Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai

Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa - Quân sử sư đoàn 7 bộ binh

vietnam, việt nam, cờ việt nam

quân sự quân đoàn 4 quân khu 4 việt nam cộng hòasư đoàn 7 bộ binh

Là Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa,

Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

Điều 5: Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

Điều 6: Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

***

Quân Đoàn IV - Sư-đoàn 7 bộ-binh Việt-Nam Cộng-Hòa

Tình hình chiến sự trong giai đoạn 1968-1975

Quân khu 4 VNCH bao gồm 16 tỉnh Định Tường, Gò Công, Kiến Hòa, Vĩnh Long, Vĩnh Bình, Sa Đéc, Kiến Phong, Kiến Tường, An Giang, Châu Đốc, Kiên Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên, Chương Thiện, Bạc Liêu và An Xuyên. Năm 1975 có khoảng gần 10 triệu người, tức hơn 50% dân số toàn quốc, sống trong lãnh thổ Quân khu 4.

Quân khu 4 bao gồm khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là vựa lúa của VNCH, cung cấp gần 75% nhu cầu thực phẩm của cả nước. Những cánh đồng lúa bạt ngàn và những vườn cây ăn trái xum xuê do phù sa của hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang bồi đắp cùng một hệ thống sông, rạch, kinh đào chằng chịt. Giao thông bằng thủy lộ do đó có vai trò vô cùng quan trọng ở khu vực này và việc kiểm soát các thủy lộ, chận đứng nổ lực tiếp tế liên lạc và vận chuyển lương thực của Cộng quân là một trong những mục tiêu chính của Chính phủ VNCH ở miền Tây. Từ Tân Châu, Châu Đốc, đến khu vực Mỏ Vẹt (Parrot’s Beak) là khu vực đồng lầy Đồng Tháp bao la, vào mùa mưa nước ngập như một biển hồ, có nơi sâu đến 4, 5 mét khiến tàu bè là phương tiện di chuyển đi lại duy nhất. Khu vực biên giới này do đó đã được CSBV xây dựng thành một khu vực căn cứ địa, nối liền với hệ thống căn cứ địa trên Cam Bốt, và là hành lang xâm nhập tiếp tế cho cả khu vực Tiền Giang (chủ yếu là Định Tường và Kiến Hòa) lẫn Hậu Giang (chủ yếu là Chương Thiện và U Minh).

Quốc lộ 4 chạy dài qua miền Tây và hai con sông lớn Tiền Giang và Hậu Giang nối liền Thủ đô Sài Gòn và Cà Mau là con đường huyết mạch của VNCH ở miền Tây. Quân khu 4 cũng có một biên giới dài giáp với Cam Bốt, chạy dài từ Hà Tiên sát vịnh Thái Lan đến khu vực Mỏ Vẹt giáp với tỉnh Hậu Nghĩa của Quân khu 3. Từ Hà Tiên đến thị xã Châu Đốc có 7 ngọn núi nhỏ (Thất Sơn) là cao điểm thuận tiện cho sự khống chế khu vực đồng bằng xung quanh từ Tịnh Biên đến Tri Tôn, bao gồm núi Sam nổi tiếng gần Châu Đốc. Trong khu vực này có Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Chi Lăng, đảm trách việc huấn luyện cho các đơn vị QLVNCH ở Quân khu 4.

Quân khu 4 chia thành ba Khu Chiến thuật do ba sư đoàn bộ binh đảm trách.

◦ Khu Chiến thuật Tiền Giang từ ranh giới của tỉnh Long An (QK3) chạy xuống các tỉnh Kiến Tường, Định Tường (Mỹ Tho), Gò Công, Kiến Hòa (Bến Tre) do SD 7 BB trách nhiệm về an ninh lãnh thổ. Bộ Tư lệnh SD 7 BB đặt tại thị xã Mỹ Tho, sau chuyển qua Căn cứ Đồng Tâm. Đây là các tỉnh tả ngạn của sông Tiền Giang từ Biển Hồ (Tonlé Sap) chảy xuống.

