Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai

Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa - Quân sử sư đoàn 7 bộ binh

vietnam, việt nam, cờ việt nam

quân sự quân đoàn 4 quân khu 4 việt nam cộng hòasư đoàn 7 bộ binh

Là Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa,

Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

Điều 5: Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

Điều 6: Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

***

Quân Đoàn IV - Trận Svay Rieng - Sư-đoàn 7 bộ-binh Việt-Nam Cộng-Hòa

Tình hình chiến sự trong giai đoạn 1968-1975

5/1970 - Tỉnh Svay Rieng của Cam Bốt tiếp giáp với Việt Nam ở cả hai Quân khu 3 và 4, có một vị trí chiến lược quan trọng do là hình thể đặc biệt. Ngoài khu vực Mỏ Vẹt (Parrot's Beak) có hình mũi nhọn chọc thẳng vào tỉnh Hậu Nghĩa, cách Thủ đô Sài Gòn khoảng 50km về phía tây bắc, còn có hai nhánh nhỏ đâm thẳng vào tỉnh Kiến Tường (Khu vực Chân Tượng, Elephant's Foot) và ranh giới hai tỉnh Tây Ninh và Hậu Nghĩa (Khu vực Cánh Thiên Thần, Angel's Wing).

Khi CSBV bắt đầu xâm lăng miền Nam bằng vũ lực, Hà Nội nổ lực xây dựng khu vực căn cứ địa rộng lớn trong tỉnh Svay Rieng để làm bàn đạp tấn công vào lãnh thổ Quân khu 3 và 4 của Việt Nam Cộng Hòa. Lợi dụng chủ trương trung lập nửa vời của ông hoàng Sihanouk ở Cam Bốt để được hưởng lợi qua việc cung cấp dịch vụ vận chuyển vũ khí, quân trang từ cảng Kompong Som (Sihanoukville) đến khu vực căn cứ địa này và buôn bán thực phẩm, thuốc men cho CSBV, Hà Nội xây dựng một hệ thống đường mòn vận chuyển nối liền Kompong Som và khu vực căn cứ địa, chạy dọc theo biên giới từ Hà Tiên lên đến khu vực Mỏ Vẹt. Mỗi khi bị liên quân VNCH-Hoa Kỳ đánh đuổi, Cộng quân lại rút chạy sang lãnh thổ Cam Bốt để hồi phục và chờ cơ hội kế tiếp.

Tháng 3/1970, Quốc vương Sihanouk bị lật đổ, Thủ tướng Lon Nol lên nắm quyền. Vào thời gian này, CSBV đã lập nhiều căn cứ địa trong nội địa Cam Bốt và tập trung một số sư đoàn chủ lực để tiến hành các cuộc tấn công vào một số tỉnh Cam Bốt gần biên giới. Tân chính phủ Cam Bốt yêu cầu Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa thực hiện một loạt chiến dịch ven biên để truy quét Cộng quân. Đây là những cuộc hành quân hỗn hợp với nỗ lực chính là các sư đoàn bộ binh VNCH thuộc các Quân đoàn 3 và 4 và một số đơn vị tổng trừ bị.

Theo phân nhiệm, mỗi quân đoàn trách nhiệm một vùng hành quân. Trong phạm vi của Quân đoàn 3, chiến dịch hành quân ngoại biên mang tên là Toàn Thắng 42, xuất phát vào ngày 27 tháng 4/1970 với sự yểm trợ của các không đoàn chiến thuật VNCH và Hoa Kỳ. Chỉ huy chiến dịch là Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh Quân đoàn 3 và Vùng 3 Chiến thuật. Sư đoàn 18 Bộ binh được chọn là một trong những mũi tiến quân chính. Tư lệnh SĐ 18 BB lúc bấy giờ là Chuẩn tướng Lâm Quang Thơ. Theo kế hoạch của Quân đoàn 3, SĐ 18 BB chỉ để lại khu vực trách nhiệm Trung đoàn 52 BB làm trừ bị. Hai trung đoàn kia tham gia chiến dịch hành quân.

