vietnam, việt nam, cờ việt nam

Lịch Sử Quân Sử Việt Nam - Lịch Sử Quân Sử Một Ngàn Năm Thứ Hai

Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa - Sư-Đoàn Liên-Đoàn Biệt-Động-Quân VNCH

Là Chiến-Sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa,

Điều 1: Tôi nguyện chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để chiến đấu bảo vệ cho sự sống còn của Tổ Quốc, của gia đình và của chính bản thân tôi.

Điều 2: Tôi tuyệt đối chấp hành các mệnh lệnh của cấp chỉ huy, đề cao cảnh giác trước mọi âm mưu tuyên truyền chia rẽ của giặc cộng.

Điều 3: Tôi luôn kính già, thương trẻ, đứng đắn với phụ nữ và giúp đỡ đồng bào.

Điều 4: Tôi luôn tâm niệm hành động làm mất lòng dân là xua dân về phía giặc cộng, là tự sát.

Điều 5: Tôi luôn đối xử tử tế với tù hàng binh địch (VC), không ngược đãi đánh đập họ, không đụng đến của riêng họ, để thêm bạn bớt thù.

Điều 6: Thực hiện các điều trên là tôi tích cực xây dựng tự do cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho toàn dân, tôi sẽ được đền bù bằng sự cảm mến và biết ơn của Đồng Bào.

---------------

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Các Trận Ðánh Của Biệt Ðộng Quân Tại Hạ Lào

biệt động quân

Trần-Ðỗ-Cẩm 

Biệt Ðộng Quân - Trận Lam Sơn 719

map of Lam Sơn 719 

Phóng đồ các vị trí đóng quân của Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân trong hành quân Lam Sơn 719

...

Phần Mở Ðầu

(Xem Phóng đồ Hành Quân Lam Sơn 719; và Phóng đồ các trận đánh của BĐQ (Phóng đồ Các trận đánh của BÐQ)

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 khai diễn ngày 8 tháng 2 năm 1971 và chấm dứt vào ngày 23 tháng 3 năm 1971, kéo dài tổng cộng 45 ngày. Mục mục đích chính của cuộc hành quân là cắt đứt nguồn tiếp vận của Cộng quân bên Lào qua ngả đường mòn Hồ Chí Minh. Khu vực hành quân bề rộng chừng 20 cây số, bề dài khoảng 50 cây số, thuộc vùng Nam Lào dọc theo đường số 9 nối liền Khe Sanh gần biên giới Việt Nam tới thị trấn Savannakhet bên Lào. Quân Ðoàn I chỉ huy cuộc hành quân gồm những đơn vị cơ hữu và tăng phái.

Vì bị đánh trúng tử huyệt nên Cộng quân bắt buộc phải chống cự và phản ứng mạnh. Do đó, nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra tại các Căn Cứ BÐQ; Căn Cứ Hỏa Lực 30 và 31 (Dù); Lolo, Sophia và Delta 1 (SÐ 1 BB); Delta (TQLC) v.v... Tuy những trận đụng độ đều liên quan mật thiết và mang tầm vóc quyết định tồn cục diện chiến dịch, bài viết này chỉ nói về các trận đánh của BÐQ tại Hạ Lào. Chi tiết về những trận đánh quan trọng khác sẽ được đề cập tới khi có dịp thuận tiện.

Thật ra, Liên Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân (BÐQ) với vỏn vẹn 3 Tiểu Ðoàn (TÐ) chỉ là một vị đơn vị nhỏ so với các đại đơn vị tham chiến khác của QLVNCH như Sư Ðoàn Dù, Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), Sư Ðoàn 1 Bộ Binh v.v... Nhưng đơn vị Cọp Rừng Mũ Nâu này lại đảm trách phần vụ được coi là nặng nề nhất vì phải "đứng mũi chịu sào", trấn giữ vùng cực Bắc của khu vực hành quân. Bộ Tư Lệnh hành quân ước tính Cộng quân có khả năng tăng viện cấp Sư Ðồn trong vịng 2 tuần lễ từ vùng Phi Quân Sự kéo xuống. Vì vậy, đơn vị BÐQ tham chiến cĩ nhiệm vụ làm tiền đồn để phát hiện và tạm thời ngăn chận, cầm chân các đơn vị địch cịn đầy đủ sức mạnh lần đầu tiên tung vào chiến trường này.

Trong những trận đụng độ nẩy lửa nơi địa thế hoàn toàn xa lạ tại sào huyệt của Cộng quân bên Lào, các chiến sĩ BÐQ tuy bị cơ thế ngay từ khi nhẩy xuống trận địa nhưng đã anh dũng chiến đấu tới viên đạn cuối cùng, không hổ danh Cọp Rừng Mũ Nâu. Kết quả, dù bị thiệt hại khá nặng, LÐ 1 BÐQ chỉ với 2 Tiểu Ðoàn thực sự tham chiến tại Hạ Lào cũng đã xĩa tên Trung Ðoàn 102d thuộc Sư Ðoàn nặng tinh nhuệ 308 Cộng quân.