◦ Khu 41 Chiến thuật gồm các tỉnh ở hữu ngạn sông Tiền Giang thuộc vùng trách nhiệm của SD 9 BB, bản doanh đặt tại thị xã Sa Đéc. Các tỉnh này là: Kiến Phong (Cao Lãnh), Sa Đéc, Vĩnh Long, Vĩnh Bình (Trà Vinh). Bắc Mỹ Thuận còn gọi bến phà Mỹ Thuận nằm trên thủy lộ sông Tiền, bên trái (từ Thủ đô Sài Gòn đi xuống) thuộc tỉnh Định Tường, bên phải thuộc tỉnh Sa Đéc và Vĩnh Long.

◦ Khu 42 Chiến thuật gồm các tỉnh vùng sông Hậu Giang: Phong Dinh, Ba Xuyên, Chương Thiện, Kiên Giang (Rạch Giá), Bạc Liêu và An Xuyên (Cà Mau). Riêng hai tỉnh Châu Đốc và An Giang có lúc thuộc Khu 42 Chiến thuật, có lúc thuộc Biệt khu 44 hay Khu 41 Chiến thuật.

1968 - Trước 1973, Vùng 4 Chiến thuật còn có thêm Biệt khu 44, bản doanh đặt tại Cao Lãnh (tỉnh Kiến Phong) bao gồm các tỉnh Kiến Phong, Kiến Tường và Châu Đốc. Đây là các tỉnh biên giới với Cam Bốt nên có rất nhiều trại Biệt kích LLDB, gọi là A. Các trại A trong một khu vực trực thuộc một Bộ Chỉ huy B và các B trực thuộc Bộ Chỉ huy Vùng (C4/LLĐB), bản doanh đặt ở phi trường Cần Thơ.

Bộ Tư lệnh QĐ 4-QK 4 đặt ở trại Lê Lợi, Cần Thơ, thành phố lớn nhất miền Tây bên bờ sông Hậu Giang. Ở Cần Thơ có phi trường Trà Nóc, căn cứ Không yểm chính của Quân khu 4 và là nơi đặt Bộ Tư lệnh SD 4 KQ. Ở Bình Thủy, Cần Thơ, có Bộ Tư lệnh Vùng 4 Sông Ngòi và căn cứ Hải quân. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long trở thành trọng điểm của VNCH trong nổ lực bình định sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Một căn cứ quân sự lớn lao được xây dựng ở phía tây thị xã Mỹ Tho, nằm dọc theo sông Tiền Giang và Kinh Xáng nối ra quốc lộ 4, đặt tên là Đồng Tâm.

Từ sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, QĐ 4 đã có nhiều thành công trong nổ lực bình định ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, kiểm soát phần lớn đất đai cũng như loại bỏ hạ tầng cơ sở Cộng sản nằm vùng. Phía Cộng quân chỉ còn tập trung hoạt động trong các khu vực căn cứ địa lâu đời như U Minh, Đồng Tháp, Chương Thiện và Định Tường.

1972 - Từ mùa Hè 1972, Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 4, thay thế Trung tướng Ngô Quang Trưởng ra chỉ huy Quân đoàn 1 sau khi tỉnh Quảng Trị mất vào tay CSBV trong cuộc tổng tấn công Xuân Hè 1972. Tướng Nghi, nguyên là Tư lệnh SĐ 21 BB, một sư đoàn yếu kém từ vị trí sư đoàn thiện chiến trong thập niên 1960 ở chiến trường miền Tây, tuy vậy đã chứng tỏ tài chỉ huy cấp Quân đoàn hiệu quả trong giai đoạn 1972-1973.

quân sử việt nam, quan su viet nam, sư đoàn 7 bộ binh

Dưới quyền điều động của Quân đoàn 4 có các sư đoàn chủ lực SĐ 7 BB, SĐ 9 BB và SĐ 21 BB cùng LĐ 4 BĐQ là đơn vị trừ bị chiến thuật, yểm trợ bởi 144 tiểu đoàn và 125 đại đội độc lập gồm 200.000 lính Ðịa phương quân và Nghĩa quân, tức là gần phân nửa quân số của lực lượng ĐPQ-NQ toàn quốc. Trú đóng trong hơn 3000 cứ điểm, lực lượng này đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực bình định, giữ gìn an ninh cho các thôn xóm, hệ thống giao thông liên lạc cả trên bộ lẫn dưới nước, đặc biệt là hằng ngàn cây cầu lớn nhỏ bắt qua hệ thống sông rạch, kinh đào chằng chịt của miền Tây. Hầu hết các đơn vị đều bị thiếu hụt quân số, đặc biệt là cấp sĩ quan chỉ huy. Trong năm 1973, Bộ Tổng Tham mưu và Tướng Nghi đã cho rút bỏ các tiền đồn xa xôi, hẻo lánh, bị cô lập và khó tiếp tế cũng như gia tăng tính cơ động cho các tiểu đoàn ĐPQ để gia tăng hiệu quả chiến đãu và giảm thiệt hại.