Đúng 7 giờ sáng ngày 29 tháng 4/1970, cuộc hành quân được khởi động. Lực lượng tham chiến của Quân đoàn 3 trong giai đoạn đầu được chia thành hai chiến đoàn đặc nhiệm.

Chiến đoàn 318 gồm hai Trung đoàn 43 và 48 thuộc SĐ 18 BB. Lực lượng yểm trợ hỏa lực gồm có một tiểu đoàn Pháo binh 105 ly, hai pháo đội 155 ly, một pháo đội hỗn hợp 105 và 155 ly của Pháo binh QD 3, các pháo đội Pháo binh SD 18 và 5 BB, 2 chi đoàn của Thiết đoàn 18 KB, các đơn vị Công binh Chiến đấu của QĐ 3 và SĐ 18 BB.

Chiến đoàn 333 với lực lượng xung kích là liên đoàn LĐ 3 BĐQ. Lực lượng yểm trợ gồm có hai chi đoàn thuộc LĐ 3 KB, các pháo đội hỗn hợp 105 và 155 ly.

5/1970 - Cả hai chiến đoàn cùng tiến về phía tây và nam của vùng Mỏ Vẹt. Do quyết định của Quốc hội Hoa Kỳ hạn chế hoạt động quân sự của lực lượng tham chiến, các cố vấn Hoa Kỳ chỉ được hoạt động quanh khu vực biên giới trong vòng chu vi 30km và giới hạn trong phạm vi yểm trợ như tải thương, tiếp vận…

Sau hai ngày liên tục tiến quân, ngày 1 tháng 5/1970, CĐ 318 đã tiến về phía tây tỉnh Svay Rieng, tái lập an ninh trên quốc lộ 1 trên phần đất Cam Bốt về đến biên giới Việt Nam. Trong hai tuần đầu tháng 5, các đơn vị của chiến đoàn đã có nhiều cuộc chạm súng với Cộng quân nhưng chưa có những trận giao tranh lớn. Từ giữa tháng 5, hai trung đoàn TRD 43 BB và TRD 48 BB cùng các đơn vị yểm trợ đã bung rộng khu vực hoạt động trong nội địa Cam Bốt, tiến chiếm các mục tiêu mà Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã giao phó.

Ngày 29 tháng 5/1970, cùng với kế hoạch hành quân của Quân đoàn 4, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 thực hiện giai đoạn 2 của chiến dịch Toàn Thắng 42. Theo kế hoạch này, Chiến đoàn 318 hành quân về phía bắc-tây bắc của đồn điền Chup, trong khi Chiến đoàn 333 tảo thanh phía tây-tây nam. Cuộc tiến quân của Chiến đoàn 318 đã không gặp sự kháng cự đáng kể của Cộng quân nhưng phía cánh quân của Chiến đoàn 333 đã đụng độ mạnh với các trung đoàn của Sư đoàn 7 CSBV.

Tiểu đoàn Biệt động quân đi đầu rơi vào ổ phục kích và bị tổn thất nặng. Bộ Chỉ huy Chiến đoàn 333 tung hai tiểu đoàn BĐQ và 2 chi đoàn Thiết kỵ vào trận địa để tiếp cứu. Không quân Việt-Mỹ cũng đã liên tục yểm trợ phi pháo. Trận chiến diễn ra rất ác liệt và kéo dài trong suốt 4 giờ liền.

Đến trưa ngày 29 tháng 5/1970, Chiến đoàn 333 đẩy lùi được địch quân. Tuy nhiên, tất cả các thiết vận xa M-113 đều bị lún trong vùng lầy. Khi trận chiến đang xảy ra, Trung tướng Đỗ Cao Trí đã đáp trực thăng xuống ngay Bộ Chỉ huy Hành quân của Chiến đoàn 333. Ông đã chỉ thị cho Bộ Tham mưu QĐ 3 ở Biên Hòa khẩn cấp điều động lực lượng trừ bị không quân chiến thuật để yểm trợ cho Chiến đoàn 333. Sau đó, Tướng Trí đã bay đến khu vực hành quân của Chiến đoàn 318 để duyệt xét tình hình trận địa. Tại đây, ông cho lệnh Chiến đoàn 318 tạm ngưng cuộc hành quân ở phía bắc đồn điền Chup, di chuyển toàn bộ lực lượng về phía tây tiếp ứng cho Chiến đoàn 333. Trời đã tối nhưng Tướng Trí vẫn phải bay trở lại khu vực hành quân của Chiến đoàn 333 để đôn đốc binh sĩ tìm mọi cách kéo các thiết vận xa ra khỏi bùn lầy.

