Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai

Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa - Quân sử sư đoàn 7 bộ binh

vietnam, việt nam, cờ việt nam

quan su viet nam, sư đoàn 7 bộ binh

Là Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa,

Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

Điều 5: Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

Điều 6: Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

***

Vương Hồng Anh 

Được thành lập ngày 1 tháng 1/1955 với danh hiệu đầu tiên là Sư đoàn bộ binh số 31. Đến tháng 8/1955, theo nghị định số 612 QP, sư đoàn được cải danh thành sư đoàn dã chiến số 11. Tới tháng 10/1955, bộ Tổng tham mưu ban hành Sự vụ văn thư số 3975/TTM/1/1/SC, cải danh các sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn chủ lực theo một phương pháp thống nhất: các sư đoàn dã chiến đánh số từ 1 đến 4, các sư đoàn khinh chiến đánh số từ 11 đến 16. Theo Sự vụ văn thư nói trên, Sư đoàn Dã chiến số 11 được cải danh thành Sư đoàn dã chiến số 4. Danh hiệu các trung đoàn và tiểu đoàn cũng được đổi lại như sau: Trung đoàn Bộ binh số 51 với các tiểu đoàn 16, 50, 719 được cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 10 với các tiểu đoàn: 1/10, 2/10, 3/10. Trung đoàn Bộ binh số 52 với các tiểu đoàn 54, 704, 713 được cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 11 với 3 tiểu đoàn: 1/11, 2/11, 3/11. Trung đoàn Bộ binh số 53 gồm 3 tiểu đoàn 22, 58, 76 được cải danh thành trung đoàn Bộ binh số 12 với các tiểu đoàn 1/12, 2/12, 3/12.

Cuối năm 1958, trong chiều hướng cải tổ các đại đơn vị, 10 sư đoàn rút xuống còn 7 sư đoàn, và lại được cải danh thành bảy sư đoàn Bộ binh giống nhau, không còn gọi là sư đoàn dã chiến hay khinh chiến nữa. Trong kế hoạch cải tổ này, Sư đoàn dã chiến số 4 được cải danh thành Sư đoàn 7 Bộ binh, các trung đoàn Bộ binh số 10, số 11, số 12 được cải thành trung đoàn 10, 11, 12 Bộ binh. Về hệ thống chỉ huy, kể từ tháng 4/1961, theo sắc lệnh số 98/QP ngày 13 tháng 4/1961, Sư đoàn 7 Bộ binh là 1 trong 3 sư đoàn cơ hữu của Quân đoàn 3/Vùng 3 chiến thuật (thời gian này chưa có Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật), lãnh thổ hoạt động của Sư đoàn là các tỉnh Tiền Giang, vị tư lệnh Sư đoàn 7 đồng thời là tư lệnh Khu chiến thuật Tiền Giang. Đến đầu tháng 12/1962, bộ Quốc phòng VNCH cho thành lập thêm Quân đoàn 4/Vùng 4 chiến thuật, Sư đoàn 7 Bộ binh trở thành Sư đoàn cơ hữu của Quân đoàn tân lập này. Từ ngày thành lập cho đến 30 tháng 4/1975, Sư đoàn 7 Bộ binh đã lập nhiều chiến tích trong các cuộc hành quân quy mô trong khu vực trách nhiệm, nhất là trong các cuộc hành quân bên kia biên giới Việt-Căm Bốt trong thời gian 1970-1972, và trong cuộc chiến Mùa Hè 1972 ở Kiến Tường và Kiến Phong (sẽ trình bày chi tiết trong các số báo tới).

* 15 vị tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh:

-Tư lệnh đầu tiên Sư đoàn 7 Bộ binh: trung tá Nguyễn Hữu Có:
Trung tá Nguyễn Hữu Có chỉ huy Sư đoàn 7 Bộ binh từ ngày 1/1/1955 đến 15 tháng 6/1955. Vị tư lệnh này xuất thân trường Thiếu sinh quân, vào năm 1948, ông được tuyển lựa theo học khóa 1 Sĩ quan Việt Nam tại Huế, ra trường đậu thủ khoa (cùng khóa với cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu). Thăng đại tá vào năm 1956 và lần lượt giữ nhiều chức vụ quan trọng: tư lệnh Sư đoàn 16 Khinh chiến (1957), tư lệnh Quân khu 1 (Miền Đông Nam phần, sau này là Vùng 3 chiến thuật), tư lệnh phó Quân đoàn 3 (1962-1963), thăng thiếu tướng vào đầu tháng 11/1964, trực tiếp chỉ huy Sư đoàn 7 Bộ binh trong 5 ngày khi cuộc đảo chánh 1/11/1963 diễn ra. Ngày 5/11/1963, ông được cử làm quyền tư lệnh Quân đoàn 4. Ngày 31/1/1964, sau cuộc chỉnh lý của tướng Khánh, ông bị thay thế bởi trung tướng Dương Văn Đức, nhưng vẫn tiếp tục ở lại Quân đoàn 4 với chức vụ tư lệnh phó. Giữa tháng 9/1964, được cử làm tư lệnh Quân đoàn 2 & Vùng 2 chiến thuật; 19/6/1965: được bổ nhiệm giữ chức Tổng ủy viên chiến tranh kiêm Ủy viên Quốc phòng (tổng trưởng Quốc phòng) trong nội các của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ; từ 14/7/1965 đến 1/10/1965: kiêm nhiệm chức vụ Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH, Ngày 26 tháng 1/1967, khi đang công du ở Đài Loan, ông nhận được thông báo của chính phủ VNCH là bị giải nhiệm và không được trở về nước trong một thời gian.