Sư đoàn 7 BB với Bộ Tư lệnh ở căn cứ Đồng Tâm gần thị xã Mỹ Tho, chịu trách nhiệm các tỉnh Kiến Tường, Định Tường, Gò Công và Kiến Hòa. Sư đoàn 9 BB với Bộ Tư lệnh ở Sa Đéc, sau dời về Vĩnh Long, chịu trách nhiệm các tỉnh Vĩnh Bình, Vĩnh Long, Sa Đéc, Kiến Phong, Châu Đốc, An Giang và Kiên Giang. Sư đoàn 21 BB với Bộ Tư lệnh ở Bạc Liêu, chịu trách nhiệm các tỉnh Phong Dinh, Chương Thiện, Ba Xuyên, Bạc Liêu, và An Xuyên.

Do chiến xa M-41 và M-48 không thích hợp với địa hình sình lầy, các thiết đoàn Kỵ binh ở Quân khu 4 chỉ trang bị thiết vận xa M-113. SĐ 4 KQ với hai phi trường lớn ở Trà Nóc (Cần Thơ) và Sóc Trăng cung cấp các hoạt động không yểm.

Do địa thế bờ biển dài với hai đảo Phú Quốc và Côn Sơn cùng với hệ thống sông rạch và kinh đào chằng chịt, Hải quân VNCH hiện diện mạnh mẽ ở Quân khu 4 với các lực lượng Vùng 4 và 5 Duyên hải và Vùng 4 Sông ngòi để bảo vệ các thủy lộ và khu vực bờ biển, ngăn chận các hoạt động liên lạc tiếp tế của Cộng quân cũng như yểm trợ cho các đơn vị bạn trên bờ. Vùng 4 Sông ngòi với Bộ Tư lệnh ở Bình Thủy chỉ huy 7 giang đoàn Xung phong trú đóng ở Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long Xuyên cùng các đơn vị yểm trợ.

Ngoài ra còn có sự tăng cường của ba lực lượng Đặc nhiệm Hải quân là Lực lượng Đặc nhiệm 211 (Thủy bộ), Lực lượng Đặc nhiệm 212 (Tuần thám) và Lực lượng Đặc nhiệm 214 (Trung ương). LLĐN 211, kết hợp các giang đoàn Xung phong của Hải quân Vùng 4 Sông ngòi và Lữ đoàn B TQLC do Đại Tá Tôn Thất Soạn chỉ huy, yểm trợ cho các đơn vị bộ binh trong các cuộc hành quân truy lùng Cộng quân trên các vùng sông rạch và kinh đào. LLDN 212 với Bộ Tư lệnh ở Châu Đốc chỉ huy 14 giang đoàn Tuần thám bảo vệ khu vực sông rạch dọc theo biên giới Việt Nam-Cam Bốt. LLĐN 214 với Bộ Tư lệnh ở căn cứ Đồng Tâm chỉ huy các giang đoàn Ngăn chận.

Đầu năm 1974 các LLĐN ở Quân khu 4 được sát nhập lại thành Hạm đội Đặc nhiệm 21 do Phó Đề đốc Đặng Cao Thăng chỉ huy, hoạt động từ 17 căn cứ trên khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tướng Thăng cũng chỉ huy đơn vị Hải quân Vùng 4 Sông ngòi.
Vùng 4 Duyên hải với Bộ Tư lệnh ở căn cứ An Thới trên đảo Phú Quốc chịu trách nhiệm từ biên giới lãnh hải với Cam Bốt đến mũi Cà Mau trong khi Vùng 5 Duyên hải với Bộ Tư lệnh ở Năm Căn (Cà Mau) chịu trách nhiệm dọc theo bờ biển từ mũi Cà Mau đến khu vực biển Gò Công và Cần Giờ.

