Quân Sự Quốc Tế

Đế Quốc Tàu Đỏ Xâm Chiếm Biển Đông

(hay Học Giả Trung Hoa Đang Được Trung Cộng Ráo Riết Sử Dụng Vào Mục Đích Thôn Tính Biển Đông)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

Vũ Cao Đàm

Nguồn: boxitvn

...

Năm là, chính quyền địa phương Trung Quốc cứu giúp tàu thuyền nước ngoài lâm nạn

Về sự kiện này, các học giả Trung Quốc dẫn hai văn bản đời Càn Long năm thứ 20 (1755) và năm thứ 27 (1762) chép việc tàu thuyền nước ngoài bị đắm ở “Cửu Châu Dương (thuộc) Vạn Châu” và ở “Thất Châu Dương”, Chính phủ nhà Thanh lệnh cho quan chức địa phương chu cấp cho người sống sót về nước (10).

Như trên đề cập, “Thất Châu Dương” là tên chỉ vùng biển kế cận đảo Hải Nam về phía Đông Nam và “Cửu Châu Dương” đã được tác giả bộ sách Lịch đại dư địa duyên cách hiểm yếu đồ (1879) ghi chú là “Thất Châu Dương ngày nay”.

Điều đó nói lên, cả hai vụ đắm tàu đều xảy ra ở vùng biển kế cận đảo Hải Nam, không phải là “vùng quần đảo Tây Sa”.

Sáu là, các đảo Nam Hải được vẽ vào bản đồ Trung Quốc

Các học giả dẫn 9 bản đồ và chia làm hai loại. Một loại là “bản đồ Minh, Thanh” (tức bản đồ Trung Quốc) có vẽ các đảo Hải Nam. Một loại khác là “bản đồ Minh Thanh và các nước Phiên thuộc” (tức bản đồ Trung Quốc và các nước trong khu vực) có vẽ các đảo Nam Hải. Loại thứ nhất, các học giả Trung Quốc và các nước trong khu vực) có vẽ các đảo Nam Hải. Loại thứ nhất, các học giả Trung Quốc dẫn 2 bản đồ gồm Thanh hội phủ, châu, huyện, sảnh tổng đồ (1800), nói là trên đó có vẽ “Nam Áo Khí”, “Vạn lý Trường Sa”, “Vạn lý Thạch Đường”, “Thất Dương Châu” và giải thích 4 địa danh này là các quần đảo “Đông Sa”, “Trung Sa”, “Nam Sa” và “Tây Sa”; Trực tỉnh hải dương tổng đồ trong Dương phòng tập yếu (1838) nói là trên đó có vẽ “Vạn lý Trường Sa” và giải thích từ ngữ đó chỉ chung các đảo Nam Hải; Quảng Đông dương đồ cũng trong Dương phòng tập yếu, nói là trên đó vẽ “Cửu Nhũ Loa Châu” và giải thích đó là quần đảo Tây Sa”.

Loại thứ 2, tác giả dẫn 10 bản đồ bao gồm Trịnh Hòa hàng hải đồ (1433); Vũ bị bí thư địa lợi phụ đồ (1637); Đại Thanh Trung ngoại thiên hạ toàn đồ (1709); Thanh trực tỉnh phân đồ (1724); Hoàng Thanh các trực tỉnh phân đồ (1755); Đại Thanh vạn niên nhất thống thiên hạ toàn đồ (1767); Đại Thanh vạn niên nhất thống toàn đồ (sau 1767); Đại Thanh vạn niên nhất thống địa lý toàn đồ (1810); Cổ Kim dư địa toàn đồ (1895)và nói rằng các đảo Nam Hải đã được vẽ vào các bản đồ này (11).

Đối với loại bản đồ thứ nhất, người ta có thể đặt câu hỏi là liệu Thanh hội, phủ, châu, huyện, sảnh tổng đồ có vẽ các địa danh mà các học giả Trung Quốc đề cập hay không, vì những bản đồ có tiêu đề tương tự mà người ta thấy như Hoàng triều phủ, sảnh, châu, huyện toàn đồ (1856), Hoàng triều trực tỉnh, phủ, sảnh, châu, huyện toàn đồ (1862) không thấy vẽ các địa danh nói trên. Dù bản đồ học giả Trung Quốc nói đến có vẻ các địa danh đó đi nữa cũng không có giá trị chứng minh chủ quyền. Bởi bản đồ này do học giả (Hiểu Phong) vẽ. Theo Luật pháp quốc tế, bản đồ nếu không được đính kèm theo một văn bản pháp lý sẽ không có giá trị chứng minh chủ quyền (12).