Ngay khi nhận được lệnh tiếp ứng Chiến đoàn 333, 4 giờ sáng ngày 30 tháng 5/1970, các đơn vị bộ binh của Chiến đoàn 318 đã được trực thăng vận xuống vùng hành quân mới. Cùng lúc, hai pháo đội hỗn hợp 105 và 155 ly đã được các phi cơ Chinook thả xuống vị trí đã định. Sự tăng viện kịp thời của Chiến đoàn 318 đã giải tỏa được áp lực của Cộng quân, lập một vòng đai an toàn cho các phi đội trực thăng đáp xuống để chở thương binh ra khỏi trận địa.

1/1971 - Đầu năm 1971, chuẩn bị cho cuộc hành quân Toàn Thắng 1/71 trên lãnh thổ Cam Bốt, Lực lượng Xung kích QĐ 3, do Đại tá Trần Quang Khôi chỉ huy, được thành lập gồm 3 chiến đoàn tổ chức như sau:

- Chiến đoàn 3 gồm LĐ 3 KB, 1 tiểu đoàn của LD 3 BDQ, 1 tiểu đoàn của LD 5 BDQ và 1 pháo đội của Tiểu đoàn 46 PB.
- Chiến đoàn 333 gồm LĐ 3 BDQ, 1 thiết đoàn KB và 1 pháo đội của Tiểu đoàn 46 PB.
- Chiến đoàn 5 gồm LĐ 5 BDQ, 1 thiết đoàn KB và 1 pháo đội của Tiểu đoàn 46 PB.

Sáng ngày mồng 4 Tết, các lực lượng này ào ạt xuất phát tiến quân theo trục lộ Thiện Ngôn, Xa Mát, vượt biên giới Cam Bốt, sang ngã ba Krek, cặp theo quốc lộ 7, trực chỉ Kompong Cham. Mục tiêu là đồn điền Chup, theo tin tình báo nơi đây là bản doanh của Trung ương Cục miền Nam (Cục R). Ba Sư đoàn 5, 18 và 25 BB chịu trách nhiệm luân phiên nhau giữ an ninh trục lộ từ Thiện Ngôn đến ngã ba Krek.
Khi lực lượng của ta tiến đến thành phố Suong, một quận lỵ trù phú của tỉnh Kompongcham thì chạm súng ác liệt với Cộng quân. Trung tướng Đỗ Cao Trí, Tư lệnh QD 3, đã có mặt ngay từ phút đầu trên bầu trời. Sau vài vòng quan sát mặt trận, ông chỉ thị cho 3 chiến đoàn trưởng cố gắng thanh toán để tiến nhanh đến mục tiêu chính là đồn điền Chup. Sau khi nhanh chóng thanh toán địch tại Suong, CD 3 tiến sâu lên làm rào cản, án ngữ phía bắc đồn điền Chup, CD 333 càn quét phía tây Chup dọc theo sông Cửu Long, CD 5 chia làm hai cánh, tiến quân theo như lệnh hành quân đã phổ biến:

- TĐ 38 BĐQ với hai đại đội của TĐ 33 BĐQ làm lực lượng xung kích tiến quân từ hướng nam lên hướng bắc, xuyên qua đồn điền Chup. Theo đề nghị của Trung tá Ngô Minh Hồng, Tiểu đoàn trưởng TĐ 38 BĐQ, hai đại đội của TĐ 38 BĐQ được thay thế bởi ĐĐ 5 TS/BĐQ.

- Chiến đoàn 5 càn quét rìa phía đông đồn điền Chup.