1972 - Trừ khu vực núi Thất Sơn ở Hà Tiên-Châu Đốc, khu vực đầm lầy ngập nước U Minh, chạy dài từ Rạch Giá qua Chương Thiện xuống đến Cà Mau, và khu vực Đồng Tháp Mười giáp với biên giới Cam Bốt, toàn bộ lãnh thổ còn lại của QK 4 là khu vực đồng bằng phì nhiêu nối liền nhau bởi một hệ thống thủy lộ rộng và dầy đặc tạo điều kiện thuận lợi cho chiến tranh du kích. Ngoài các trung đoàn chủ lực quân trú đóng ở các khu vực căn cứ địa đã được xây dựng lâu trong cuộc chiến tranh Đông Dương như U Minh và Đồng Tháp, các đơn vị Cộng quân thường tổ chức thành các đơn vị nhỏ cấp tiểu đoàn trở xuống để tiện việc cơ động cũng như phân tán khi bị rượt đánh.

quan su viet nam, quân sự việt nam, quansuvn, thết vận xa m 113, thiết kỵ việt nam, thiết giáp binh việt nam

Theo tổ chức của CSBV, khu vực đồng bằng sông Cửu Long bao gồm luôn tỉnh Long An trực thuộc Mặt trận Nam bộ (B2) với Quân khu 8 trông coi khu vực Tiền Giang và Quân khu 9 trông coi khu vực Hậu Giang. Vào đầu năm 1974, Lê Đức Anh giữ chức Tư lệnh QK 9 kiêm Phó Tư lệnh Mặt trận B2 trong khi Võ Văn Kiệt là Chính ủy. Ở Quân khu 8, Đồng Văn Cống là Tư lệnh trong khi Lê Văn Tưởng là Chính ủy.

Trước ngày Hiệp định Paris 27 tháng 1/1973, Cộng quân có 11 trung đoàn chủ lực địa phương hoạt động ở miền Tây. Trung đoàn 18B, 95A, D1 và D2 hoạt động trong khu vực U Minh Thượng-Chương Thiện trong khi Trung đoàn 24, 88, và Đồng Tháp 1 hoạt động trong khu vực Định Tường, Trung đoàn 320 hoạt động trong tỉnh Long An và Trung đoàn Z15 và Z18 hoạt động trong khu vực Kiến Tường. Trung đoàn D3 hoạt động trong khu vực ranh giới hai tỉnh Vĩnh Long và Vĩnh Bình. Các đơn vị Cộng quân thường được trang bị nhẹ và được yểm trợ chủ yếu bằng đại bác DKZ và súng cối.

Sau năm 1969, Sư đoàn 1 CSBV đang hoạt động ở khu vực Tây Nguyên đã di chuyển vào Nam và hoạt động dọc theo khu vực Hà Tiên-Thất Sơn từ khu vực căn cứ địa trên đất Cam Bốt. Sư đoàn này cũng phân tán các đơn vị trực thuộc, xâm nhập vào các căn cứ địa ở miền Tây để tiếp tay cho các trung đoàn và tiểu đoàn chủ lực địa phương.

Về phía QLVNCH, từ đầu năm 1968, để giảm bớt gánh nặng cho ba sư đoàn chủ lực (SĐ 7, 9 và 21 BB) ở QK 4, Biệt khu 44/CT được hình thành để bảo vệ khu vực biên giới với Cam Bốt, kéo dài từ Hà Tiên trong tỉnh Kiên Giang đến khu vực Mỏ Vẹt (Parrot’s Beak) ngay biên giới Kiến Tường-Long An, bao gồm các tỉnh Kiến Tường, Kiến Phong, Châu Đốc, và khu vực biên giới của tỉnh Kiên Giang. Bộ Tư lệnh BK 44/CT đặt ở thị xã Cao Lãnh, các đơn vị chiến đãu chính là Lữ đoàn 4 Kỵ binh, Liên đoàn 4 BĐQ, 8 tiểu đoàn BĐQ Biên phòng và 5 thiết đoàn Kỵ binh của QĐ 4.