Đó là chưa kể các địa danh người Trung Quốc xưa dùng để chỉ các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa đã bị giải thích một cách tùy tiện. Bãi ngầm lớn nằm giữa biển Nam Trung Hoa, Phương Tây gọi là Macclessfield Bank còn nằm sâu dưới mặt nước vài chục mét được họ [người Trung Quốc] giải thích là một “quần đảo” và gán cho nó cái tên “Vạn lý Trường Sa”. “Thất Châu Dương” là vùng biển kế cận đảo Hải Nam về phía Đông Nam lại giải thích là “quần đảo Tây Sa”…

“Vạn lý Trường Sa” trên “Trực tỉnh hải dương tổng đồ” (Dương phòng tập yếu) cũng không thể giải thích là “lãnh thổ” Trung Quốc. Vì trên bản đồ này, ngoài “Vạn lý Trường Sa” còn vẽ các nơi khác nhau như “Vùng đất Hà Lan, Hồng Mao (Anh) đến buôn bán” (đảo Boóc-nê-ô ngày nay), “Tiểu Lưu Cầu”, “Đại Lưu Cầu” (nay là quần đảo Ryu-kyu của Nhật Bản), “Đối Mã” (nay là đảo Tsuma của Nhật Bản). Nếu “Vạn lý Trường Sa” được giải thích là “lãnh thổ Trung Quốc” thì các vùng đất khác đề cập ở trên có là “lãnh thổ” Trung Quốc không?

“Cửu Nhũ Loa Châu” trên Quảng Đông dương đồ (Dương phòng tập yếu) thì đã rõ. Trên bản đồ này, ký hiệu “Cửu Nhũ Loa Châu” được vẽ là hình núi cao (3 chóp nón) như ký hiệu “Lê Đầu Sơn”, “Nam Bành” cạnh đó mà hai nơi này người ta đã tìm thấy trên bản đồ phòng thủ biển trong Quảng Đông thông chí của Nguyễn Nguyên (1822) là những đảo ven bờ.

Đối với bản đồ thuộc loại thứ 2 cũng đã rõ. Trên một bản đồ vẽ cả Trung Quốc và các nước trong khu vực mà học giả Trung Quốc gọi là “Bản đồ Minh Thanh và các nước Phiên thuộc” thì lấy gì làm chuẩn để phân biệt đâu là lãnh thổ Trung Quốc, đâu không thuộc lãnh thổ Trung Quốc? Nếu “Các đảo Nam Hải” vẽ trên bản đồ đó là “lãnh thổ” Trung Quốc thì các nước trong khu vực có là “lãnh thổ” Trung Quốc không? Biết rằng, các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa đã được các học giả Trung Quốc thời xưa gọi là “Trường Sa”, “Thạch Đường” và vẽ trên các bản đồ khu vực Đông Nam Á mang tiêu đề Đông Nam Hải dư đồ hay Đông Nam Dương các quốc duyên cách đồ” (13).

Điều không khỏi ngạc nhiên là có hàng loạt sách địa chí và bản đồ Trung Quốc, kế cả của quốc gia (Nhà nước biên soạn) và thông thường (học giả biên soạn) lại không thấy các học giả Trung Quốc viện dẫn để chứng minh chủ quyền đối với các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa.

Đơn giản là bởi các sách địa chí và bản đồ đó đều chép hoặc vẽ phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam, chứ không bao gồm bất kỳ quần đảo nào ở biển Nam Trung Hoa.

Sách địa chí chính thức có Nguyên phong cửu vực chí (Tống), Đại Nguyên nhất thống chí (1294), Đại Minh nhất thống chí (1461), Đại Thanh nhất thống chí (1842). Bản đồ chính thức có Hoàng dư toàn lãm đồ (Hoàng Thanh nội phủ địa đồ) (1761), Hoàng dư toàn đồ (trong Khâm định Đại Thanh hội điển đồ) (1894).