Tờ mờ sáng hai cánh quân xung kích đã bắt đầu vượt tuyến xuất phát. Cánh quân DD 5 TS/BDQ tiến được khoảng 9km thì bắt đầu chạm địch. Đây là một trung tâm huấn luyện tân binh mà địch chưa kịp di tản, trận chiến xảy ra thật ác liệt. Nhờ pháo binh và trực thăng võ trang yểm trợ hữu hiệu, ban đầu binh sĩ BDQ đã đẩy lùi được các cuộc tấn công của địch. Sau đó, khi trời tối, lực lượng địch đã vận động từ xa tới bao vây tấn công tứ phía. Lúc bấy giờ liên lạc vô tuyến với Chiến đoàn 5 bị tắc nghẽn, cánh quân TĐ 38 BĐQ bị cô lập. TĐ 30 BĐQ của Thiếu tá Phan Văn Sành thuộc Chiến đoàn 3 cùng với một chi đoàn M-113 tăng phái của Thiếu tá Nguyễn Văn Ron được phép Đại tá Khôi vào đồn điền Chup tiếp cứu. Hai ngày sau, Thiếu tá Sành và Thiếu tá Ron anh dũng hy sinh tại phía nam đồn điền Dambe.

Kế hoạch truy kích cục R tiếp diễn. Chiến đoàn 333 thiết lập một căn cứ hỏa lực tại phía nam đồn điền Dambe. TĐ 30 BĐQ trở về Chiến đoàn 5 và được thay thế bằng một tiểu đoàn của SĐ 25 BB. Đồng thời Chiến đoàn 3 được tăng phái thêm một thiết đoàn, một pháo đội từ Chiến đoàn 5 cộng thêm một tiểu đoàn Công binh Chiến Đấu, tiếp tục tiến quân dọc theo tỉnh lộ 7B, trực chỉ quận Chlong của tỉnh Kratié.
Toàn bộ LĐ 5 BĐQ được trực thăng vận đổ xuống Chlong, để lập đầu cầu. Khi hai đại đội của TĐ 33 BĐQ mới đổ quân thì được lệnh của Trung tướng Đỗ Cao Trí tạm ngưng, để ĐĐ 5 TS/BĐQ xuống trước. Khi đại đội Trinh sát vừa xuống xong, Tướng Trí đáp xuống hỏi thăm và trò chuyện với các anh em binh sĩ. Hôm sau ông tử nạn, khi trực thăng vừa cất cánh từ Tây Ninh. Tướng Trí chết đi, QLVNCH mất một thiên tài quân sự và để lại một lỗ hổng to tướng trên chiến trường. Trung tướng Nguyễn văn Minh lên thay thế, đã lúng túng cả tuần lễ, rồi quyết định triệt thoái khiến cho đoàn quân thiện chiến của QĐ 3 bị sa lầy tại Dambe.

Đại tá Trần quang Khôi, Tư lệnh Chiến trường, họp bàn cùng Đại tá Nguyễn văn Đương, Liên đoàn trưởng LĐ 5 BĐQ kiêm Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 5, cho biết là không thể kéo dài tình trạng nầy được, vì ba Sư đoàn 5, 7 và 9 CSBV sẽ xiết chặt vòng vây.

Thiết đoàn 15 KB do Trung tá Nguyễn Văn Đồng chỉ huy và ĐĐ 5 TS/BĐQ được giao cho nhiệm vụ phá vòng vây, thiết lập vị trí để đoàn quân thoát ra. Ngay sau khi B-52 vừa trải thảm xong, ĐĐ 5 TS/BĐQ cùng với một chi đoàn M-113 của TD 15 KB, mở đường sang phía đông chọc thủng phòng tuyến địch. Đại đội Trinh sát và chi đoàn M-113 đã sát cánh bên nhau chiến đấu thật anh dũng giữ vững trận địa và bảo vệ đoạn hậu cho Lực lượng Xung kích QĐ 3 thoát khỏi vòng vây của Cộng quân.