Sau cuộc hành quân vượt biên sang Cam Bốt trong năm 1970 đến cuộc tổng tấn công Xuân Hè 1972 của CSBV, Biệt khu 44/CT duy trì hai căn cứ tiền phương trên đất Cam Bốt ở Neak Luong và Kompong Trach, do các đơn vị Biệt động quân giữ để bảo vệ khu vực biên giới. Ngoài ra, tương tự như ở 3 quân khu kia, một loạt các trại Dân sự Chiến đãu dọc theo biên giới Cam Bốt, từ Hà Tiên đến Đồng Tháp do Hoa Kỳ thành lập trước đây, nay do các tiểu đoàn BĐQ Biên phòng trấn giữ, dưới quyền chỉ huy của BK 44/CT.

8/1972 - Sau thất bại ở chiến trường An Lộc 1972, Mặt trận B2 Cộng sản di chuyển SĐ 5 CSBV sang căn cứ địa trên đất Cam Bốt trong tỉnh Svay Riêng để bổ sung quân số rồi di chuyển xuống khu vực Đồng Tháp, xâm nhập vào tỉnh Kiến Tường vào tháng 6/1972.

Đồng Tháp là một vùng đồng lầy hoang vu rộng lớn, vây quanh bởi sông Vàm Cỏ Tây ở phía đông, sông Tiền Giang ở phía tây, biên giới Cam Bốt ở phía bắc và quốc lộ 4 qua tỉnh Định Tường ở phía nam. Khu vực này không có nhiều sông ngòi nên hằng năm vào khoảng tháng 6 nước sông Tiền Giang dâng cao đổ vào theo rạch Sở Hạ và rạch Cái biến thành một biển hồ. Người ta có thể dùng ghe di chuyển từ biên giới Cam Bốt xuống tận Thị xã Mỹ Tho. Khu vực sông Vàm Cỏ Tây có nhiều kinh rạch khiến sự lưu thông tương đối dễ dàng, dân cư sinh sống khá đông đúc bằng nghề ruộng rẩy.

quân sử việt nam, quân lực việt nam cộng hòa

Khu vực trung tâm Đồng Tháp là vùng đồng lầy với nhiều cỏ lác không có bóng cây. Chỉ có xuồng nhỏ là phương tiện di chuyển duy nhất. Khu vực giữa Hồng Ngự và Cao Lãnh gần sông Tiền Giang có nhiều kinh rạch, quan trọng nhất là kinh Đồng Tiến nối liền hai sông Tiền Giang và Vàm Cỏ Tây. Về mùa khô, việc đi lại trên bộ trong khu vực này cũng khá thuận tiện.

Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh QĐ 4, điều động nhanh chóng Sư đoàn 7 BB di chuyển vào khu vực Kiến Tường. Dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, SĐ 7 BB hoàn toàn làm chủ khu vực Chân Tượng vào cuối tháng 6/1972. Tướng Nam sau đó đã để lại một Trung đoàn để bảo vệ khu vực biên giới và rút các thành phần còn lại về yểm trợ các đơn vị ĐPQ-NQ của tỉnh Định Tường đang phải đối phó với hai Trung đoàn chủ lực Z15 và Đồng Tháp 1 gây rối trong khu vực Sầm Giang-Cai Lậy-Cái Bè.

Để đối phó với áp lực gia tăng của Cộng quân trong tỉnh Định Tường, QD 4 tăng cường cho khu vực này TRĐ 15 BB của SĐ 9 BB, sau khi trung đoàn này hoàn thành sứ mạng tăng cường cho Quân khu 3 ở mặt trận An Lộc, cùng hai liên đoàn BĐQ. Bộ Tư lệnh Tiền phương QĐ 4 cũng được thành lập ở căn cứ Đồng Tâm do Chuẩn tướng Nguyễn Thanh Hoàng, Tư lệnh phó Hành quân QD 4 chỉ huy.