Sách địa chí thông thường (do học giả soạn) thường được nói đến là Thái bình hoàn vũ ký của Nhạc sử, Dư địa kỷ thắng của Vương Tượng Chi đời Tống, Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư của Cố Viêm Vũ, Độc sử phương dư kỷ yếu của Cố Tổ Vũ đời Thanh.

Bản đồ thông thường có Vũ tích đồ, Hoa Di đồ, bản đồ Trung Quốc đời Tống khắc đá năm 1137 (phụ lục II) (Bảo tàng Tây An, Thiểm Tây), Địa lý đồ bản đồ Trung Quốc đời Tống, khắc đá năm 1247 (Tô Châu, Giang Tô) (14), Dư địa đồ của Chu Tư Bản đời Nguyên, trong Quảng dư đồ của La Hồng Tiên (đời Minh), Nguyên lộ, phủ, châu, huyện đồ trong Kim cổ dư địa đồ của Ngô Quốc Phụ (1638), Hoàng Minh đại thống nhất tổng đồ trong Hoàng Minh chức phương địa đồ của Trần Tổ Thụ (1628-1634), Hoàng triều phủ, sảnh, châu, huyện toàn đồ của Trình Tổ Khánh (1856), Đại Thanh trực tỉnh toàn đồ (khuyết danh)(1862), Hoàng Triều nhất thống dư địa toàn đồ (khuyết danh)(1894), Hoàng triều trực tỉnh đồ (1905, tái bản 1910), Đại Thanh đế quốc toàn đồ (1905, tái bản 1910) (Phụ lục II).

Trong đó bản đồ năm 1894 ghi rõ “Cực Nam” lãnh thổ Trung Quốc là “Nhai Châu, phủ Quỳnh Châu, Quảng Đông, điểm Bắc Cực 18 độ 13 phút”.

Sự thật là như vậy. Một vùng đất mà không được chép trong sách địa chí và thể hiện trên bản đồ từ đời Tống (960-1279) đến đời Thanh (1616-1911), kể cả chính thức và không chính thức, sao có thể là “lãnh thổ” Trung Quốc?

Các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa không được chép trong sách địa chí và thể hiện trên bản đồ Trung Quốc, nguyên do cũng dễ hiểu. Bởi như phần trên đã đề cập, các triều đại phong kiến Trung Quốc, cho đến trước năm 1909 không có bất kỳ đòi hỏi nào về chủ quyền đối với các đảo Nam Hải và không có bất kỳ hành động nào nhằm thể hiện quyền lực của mình đối với các quần đảo này.
Theo luật pháp quốc tế, để có một bộ phận lãnh thổ được coi là thuộc một quốc gia nào đó, điều kiện pháp lý cần thiết là lãnh thổ đó phải được đặt dưới chủ quyền quốc gia đó và giới hạn về lãnh thổ cần được xác định bằng việc mà quyền lực của Nhà nước được thực hiện trong giới hạn đó…(15).

Thật vậy, cho đến khi Trung Quốc đưa ra yêu sách đối với các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa vào nửa đầu thế kỷ XX các quần đảo này chưa bao giờ được đặt dưới chủ quyền của Trung Quốc và quyền lực của Nhà nước Trung Quốc chưa bao giờ được thực hiện trên các quần đảo này.

Song vì sao, ngày nay Trung Quốc khăng khăng nói rằng các quần đảo ở Biển Nam Trung Hoa là lãnh thổ từ ngàn xưa? Vấn đề là ở chỗ các học giả Trung Quốc đã đưa ra những thông tin sai lạc như được đề cập trong bài viết này. Những thông tin sai lạc đó, trên thực tế đã làm cho dư luận trong và ngoài Trung Quốc hiểu sai về vấn đề chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa. Nếu như người Trung Quốc hiểu rõ về lịch sử, hiểu rằng chỉ từ nửa đầu thế kỷ XX, nhà chức trách Trung Quốc mới đưa ra yêu sách về lãnh thổ đối với các quần đảo ở vùng biển này thì cách xử sự của họ có thể sẽ khác nếu như chuẩn tắc trong quan hệ quốc tế được tôn trọng .