Từ 6/1955 đến tháng 2/1964, Sư đoàn 7 Bộ binh được chỉ huy bởi các tư lệnh sau đây:

- Đại tá Tôn Thất Xứng: (15/6/1955 đến 27/4/1957), các chức vụ kế tiếp: tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh, tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh, chỉ huy trưởng Biệt động quân (1961-1963), thăng thiếu tướng tháng 2/1964, giữ chức tư lệnh Quân đoàn 1 & Vùng 1 chiến thuật; từ tháng 11/1964 đến 1966, chỉ huy trường Đại học Quân sự (trường Chỉ huy Tham Mưu); Đầu năm 1967, rời quân ngũ, ông nghiên cứu biên soạn binh thư.

- Trung tá Ngô Dzu: (27/4/1957 đến 17/3/1958), các chức vụ quan trọng kế tiếp: tư lệnh Sư đoàn 2 Bộ binh (1964), thăng chuẩn tướng vào tháng 5/1964; phụ tá Tư lệnh Vùng 3 (1965-1966), từ 1967 thuyên chuyển về bộ Tổng tham mưu phụ trách về Bình Định, thăng thiếu tướng 1968; quyền tư lệnh Quân đoàn 4 từ tháng 5/1970 đến tháng 8/1970, tư lệnh Quân đoàn 2 & Vùng 2 chiến thuật từ tháng 8/1970 đến tháng 5/1972- thăng trung tướng trong thời gian giữ chức vụ này, giải ngũ vào tháng 3/1974 cùng đợt với các trung tướng: Nguyễn Văn Vỹ, Trần Ngọc Tám, Nguyễn Văn Là, Trần Văn Minh (Minh con), Linh Quang Viên, Hoàng Xuân Lãm...

- Đại tá Trần Thiện Khiêm: (17 tháng 3/1958 đến 30/3/1959), từ tháng 4/1959 đến tháng 12/1962: đại tá Khiêm tiếp tục giữ các chức vụ: tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh, quyền tư lệnh Quân khu 5 (Miền Tây Nam phần, sau này là Vùng 4 chiến thuật), thăng thiếu tướng vào tháng 12/1962 và được cử giữ chức tham mưu trưởng Liên quân; thăng trung tướng ngày 2 tháng 11/1963; từ 1/1/1964 đến 31/1/1964: tư lệnh Quân đoàn 3. Sau cuộc chỉnh ký của tướng Khánh (31/1/1964), tướng Khiêm được cử giữ chức Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh Quân đội (từ tháng 1/1964 đến tháng 5/1965: chức vụ Tổng tham mưu trưởng được cải danh thành tổng tư lệnh Quân đội), thăng đại tướng vào tháng 8/1964. Ngày 24 tháng 10/1964, rời quân đội và được bổ nhiệm làm đại sứ VNCH tại Hoa Kỳ, sau đó được điều động về làm đại sứ VNCH tại Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Tháng 6/1968: trở về nước, giữ chức tổng trưởng Nội vụ trong nội các của thủ tướng Trần Văn Hương. Ngày 1 tháng 9/1969: được cử giữ chức thủ tướng VNCH; đại tướng Khiêm giữ chức vụ này cho đến giữa tháng 4/1975.

- Đại tá Huỳnh Văn Cao (30/3/1959 đến 22/12/1962): Giữ chức vụ tư lệnh Sư đoàn 7 Bộ binh khi còn mang cấp trung tá, chỉ một thời gian được thăng cấp đại tá. 22/tháng 12/ 1962, được thăng cấp thiếu tướng và giữ chức vụ tư lệnh Quân đoàn 4/ Vùng 4 chiến thuật vừa được thành lập. Sau cuộc đảo chánh 1/11/1963, bị giải nhiệm chức vụ tư lệnh Quân đoàn 4, thuyên chuyển về Bộ Tổng tham mưu; từ 1/1/1965 đến 15/5/1966: tổng cục trưởng Tổng cục Chiến tranh chính trị. Ngày 16/5/1966: được cử giữ chức tư lệnh Quân đoàn 1 (trong vụ biến động tại Miền Trung hè 1966), chỉ 15 ngày sau, được lệnh bàn giao chức vụ cho thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm. Giữa năm 1966: giải ngũ; 1967: Thượng nghị sĩ.