Đầu tháng 8/1972, Cộng quân trong khu vực Hậu Mỹ, Cái Bè, đã bị các đơn vị BĐQ diệt sạch, Quân đội VNCH thiết lập một số cứ điểm phòng thủ dọc theo kinh Tháp Mười. Đầu tháng 11/1972, các đơn vị của SĐ 7 BB đánh tan một tiểu đoàn của Trung đoàn 207 thuộc SD 5 CSBV từ Cam Bốt xâm nhập vào tỉnh Kiến Phong. Ở khu vực Đồng Tháp, Sư đoàn 7 và 9 BB đã thành công lớn trong việc tiểu trừ căn cứ địa chính của Cộng quân ở Trị Pháp. Trong khu vực U Minh Thượng trong tỉnh Kiên Giang, Quân đội VNCH cũng nắm quyền kiểm soát khu vực đông dân Gò Quao và Giồng Riềng.

Sau ngày Hiệp định Ngưng bắn Paris 1973, trọng tâm của VNCH là cô lập các khu vực “da beo” được CSBV sử dụng làm bàn đạp tấn công vào các vùng trù phú đông dân. Sau khi mối đe dọa của CSBV ở khu vực biên giới từ Hà Tiên đến Đồng Tháp không còn nữa, vào cuối năm 1973, Biệt khu 44 Chiến thuật được giải tán. Trách nhiệm các tỉnh Kiến Tường, Vĩnh Long và Vĩnh Bình được chuyển giao cho Sư đoàn 7 BB, trong khi tỉnh Châu Đốc, Kiến Phong và bắc Kiên Giang thuộc về Sư đoàn 9 BB. Các đơn vị BĐQ và BĐQ Biên phòng ở Quân khu 4 bị giải tán, thuyên chuyển, sát nhập vào hệ thống tổ chức mới của BĐQ ở ba Quân khu phía bắc. Riêng LĐ 4 BĐQ nay thuộc quyền điều động của Bộ Tổng Tham mưu QLVNCH.

11/1974 - Sau khi ban hành Nghị quyết 21, Quân khu 8 và 9 Cộng sản bắt đầu gia tăng các hoạt động khủng bố, lấn chiếm các đồn bót ở những nơi hẻo lánh. Do quân viện bị cắt giảm trầm trọng, đặc biệt là nhiên liệu và đạn dược, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 phải cho rút bỏ các căn cứ tiền đồn xa xôi. Hải quân Vùng 4 Sông ngòi cũng cắt giảm 70% các hoạt động tuần tiễu trên sông và cho gần 600 chiến đĩnh ngưng hoạt động do thiếu cơ phận thay thế cũng như nhiên liệu và đạn dược. Tình hình an ninh trên sông rạch và các khu vực hẻo lánh do đó bắt đầu suy giảm.

quân sự việt nam, quân sử việt nam, quân lực việt nam cộng hòa, quan su viet nam

Để chuẩn bị đánh lớn trong hai năm 1975-1976, Mặt trận B2 Cộng sản bắt đầu cho sát nhập các đơn vị chủ lực hoạt động độc lập để xây dựng các sư đoàn và trung đoàn. Ở Quân khu 9 (Hậu Giang), SĐ 4 CSBV được thành lập từ các Trung đoàn độc lập D1, 18B và 95. Ở Quân khu 8 (Tiền Giang), SĐ 8 CSBV được thành lập từ các Trung đoàn độc lập 24, Đồng Tháp 1 và 320.

Theo kế hoạch của Mặt trận B2, trọng điểm của Cộng quân là 3 tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình và Kiến Hòa, để chia cắt Quân khu 4. Nếu kiểm soát được Vĩnh Long, Cộng quân sẽ cắt đứt quốc lộ 4 và kiểm soát hai bến bắc chiến lược qua sông Tiền Giang và Hậu Giang, cô lập khu vực Hậu Giang. Cộng quân cũng mở rộng khu vực hoạt động trong tỉnh Chương Thiện để có thể uy hiếp Cần Thơ.
Ở khu vực Tiền Giang, trọng tâm của Cộng quân là sử dụng căn cứ địa Đồng Tháp để áp sát vào quốc lộ 4 và cắt đứt trục lộ huyết mạch này, không cho SĐ 7 và 9 BB rút về tăng cường phòng thủ Sài Gòn. Đồng thời các trung đoàn độc lập của Quân khu 8 trong tỉnh Định Tường cũng theo kinh Chợ Gạo tiến qua Long An để uy hiếp Sài Gòn ở hướng đông nam từ khu vực Cần Đước, Cần Giuộc.