Trình bày rõ sự thật về tài liệu lịch sử của Trung Quốc liên quan đến biển Nam Trung Hoa trong bài viết này, tác giả hy vọng có thể cung cấp cho bạn đọc những nguồn thông tin chân thực trong việc tìm hiểu luận thuyết của các học giả Trung Quốc đối với các quần đảo ở biển Nam Trung Hoa liệu có phù hợp với sự thật lịch sử, có sức thuyết phục và đứng vững được, hay không.

PH

HC Mạng Bauxite Việt Nam có chỉnh sửa ít nhiều lỗi phiên âm tên sách hoặc tên đất do nhầm lẫn khi đánh máy, kể cả trong chú thích.
(1) Sử Lệ Tổ “Các đảo Nam Hải từ xưa đến nay là lãnh thổ Trung Quốc” Quang minh nhật báo, 24/11/1975; Trương Hồng Tăng, “Xem xét chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Tây Sa và quần đảo Nam Sa từ góc độ Luật pháp quốc tế”, tạp chí Hồng kỳ số 4/1980; Hàn Chấn Hoa, Lâm Kim Chi, Ngô Phượng Bân, “Hội biên sử liệu các đảo Nam Hải nước ta”, xuất bản tại Bắc Kinh, 1988; Phan Thạch Anh, “Quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc-căn cứ lịch sử ngược dòng 2000 năm”, tạp chí Window (HongKong), 3/9/1993. 2
(2) Địa danh này ngờ là chỉ đảo Boóc-nê-ô hoặc đảo Gia-va ngày nay.
(3) Quỳnh Châu: một trong bốn châu nhà Đường đặt ở đảo Hải Nam: “Quỳnh Châu” ở phía Bắc, “Nhai Châu” ở phía Đông, “Đảm Châu” ở phía Tây, “Chấn Châu” ở phía Nam. Chỉ đến đầu đời Minh (thế kỷ XV) đảo Hải Nam mới được đặt quy chế một phủ, gọi là “Phủ Quỳnh Châu”.
(4) Đường thư, quyển 7, tờ 7a; Thái Bình hoàn vũ ký (Tống), quyển 169, tờ 11a-11b; Dư địa kỷ thắng (1221), quyển 124, tờ 2b; Quảng Đông thông chí (1731), quyển 5, tờ 74a-75a. 4
(5) Hàn Chấn Hoa, sách đã dẫn, trang 7 và 38 5
(6) Hàn Chấn Hoa, sách đã dẫn, trang 9 và 47 6
(7) Hàn Chân Hoa, sách đã dẫn, trang 133-136
(8) Trung Quốc Nam Hải chư đảo văn hiến vựng biên chi bát, Đài Loan học sinh thư cục, 1974, trang 22-33.
(9) Gouvernement Général de l’Indochine, Direction des Affaires Politique et Indigènes – Note, 6 Mai 1921, phụ lục tài liệu nghiên cứu của Giáo sư Monique Chemillier Gendrean nhan đề Avis juridique relatif au statut international des archipels de la Mer de Chine (Paracels-Spratlys) (1989). 7
(10) Bộ sưu tập, trang 68-70 8
(11) Hàn Chấn Hoa, sách đã dẫn, trang 8-9, 84-89
(12) Max Huber, Sentence artritrate rendue la 4 avril 1928, par Max Huber, entre les Etats-Unis et les Pays-Bas, dans le litige relatif a la souveraineté sur l’île de Palmas-RGDIP-Tome IX, 1935, trang 181. 9
(13) Trong Quảng dư đồ (1562), Cổ kim đồ thư biên (1585) Vũ bị chí (1628), Hoàng Minh chức phương địa đồ (1635), Địa đồ tổng yếu (1643) Độc phương dư kỷ yếu (1678), Hải quốc đồ chí (1842), Dương phòng tập yếu (1847).
(14) Vương Dung, Trung Quốc địa lý sử cương, Bắc Kinh, 1958, phần bản đồ. 10
(15) Max Huber, tài liệu đã dẫn, trang 163, 164. 11
Phụ lục: DANH MỤC SÁCH VÀ BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC LIÊN QUAN ĐẾN BIỂN NAM TRUNG HOA ĐƯỢC ĐỀ CẬP TRONG BÀI VIẾT

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

Quân Sử Việt Nam (TOP)