỏi khu vực Suối Tàu Ô. Cùng lúc các đơn vị tăng phái như SD 21 BB và TRD 15 BB cũng được trả về Quân đoàn 4.

Tuy tuyên bố là An Lộc đã được giải tỏa nhưng quốc lộ 13 vẫn còn bị Cộng quân chốt kín nhiều nơi, mà nguy hiểm nhất là đoạn đường từ Chơn Thành tới Tàu Ô. Nhiều cao điểm chiến lược trên đồi 169 và đồi Gió vẫn nằm trong tay Cộng quân, nên ngày nào An Lộc cũng bị pháo hằng trăm trái.

Để giải quyết, Đại tá Đảo quyết định để TRD 52 BB và LD 5 BDQ giữ An Lộc và giao cho TRD 48 BB của Trung tá Trần Bá Thành, tái chiếm những phần đất còn do Cộng quân chiếm giữ. Hai tuần sau đó TD 1/48 BB và DD 48 TS đã làm chủ hoàn toàn đồi 169 và đồi Gió.
Riêng TRD 43 BB của Trung tá Lê Xuân Hiếu, từ khi vào An Lộc cũng chịu rất nhiều tổn thất vì đạn pháo kích và những cuộc giao tranh trên quốc lộ 13. Tại ấp Xa Cam phía nam An Lộc, TD 2/43 BB bị một lực lượng đông đảo của Sư đoàn 7 CSBV tấn công. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Thoại bị tử thương, Tiểu đoàn phó là Đại úy Nguyễn Hửu Chế thay thế. Sau đó, TĐ 2/43 BB và TD 3/43 BB, cùng LD 5 BDQ, được giao phó trách nhiệm tái chiếm phi trường Quản Lợi.

Phi trường Quản Lợi trước đây là căn cứ đóng quân của Sư đoàn 1 Không kỵ Hoa Kỳ, nên được xây cất rất kiên cố do đó các Trung đoàn 43, 52 BB và LD 5 BDQ phải thay nhau tấn công với tổn thất rất cao nhưng cũng chỉ chiếm được một phần phi trường. Cuối cùng với sự trợ giúp của các phi cơ Không quân chiến thuật, với bom phá công sự và hỏa tiển TOW cuộc hành quân tái chiếm Quản Lợi chấm dứt ngày 4 tháng 9/1972, sau khi đã đánh đổi bằng nhiều sinh mạng, mà nhiều nhất là của TD 30 BDQ và TD 2/43 BB. Sau đó, Trung đoàn 43 lại tiếp tục hành quân nhổ các chốt còn lại, trên đoạn đường từ Quản Lợi về An Lộc. Ngày 23 tháng 9/1972 bắt đầu giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến khi TRD 48 BB hành quân tảo thanh toàn bộ khu vực đồn điền Quản Lợi, mở rộng vòng đai an ninh cho thị xã.

Ngày 29 tháng 11/1972, trách nhiệm trấn thủ An Lộc được giao lại cho Biệt động quân QK 3 của Đại Tá Nguyễn Thành Chuẩn (LĐ 3 BĐQ, LĐ 5 BĐQ và LĐ 6 BĐQ).

***

An Lộc
● Chuẩn tướng Trương Hữu Đức
Tử trận khi đang ngồi trực thăng quan sát chỉ huy TD 5 KB trên đường đến An Lộc (4/1972), dọc theo quốc lộ 13, vùng Suối Tàu Ô, quận Chơn Thành
● Thiếu tá Nguyễn Thế Luân
Hy sinh trong phi vụ tiếp tế cho An Lộc (4/1972)
● Trung tá Huỳnh Thanh Điền
Tử thương trên đường triệt thoái khỏi căn cứ Hùng Tâm (cầu Cần Lê, liên tỉnh lộ 17) về An Lộc (4/1972)
● Đại tá Lý Đức Quân
Thăng cấp Đại tá sau trận An Lộc (4/1972)
● Chuẩn tướng Lê Văn Hưng
Tư lệnh Mặt trận An Lộc đã cố thủ giữ vững An Lộc trong hơn hai tháng kể từ ngày 4 tháng 4/1972
● Trung úy Đỗ Mạnh Trường
Bị thương nặng tại thị xã An Lộc, Bình Long (16/4/1972)
● Trung úy Nguyễn Ngọc Tỉnh
Tử trận tại thị xã An Lộc, Bình Long (16/4/1972)
● Trung tá Phạm Kim Bằng
Thiếu tá Tiểu đoàn phó TD 6 ND, nickname “Bùi Đăng” do bị hư một mắt tại cứ điểm đồi Gió, An Lộc (19/4/1972)
● Chuẩn tướng Hồ Trung Hậu
Chỉ huy lực lượng giải tỏa quốc lộ 13 từ Lai Khê đến Chơn Thành, An Lộc (5/1972)
● Thiếu tá Nguyễn Văn Thoại
Tử trận khi giải tỏa An Lộc (5/1972)
● Trung úy Lê Văn Hiếu
Tử trận An Lộc, Bình Long (19/5/1972)
● Đại úy Đào Lâm Tòng
Vinh thăng đặc cách đại úy trong trận giải tỏa đồi 100, đông bắc An Lộc, sau khi cắm hiệu kỳ TD 3/8 BB trên đồi này (6/1972)
● Đại tá Phan Văn Huấn
Vinh thăng Ðại tá tại mặt trận An Lộc (6/1972)
● Trung tá Nguyễn Văn Nghi
Thăng Trung tá sau trận giải tỏa An Lộc (6/1972)
● Trung tá Nguyễn Viết Cần
Tử trận khi chỉ huy TRD 33 BB giải vây An Lộc (29/6/1972)
● CD 1/2 KB
Tăng phái cho lực lượng giải tỏa An Lộc (5/1972)
● DD 62 ND
Yểm trợ căn cứ hoả lực Pháo binh Nhảy dù trên đỉnh đồi Gió, đông nam thành phố An Lộc (4/1972)
● LD 3 ND
Giải tỏa An Lộc (5/1972)
● LD 31 BDQ
Sau khi tham dự mặt trận An Lộc, ở lại trấn giữ Bình Long (1/1973)
● LD 32 BDQ
Trách nhiệm bảo vệ An Lộc, tỉnh Bình Long (1/1973)
● PD 237
Tham dự trận An Lộc (4/1972)
● TD 3 ND
Tăng phái cho SD 21 BB để giải tỏa quốc lộ 13 từ Suối Tàu Ô tới An Lộc (4/1972)
● TD 3/8 BB
Giải tỏa đồi 100, đông bắc An Lộc (6/1972)
● TD 5 KB
Thuộc quyền điều động của SD 18 BB tham dự giải tỏa thị xã An Lộc, quận Chơn Thành (6/1972)
● TD 51 BDQ
Cuối tháng 11/1972, khi toàn bộ LD 6 BDQ được không vận vào An Lộc, Bình Long, Tiểu đoàn 51 BDQ được giao trách nhiệm phòng thủ đồi Gió
● TD 92 BDQ
Sau khi đẩy lui nhiều đợt tấn công của Cộng quân rút về An Lộc (15/4/1974)

 

 

Nguồn: MekongRepublic

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)