3/1974 - Sau Hiệp định Paris 1973, đơn vị chủ lực của CSBV hoạt động tại khu vực biên giới là Sư đoàn 5 CSBV. Sư đoàn này sau những tổn thất nặng nề tại An Lộc trong mùa Hè 1972, đã rút về căn cứ địa trong tỉnh Svay Rieng để tái xây dựng. Sau đó, sư đoàn này đã tăng cường cho chiến trường Quảng Đức ở Quân khu 2 cũng như khu vực Trị Pháp ở Quân khu 4. Đầu năm 1974, Mặt trận B2 CSBV ra lệnh cho đơn vị này tập trung ở phía nam tỉnh Svay Rieng, xung quanh Chi Phu, để có thể tấn công vào các tỉnh Tây Ninh và Hậu Nghĩa ở Quân khu 3 cũng như Kiến Tường ở Quân khu 4.

Tại khu vực Chân Tượng tiếp giáp với Cam Bốt trong tỉnh Kiến Tường, VNCH đã thiết lập căn cứ biên phòng Long Khốt. Vào ngày 28 tháng 3/1974, trong lúc quân đội VNCH đang mở màn chiến dịch Svay Rieng thì SĐ 5 CSBV sử dụng Trung đoàn 275 và Tiểu đoàn 25 Đặc công cùng thiết giáp yểm trợ bắt đầu tấn công Long Khốt. Được sự yểm trợ đắc lực của Không quân VNCH, lực lượng VNCH đã gây nhiều thiệt hại cho Cộng quân. Tuy nhiên do áp lực CSBV vẫn tiếp tục duy trì lên khu vực này nên Bộ Tư lệnh Tiền phương SĐ 7 BB phải di chuyển đến thị xã Mộc Hóa để chỉ huy hai chiến đoàn giải tỏa cho Long Khốt. Chiến đoàn thứ nhất bao gồm Trung đoàn 15 của Sư đoàn 9 BB cùng Thiết đoàn 16 KB, trong khi chiến đoàn thứ hai gồm Trung đoàn 10 của Sư đoàn 7 BB được Thiết đoàn 6 KB yểm trợ. Sau 12 ngày giao tranh, hai chiến đoàn đã đẩy lui được Cộng quân ra khỏi khu vực.

Ở phía nam của khu vực Cánh Thiên Thần, trong tỉnh Hậu Nghĩa, quân đội VNCH có duy trì một căn cứ biên phòng tại Đức Huệ, cách biên giới Cam Bốt không đầy 5km. Ngày 27 tháng 3/ 1974, hai tiểu đoàn của Trung đoàn 6 thuộc SĐ 5 CSBV được pháo binh yểm trợ, tấn công căn cứ Đức Huệ do Tiểu đoàn 83 BĐQ Biên phòng trấn giữ.

Mặc dù tổn thất, lực lượng trú phòng đã chống trả dử dội và giữ vững căn cứ khiến Cộng quân phải rút lui, để lại nhiều xác cùng vũ khí. Không chiếm được Đức Huệ dễ dàng, địch quân chuyển sang phong tỏa căn cứ này, với sự tiếp sức của Tiểu đoàn K7 Đặc công của tỉnh Long An. Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 phải cho một lực lượng đặc nhiệm của SD 25 BB, gồm hai tiểu đoàn bộ binh, một chi đoàn M-48 của Thiết đoàn 22 Chiến xa, và Không quân yểm trợ hỏa lực để giải tỏa nhưng không thành công. Cùng lúc này ở hướng đông của Quân khu 3, hai Sư đoàn 7 và 9 CSBV cũng bắt đầu gây áp lực lên tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn.

4/1974 - Đại tá Trần Quang Khôi, Tư lệnh LĐ 3 KB đề nghị là muốn giải tỏa cho Đức Huệ phải đánh bọc vào khu vực căn cứ địa của CSBV trên đất Cam Bốt. Kế hoạch hành quân của chiến dịch Svay Rieng của QLVNCH do Ban Tham mưu Hành quân QĐ 3 soạn thảo sử dụng tổng cộng 18 tiểu đoàn và thiết đoàn của Quân đoàn 3 với sự yểm trợ của 2 tiểu đoàn của Quân đoàn 4 từ tỉnh Kiến Tường. Do tính chất chính trị của chiến dịch (hành quân cấp quân đoàn trên lãnh thổ Cam Bốt), kế hoạch hành quân đã được bảo mật tối đa. Ngay cả Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và cơ quan DAO cũng chỉ được thông báo khi chiến dịch mở màn.