Trước khi đi sâu vào chi tiết, cũng nên biết thêm về nguồn gốc việc đặt tên của cuộc hành quân cũng như các vị trí chiến lược quan trọng khác. Ðầu tiên, cuộc hành quân đánh sang Lào của QLVNCH vào năm 1971 được mệnh danh là Lam Sơn 719 vì Lam Sơn là tên tổng quát của các cuộc hành quân tại Quân Ðoàn I, tương tự như Cửu Long, Dân Chí ... là tên chung của các cuộc hành quân tại Quân Ðoàn IV v.v... Còn số 71 là viết tắt của năm 1971 khi cuộc hành quân khai diễn, 9 là đường số 9. Như vậy Lam Sơn 719 có nghĩa là cuộc hành quân do QÐ I chỉ huy, khai diễn vào năm 1971 tại khu vực đường số 9. Ngoài ra, tên các căn cứ QLVNCH tại Hạ Lào cũng được đặt theo qui ước Hoa Kỳ như Alpha, Delta, Hotel, Hill 31, Hill 30 v.v... để các phi công trực thăng Hoa Kỳ không bị lầm lẫn hoặc ngộ nhận khi liên lạc, yểm trợ các đơn vị QLVNCH dưới đất. Vào giai đoạn đánh chiếp Tchépone, SÐ 1 BB còn thiết lập những căn cứ mang tên ngoại quốc quen thuộc như LoLo, Liz, Sophia (những tên này do Ðạt Tá Vũ văn Giai, lúc đó là TLP SÐ 1 BB lựa chọn, theo tên của Gina Lolobrigidat, Liz Taylor và Sophia Loren là các cơ đào chiếu bóng nổi tiếng đương thời). Tuy nhiên, các đơn vị QLVNCH vẫn quen gọi các căn cứ của mình theo qui ước truyền tin Việt Nam, thí dụ như Hotel là Hồng Hà, Delta là Ðống Ða v.v...

Riêng phần BÐQ đóng rải rác trên nhiều ngọn đồi bên Lào nên các phi công Hoa Kỳ gọi chung là Ranger Hills. TÐ 39 BÐQ đóng ở phía Bắc nên được gọi là Ranger North để phân biệt với Ranger South là nơi TÐ 21 BÐQ đóng ở phía Nam cách chừng 4, 5 cây số.

Ðể dễ dàng theo dõi cặn kẽ những diễn biến trong các trận đánh lừng danh của Liên Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân tại Hạ Lào, chúng ta cần có khái niệm sơ lược về cuộc hành quân Lam Sơn 719. Vì vậy, bài viết được chia thành những phần chính sau đây:

- Những qui ước và định nghĩa danh từ xử dụng. - Khái niệm tổng quát về cuộc hành quân Lam Sơn 719. - Tóm lược những hoạt động của Liên Ðoàn 1 BÐQ tại Hạ Lào. - Tình hình tổng quát tại chiến trường trước khi xảy ra những trận đánh. - Trận đánh tại Căn Cứ Biệt Ðộng Quân Bắc (Ranger North). - Trận đánh tại Căn Cứ Biệt Ðộng Quân Nam (Ranger South). - Hậu quả và nhận xét.

A. Những qui ước và danh từ xử dụng

Ðể độc giả, nhất là đối với những người không ở trong quân đội, dễ dàng theo dõi và tránh ngộ nhận, tưởng cũng cần giải thích một vài qui ước và danh từ quân sự quan trọng được thường xuyên xử dụng trong bài viết này:

* Về thời gian:

Nếu chỉ viết ngày tháng mà không viết năm, xin hiểu là năm xảy ra cuộc hành quân, tức là năm 1971. Thí dụ: ngày 8 tháng 2 tức là ngày 8 tháng 2 năm 1971. Về giờ giấc đều dùng giờ Việt Nam, tức là múi giờ Hotel (giờ H, cách 8 tiếng đồng hồ so với giờ quốc tế Zulu tại kinh tuyến Greenwitch kinh độ 0 bên Anh. Giờ quốc tế còn gọi là giờ GMT - Greenwitch Mean Time).

* Về địa danh:

Vì cuộc hành quân Lam Sơn 719 diễn ra trên lãnh thổ Lào nên phần lớn các địa danh quan trọng trong bản đồ hành quân đều mang tên Lào, ngoại trừ những ám danh quân sự được dùng tiếng Anh hay tiếng Việt (như Lolo, Hồng Hà v.v...). Sau đây là một vài danh từ thông dụng:

- Ban hay Bản: tiếng Lào có nghĩa là làng hay "buơn" (của người Thượng). Thí dụ như "Bản Ðông" là làng Ðông. - Se: tiếng Lào có nghĩa là "sông". Thí dụ như Se Pone có nghĩa là sông Pone.

- Phou: tiếng Lào có nghĩa là núi. Thí dụ như "Phou Ta Pang" có nghĩa là núi Ta Pang.

* Về danh xưng:

Ðể tránh trùng điệp, cuộc hành quân Lam Sơn 719 còn được gọi là chiến dịch, cuộc hành quân hoặc trận Hạ Lào hay Nam Lào.

* Về vị trí:

Dùng tọa độ vuông "XD" trong bản đồ hành quân UTM.