Cùng lúc các đơn vị chủ lực Cộng quân trong các tỉnh Vĩnh Long, Vĩnh Bình và Kiến Hòa cũng tiến về khu vực Cần Đước, Cần Giuột qua ngả Gò Công để hợp lực uy hiếp Sài Gòn từ hướng nam.

Tháng 11 năm 1974, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, đang là Tư lệnh SĐ 7 BB, thay thế Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi trong chức vụ Tư lệnh QD 4 – QK 4. Xuất thân từ binh chủng Nhảy dù và đã từng nắm chức chỉ huy cấp tiểu đoàn, chiến đoàn và lữ đoàn, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam có nhiều kinh nghiệm chiến trường cũng như khả năng chỉ huy tham mưu. Tương tự như vị chỉ huy tiền nhiệm ở cả hai chức vụ Tư lệnh SĐ 7 BB và Quân đoàn 4 là Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, Tướng Nam có tiếng thanh liêm, sống đơn giản, đạm bạc, chăm lo nhiều cho binh sĩ dưới quyền và hết lòng phục vụ cho đất nước và quân đội theo đúng phương châm “Tổ quốc, Danh dự và Trách nhiệm”.

4/1975 - Ngày 1 tháng 4/1975 tin tình báo cho biết Sư đoàn 4 Cộng quân (Sư đoàn Hậu Giang) gồm các Trung đoàn 2, 10 và 20 từ U Minh đang di chuyển về Cần Thơ để phối hợp với 2 tiểu đoàn địa phương tấn công vào thị xã. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4, liền điều động Sư đoàn 21 BB và Thiết đoàn 9 KB đang hành quân tại ven rừng U Minh về phòng thủ thị xã Cần Thơ. Tại đây, SĐ 21 BB được TRĐ 11 BB (thuộc Sư đoàn 7 BB) tăng cường.

quân sự việt nam, hành quân sông ngòi tiền giang, hậu giang

Ðêm ngày 8 tháng 4/1975, Cộng quân lén lút xâm nhập và tấn công vào vòng đai phòng thủ Ba Se của TRĐ 32 BB và Chi khu Phong Ðiền, nhưng quân bố phòng đã chống trả mãnh liệt. SĐ 4 KQ từ phi trường Bình Thủy (Trà Nóc) đã oanh kích dữ dội khiến địch quân tổn thất nặng. Ngày 10 tháng 4, Bộ Tư lệnh Quân khu 9 phải ra lệnh cho Sư đoàn 4 CSBV lui binh.

Sáng ngày 29 tháng 4/1975, ông Francis McNamara Tổng Lảnh sự Hoa Kỳ tại Cần thơ không theo lệnh di tản bằng trực thăng của tòa Ðại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, mà đã gan dạ tự tổ chức di tản theo đường sông, qua ngả Bassac để đi ra biển bằng ghe chở lúa và một tàu LCM. Ðêm 29 tháng 4, Cộng quân pháo kích vào phi trường Vĩnh Long và hậu cứ của Sư đoàn 9 BB.

Mặc dù lệnh đầu hàng của tân Tổng thống Dương văn Minh đã được loan ra trên đài phát thanh Sài Gòn, sáng ngày 30 tháng 4/1975, tình hình tại Quân khu 4 vẫn yên tĩnh. Chiều ngày 30 tháng 4, dọc theo quốc lộ 4, đoạn đường từ Cai Lậy và Mỹ Tho đến Long An, các đơn vị VNCH giao tranh với quân CSBV rất ác liệt. Trên tuyến đường này, các lực lượng thuộc Quân đoàn 4 vẫn tiếp tục chống trả cho đến ngày 2 tháng 5/1975 mới chấm dứt.

Sau khi Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam và Chuẩn tướng Lê Văn Hưng tự tử, rạng sáng ngày 1 tháng 5/1975, liên lạc của các đơn vị với Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 bị gián đoạn hẳn. Đây được xem như là giờ phút cuối cùng cho mọi binh sĩ thuộc QĐ 4-QK 4.

http://www.mekongrepublic.com/vietnam/vn_&PageNr=0&Sort=1A

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)