Giai đoạn 1 của chiến dịch khai diễn ngày 27 tháng 4/1974 khi Không quân VNCH thực hiện 45 phi vụ oanh kích vào căn cứ địa của CSBV trong tỉnh Svay Rieng. Cùng lúc này, hai tiểu đoàn Địa phương quân tảo thanh khu vực giữa sông Vàm Cỏ Đông và phía bắc khu vực Cánh Thiên Thần. Từ Hiệp Hòa trong tỉnh Hậu Nghĩa, hai tiểu đoàn của Trung đoàn 49 BB cùng hai tiểu đoàn của LĐ 7 BĐQ truy quét về hướng Đức Huệ và biên giới Cam Bốt. Bảo vệ mặt nam là 3 tiểu đoàn ĐPQ cũng tảo thanh từ phía bắc tỉnh Long An, giữa kinh Bo Bo và sông Vàm Cỏ Đông.

Trên lãnh thổ Quân khu 4, một tiểu đoàn xuất phát từ Mộc Hóa, vượt biên giới Cam Bốt rồi thành lập một vị trí chốt chận trên tỉnh lộ 1012 trong tỉnh Svay Rieng. Tiểu đoàn thứ hai cũng vượt biên giữa khu vực Chân Tượng và Mỏ Vẹt, thành lập chốt chận thứ hai ở hướng đông nam khu vực.

Trong hai ngày đầu 27 và 28 tháng 4 của chiến dịch Svay Rieng, Không quân VNCH đã yểm trợ hết sức đắc lực với gần 200 phi vụ oanh kích và tiếp tế. Sư đoàn SĐ 3 KQ đã cho thành lập Bộ Chỉ huy Không trợ Tiền phương ở Củ Chi, cạnh Bộ Tư lệnh Tiền phương Quân đoàn 3.

Giai đoạn 2, giai đoạn chính của chiến dịch Svay Rieng, bắt đầu ngày 29 tháng 4/1974, kéo dài ba ngày, trong đó các cánh quân bộ binh và thiết giáp tiến song song vào khu vực hậu cứ của Sư đoàn 5 CSBV trong tỉnh Svay Rieng, rồi di chuyển về phía tây và tây nam, trở lại phần đất Việt Nam trong tỉnh Hậu Nghĩa. Để bảo mật tối đa, Đại tá Khôi cho cánh quân thiết kỵ rời khu vực Gò Dầu Hạ di chuyển về hướng tỉnh Bình Dương, rồi bí mật trở lại khu vực tập trung vào đêm 28 tháng 4/1974. Được Công binh Chiến đấu yểm trợ vượt sông Vàm Cỏ Đông, đoàn chiến xa vượt biên ở phía tây thị trấn Gò Dầu Hạ.

Cánh bắc là nổ lực chính và tiến sâu nhất vào lãnh thổ Cam Bốt do Chiến đoàn 315 đảm nhiệm, gồm có thiết đoàn TĐ 15 KB và tiểu đoàn TĐ 64 BDQ, được một pháo đội hổn hợp 105-155 ly yểm trợ. Chiến đoàn vượt biên ở phía nam quốc lộ 1, tiến gần Chi Phu thì di chuyển về phía nam dọc theo tỉnh lộ 1012, truy đuổi Cộng quân về vị trí chốt chận thứ nhất gần Chek.

Cánh giữa tiến song song với cánh bắc khoảng 2km về phía nam do Chiến đoàn 318 đảm nhiệm, gồm có thiết đoàn TĐ 18 KB và tiểu đoàn TĐ 36 BDQ, được một pháo đội 105 ly yểm trợ. Chiến đoàn tiến sâu khoảng 10km rồi cũng di chuyển về phía nam trở lại phần đất Việt Nam, song song với cánh bắc.