* Ðịnh nghĩa một số danh từ quân sự

- Chiến trường:

Toàn bộ khu vực hành quân. Thí dụ như chiến trường Hạ Hào, do Tư Lệnh Chiến Trường hay Tư Lệnh cuộc hành quân Lam Sơn là Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm chỉ huy.

- Mặt trận:

Một phần của chiến trường hay khu vực hành quân. Thí dụ như chiến trường Hạ Lào được chia thành 3 mặt trận chính: Mặt Trận Vùng Bắc do LÐ 1 BÐQ đảm trách, Mặt Trận Ðường số 9 do Sư Ðoàn Dù chịu trách nhiệm và Mặt Trận Nam Ðường số 9 do SÐ 1 BB đảm trách. Mỗi mặt trận do một Tư Lệnh mặt trận chỉ huy. Các Tư Lệnh mặt trận đều thuộc quyền chỉ huy trực tiếp của Tư Lệnh Chiến Trường.

- Bãi Ðáp (BÐ - Landing Zone hay LZ): hay PZ). Bãi Ðáp còn được gọi là Căn Cứ hay Vị Trí nếu có quân trú đóng.

- Căn Cứ (CC) hay Vị Trí:

Nơi đơn vị quân đội trú đóng nhưng không có Pháo Binh cơ hữu để tự yểm trợ cho mình hay các đơn vị bạn. Thí dụ như CC hay BÐ BÐQ Bắc, BÐQ Nam v.v... )

- Căn Cứ Hỏa Lực (CCHL):

Là tên gọi tắt của Căn Cứ Yểm Trợ Hỏa Lực (Fire Support Base hay FSB); là những Bãi Ðáp, Căn Cứ hay Vị Trí có Pháo Binh đồn trú để tự yểm trợ hay phụ giúp các đơn vị bạn trong kế hoạch yểm trợ hỏa lực hỗ tương.

- Tiền Ðồn:

Những vị trí phụ thuộc bên ngoài của một Căn Cứ để bảo vệ cho vị trí chính. Mỗi căn cứ chính thường có nhiều tiền đồn để lo việc phòng thủ.

- Pháo Ðội (PÐ):

Thành phần của một TÐ Pháo Binh, tương đương với một Ðại Ðội của TÐ BB. Mỗi TÐ/PB thường gồm 4 PÐ: PÐ Chỉ Huy, PÐ A, B và C. Mỗi PÐ có 6 khẩu đại bác. Tên của PÐ thường được rút gọn như: PÐ C/44 có nghĩa là Pháo Ðội C thuộc TÐ 44 PB hoặc PÐ A/1 Dù: Pháo Ðội A thuộc TÐ 1 PB Dù v.v...

* Tên các Tiểu Ðoàn:

Thường được gọi tắt theo qui ước Tiểu Ðoàn/Trung Ðoàn. Thí dụ như TÐ 2/1 BB có nghĩa là Tiểu Ðoàn 2 thuộc Trung Ðoàn 1 thuộc Sư Ðoàn 1 BB; hoặc TÐ 2/3 Dù nghĩa là Tiểu Ðoàn 2 thuộc Lữ Ðoàn 3 Dù v.v...

B. Khái quát về cuộc hành quân Lam Sơn 719

(Bài viết chi tiết sẽ được phổ biến trong một dịp khác)

I. Ngày khai diễn

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 chính thức khai diễn ngày 8 tháng 2 năm 1971 khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) vượt biên giới Lào - Việt trên đường số 9 (gần Lao Bảo, Khe Sanh thuộc Vùng I Chiến Thuật).

II. Mục đích

Cắt đứt đường tiếp vận của Cộng quân bên Lào (đường mòn Hồ Chí Minh).

III. Các đơn vị QLVNCH tham chiến

1. Các đơn vị cơ hữu của Quân Ðoàn I

- Sư Ðoàn (SÐ) 1 BB (-) gồm có các Trung Ðoàn (Tr/Ð) 1 và 3 Bộ Binh. Sau này, vào giai đoạn đánh chiếm Tchépone, Tr/Ð 2 BB gồm 5 TÐ mới tham chiến. - Liên Ðoàn 1 Biệt Ðộng Quân (BÐQ) gồm các TÐ 21, 37 và 39. Sau này được tăng cường thêm TÐ 77 BÐQ Biên Phòng vào giai đoạn cuối của cuộc hành quân. - Lữ Ðoàn 1 Thiết Kỵ (TK) gồm có các Thiết Ðoàn 11 và 17, sau này được tăng cường thêm Thiết Ðoàn 7. Các TÐ 44 và 64 Pháo Binh Quân Ðoàn 1, trang bị đại bác 155 ly.

2. Các đơn vị tăng phái

- Sư Ðoàn Dù gồm 9 Tiểu Ðoàn thuộc các Lữ Ðoàn 1, 2 và 3 cùng các TÐ Pháo Binh 105 ly cơ hữu.

- Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến gồm 9 Tiểu Ðoàn thuộc các Lữ Ðoàn 147, 258 và 369 cùng các TÐ pháo binh 105 ly cơ hữu.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)