- Đại tá Bùi Đình Đạm: 22/12/1962 đến 1/11/1963; chức vụ kế tiếp: giám đốc Nha Động viên (từ tháng 11/1964 đến tháng 4/1975), thăng chuẩn tướng tháng 6/1968, thăng thiếu tướng tháng 6/1970.

- Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có: (1/11/1963 đến 5/11/1963): đã trình bày ở phần trên.

- Đại tá Phạm Văn Đổng (5/11/1963 đến 2/12/1963): các chức vụ kế tiếp: tư lệnh Biệt khu Thủ đô (1964- tháng 5/1965) thăng chuẩn tướng tháng 5/1964, thăng thiếu tướng 10/1964. 1996: giải ngũ; 1/9/1 1969: tổng trưởng Cựu Chiến Binh, nội các thủ tướng Trần Thiện Khiêm.

- Thiếu tướng Lâm Văn Phát (2/12/1963 đến 2/2/1964): thăng thiếu tướng ngày 2 tháng 11/1963 khi đang giữ chức vụ tư lệnh phó Quân đoàn 3. Từ tháng 2/1964 đến tháng 4/1964: tư lệnh Quân đoàn 3, tháng 4 đến tháng 9/1964: Tổng trưởng Nội vụ; 13 tháng 9/1964: cùng với trung tướng Dương Văn Đức cầm đầu cuộc chỉnh lý chống tướng Nguyễn Khánh nhưng bất thành. Tháng 10/1964: giải ngũ; 29/4/1975: tư lệnh Biệt khu Thủ đô; từ trần tại Hoa Kỳ năm 1998.

* Từ tháng 2/1964 đến ngày 30/4/1975:
Sư đoàn 7 BB được chỉ huy bởi các tư lệnh sau đây:

- Đại tá Bùi Hữu Nhơn (2/2/1964 đến 7/3/1964): thăng chuẩn tướng tháng 5/1964, thăng thiếu tướng tháng 11/1964 khi đang giữ chức chỉ huy trưởng trường Bộ binh Thủ Đức; từ tháng 11/1964 đến tháng 11/1966: tổng cục trưởng Tiếp vận, tham mưu trưởng Liên quân. Tháng 12/1966: chỉ huy trưởng trường Bộ binh, giữa năm 1967: phó chủ tịch Ủy ban điều hành Quốc tế Quân viện.

- Đại tá Huỳnh Văn Tồn (7/3/1964 đến 16/9/1964): tham gia chỉnh lý 13 tháng 9/1964 nhưng bất thành, giải ngũ.

- Chuẩn tướng Nguyễn Bảo Trị (16/9/1964 đến 9/10/1965): thăng thiếu tướng tháng 11/1965, giữ chức tư lệnh Quân đoàn 3; tháng 5/1966 đến tháng 11/1966: tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị, thăng trung tướng tháng 11/1967; từ tháng 6/1966 đến tháng 11/1967: tổng ủy viên (tổng trưởng) Thông tin Chiêu Hồi-trước tháng 12/1966:vẫn kiêm nhiệm chức vụ tổng cục trưởng Chiến tranh Chính trị; tháng 11/1967 đến tháng 6/1968: tổng trưởng Xây dựng Nông Thôn; chức vụ cuối cùng: chỉ huy trưởng trường Chỉ Huy Tham Mưu.

- Chuẩn tướng Nguyễn Viết Thanh (9/10/1965 đến 3/7/1968): giữ chức tư lệnh Sư đoàn khi vừa thăng cấp đại tá, thăng chuẩn tướng giữa năm 1966, thăng thiếu tướng tháng 6/1968 sau đó giữ chức tư lệnh Quân đoàn 4, tử nạn trực thăng tháng 5/1970.

- Chuẩn tướng Nguyễn Thanh Hoàng (3/7/1968 đến 16/1/1970), chức vụ cuối cùng: Chánh thanh tra cấp Quân đoàn.

- Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam: (16/1/1970 đến 1/11/1974): giữ chức tư lệnh khi còn mang cấp đại tá, thăng chuẩn tướng giữa năm 1970; tháng 11/1974: thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 4, tự sát ngày 1 tháng 5/1975.

- Chuẩn tướng Trần Văn Hai: 1/11/1974 đến 30/4/1975: thăng chuẩn tướng giữa năm 1970 khi đang giữ chức tổng giám đốc Cảnh sát Quốc gia. Trước khi trở thành tư lệnh Sư đoàn 7 BB, tướng Hai đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng: chỉ huy trưởng Biệt động quân, tư lệnh Biệt khu 44, tư lệnh phó Quân đoàn 2, chỉ huy trưởng Huấn khu Dục Mỹ, tự sát ngày 30 tháng 4/1975.

Quân Sử Việt Nam (TOP)