Cánh nam vượt biên ở ngay bờ nam của khu vực Cánh Thiên Thần, tiến dọc theo tỉnh lộ 1013 rồi chuyển về phía nam, dọc theo biên giới Việt Nam-Cam Bốt do Chiến đoàn 310 đảm nhiệm. Cánh quân này gồm có chi đoàn CĐ 3/10 KB, một tiểu đoàn của SĐ 18 BB, một tiểu đoàn của SD 25 BB, và một tiểu đoàn pháo binh. Khác hai cánh kia, CĐ 310 không có chiến xa M-48 yểm trợ.

4/1974 - Đơn vị trừ bị ở Gò Dầu Hạ là Chiến đoàn 322 gồm hai chi đoàn Chiến xa M-48 còn lại của thiết đoàn TD 22 KB, một chi đoàn M-113 của thiết đoàn TĐ 1 KB, một tiểu đoàn của SD 18 BB và một pháo đội 105 ly. Sư đoàn 3 KQ cũng cho sử dụng hơn 50 trực thăng UH-1 thực hiện các cuộc không vận để đạt yếu tố thần tốc và bất ngờ. Từ Gò Dầu Hạ, Lữ đoàn 3 KB chỉ huy toàn bộ các hoạt động của cuộc hành quân.

Trong ngày đầu tiên của giai đoạn 2, CĐ 315 tiến sâu vào trong lãnh thổ Cam Bốt được 7km, gây nhiều thiệt hại cho Cộng quân. Ngày kế tiếp, chiến đoàn tiếp tục tấn công. Ở phía nam, CĐ 318 cũng có thành công tương tự. Không quân VNCH bay gần 200 phi vụ yểm trợ, tiêu diệt nhiều kho tiếp tế, công sự chiến đấu, vị trí pháo binh và súng phòng không. Đến cuối tháng 4/1974, các đơn vị của Trung đoàn 6 và 174 CSBV đang bảo vệ cho khu vực hậu cứ trong tỉnh Svay Rieng bị tổn thất nặng, Trung đoàn 275 đang uy hiếp Long Khốt phải rút về trợ lực. Tuy nhiên đơn vị này cũng đã bị Sư đoàn 7 BB đánh thiệt hại nặng ở Long Khốt.

Vì nhiều cuộc giao tranh tập trung ở hướng nam, Trung tướng Phạm Quốc Thuần, Tư lệnh Quân đoàn 3, cho Chiến đoàn 322 thay Chiến đoàn 315 rút về Gò Dầu Hạ làm trừ bị. Chiến đoàn 322 vượt biên tiến sâu 4km qua khu vực Cánh Thiên Thần trong khi các tiểu đoàn của TRĐ 49 BB tiếp tục tảo thanh khu vực biên giới giữa Đức Huệ và Gò Dầu Hạ. Ngày 6 tháng 5/1974, con đường độc đạo nối với căn cứ Đức Huệ được giải tỏa và Công binh VNCH bắt đẩu tu bổ. Quân đội VNCH hoàn toàn kiểm soát chiến trường và khu vực chiến lược Gò Dầu Hạ. CĐ 322 sau đó chuyển về phía nam căn cứ địa Ba Thu, tây nam Đức Huệ và trở lại phần đất Việt Nam vào ngày 10 tháng 5/1974.

Chiến dịch Svay Rieng 1974 là cuộc hành quân cấp quân đoàn sau cùng của QLVNCH trong giai đoạn chót của cuộc chiến Việt Nam. Chiến dịch tấn công này được thiết kế và thi hành một cách khéo léo với sự phối hợp và yểm trợ tuyệt vời giữa bộ binh, thiết giáp, không quân và pháo binh VNCH, gây thiệt hại nặng cho CSBV trong khi quân đội VNCH chỉ bị thiệt hại nhẹ, khác với chiến dịch Hạ Lào đầu năm 1971, chứng tỏ khả năng trưởng thành nhanh chóng về tham mưu và chỉ huy của QLVNCH.


http://www.mekongrepublic.com/vietnam/vn_infoloc.asp?sID=92&sParent=vn_unit&sUnit=SD%207%20BB&zoom=infounit&loc=SVAY%20RIENG

Quân Sử Việt Nam (TOP)