Quân Sự Quốc Tế

Đế Quốc Tàu Đỏ Xâm Chiếm Biển Đông

(hay Học Giả Trung Hoa Đang Được Trung Cộng Ráo Riết Sử Dụng Vào Mục Đích Thôn Tính Biển Đông)

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

Vũ Cao Đàm

Nguồn: boxitvn

...

BÀI TRẢ LỜI (không ký tên tác giả):

1. Nguồn gốc của vấn đề Nam Sa.Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi về quần đảo Nam Sa và các vùng biển lân cận. Trung Quốc sớm đã phát hiện và đặt tên cho quần đảo này là quần đảo Nam Sa, là nước sớm nhất và duy nhất có quyền cai quản quần đảo Nam Sa. Chúng ta có đầy đủ chứng cứ lịch sử và pháp lý. Cộng đồng quốc tế phải thừa nhận điều đó. Thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ Hai, Nhật Bản phát động chiến tranh với Trung Hoa chiếm lĩnh đại bộ phận lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm cả quần đảo Nam Sa. Theo những quyết định trong Tuyên ngôn Cairo, Thông báo Potsdam và những văn kiện quốc tế khác thì Nhật Bản phải trả lại những gì đã chiếm của Trung Quốc, tất nhiên là bao gồm cả quần đảo Nam Sa. Tháng 12/1946, chính phủ Trung Quốc cử quan chức cấp cao đến nhận Nam Sa, và đã cử hành một lễ nhận chính thức trên đảo này, đồng thời lập bia kỷ niệm có quân đội nắm giữ. Năm 1952 Nhật Bản chính thức tuyên bố “từ bỏ tất cả quyền danh nghĩa và yêu sách về các đảo Đài Loan, Bành Hồ và cả đảo Nam Sa, Tây Sa”, từ đó đảo Nam Sa chính thức trả về cho Trung Quốc. Các nước đều biết rõ việc này. Trên thực tế, những hội nghị quốc tế sau này, Mỹ cũng đã công nhận chủ quyền quần đảo Nam Sa thuộc về Trung Quốc. Trong thời gian dài sau chiến tranh, thì không còn tồn tại những vấn đề xung quanh quần đảo Nam Sa và không có quốc gia nào còn có ý kiến gì về chủ quyền quần đảo Nam Sa và các vùng biển lân cận của Trung Quốc. Từ năm 1975 trở về trước, Việt Nam thừa nhận chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền của Trung Quốc về quần đảo Nam Sa. Trước những năm 70, cũng không hề có bất kỳ văn kiện nào hay người phát ngôn nào của Philipin và Malaysia nói rằng phạm vi lãnh thổ của 2 nước này bao gồm cả quần đảo Nam Sa. Theo Hiệp định Paris ký vào năm 1898 và Hiệp định Washington ký năm 1890 giữa Mỹ và Tây Ban Nha quy định rõ phạm vi lãnh thổ của Philipin không bao gồm quần đảo Nam Sa. Hiến pháp năm 1953 của Philipin và Hiệp ước liên minh quân sự Philipin-Mỹ năm 1951 cũng đã khẳng định thêm về điều này. Nhưng Malaysia đến tháng 12/1978, công bố trên bản đồ thế giới, bộ phận quần đảo Nam Sa và vùng biển được vẽ thuộc Malaysia.

Nhiều chính phủ các nước và các quyết định của nhiều hội nghị quốc tế đều công nhận quần đảo Nam Sa là thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Ví dụ như năm 1955, tại Manila, các hãng hàng không dân dụng quốc tế đã tổ chức hội nghị hàng không khu vực Thái Bình Dương, đã thông qua quyết định số 24, yêu cầu các nhà lãnh đạo Trung Quốc, Đài Loan phải tăng cường quan sát khí tượng trên đảo Nam Sa để không cho bất kỳ một người nào có thể kiến nghị hoặc chiếm giữ. Rất nhiều bản đồ của các nước đều ký hiệu quần đảo Nam Sa thuộc về Trung Quốc. Ví dụ: Bản đồ chuẩn thế giới do Bộ Ngoại giao Nhật Bản xuất bản năm 1952; hoặc bản đồ thế giới mới do Bộ Ngoại giao Malaysia xuất bản, bản đồ thế giới do CHLB Đức xuất bản năm 1954, bản đồ Thế giới do Penguin (Anh quốc) xuất bản năm 1956; Bản đồ kinh tế, chính trị thế giới Larousse (Pháp) xuất bản năm 1956 đều ký hiệu quần đảo Nam Sa thuộc Trung Quốc. Bản đồ thế giới do Việt Nam xuất bản năm 1960 và 1972 và cả sách giáo khoa xuất bản năm 1974 đều thừa nhận quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Khoảng 20 năm trở lại đây, bách khoa toàn thư của các nước như của Mỹ xuất bản năm 1963, Liên Xô xuất bản năm 1973 và niên giám thế giới do Nhà xuất bản Cộng đồng (Nhật) xuất bản năm 1979 đều thừa nhận quần đảo Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

Vào những năm 70, các nước Việt Nam, Philipin, Malaysia dùng lực lượng quân sự chiếm Nam Sa, thực hiện khai thác tài nguyên và đòi chủ quyền tại Nam Sa và vùng biển lân cận. Chính phủ Trung Quốc nhiều lần tuyên bố, những hành vi này là xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc, là hành vi phi pháp.Và những cơ sở pháp lý của các nước này sẽ không thể đứng vững nổi.

2. Trung Quốc có cơ sở lịch sử về chủ quyền Nam Sa.

Trung Quốc là nước phát hiện sớm nhất và đặt tên cho Nam Sa, là nước phát triển và quản lý quần đảo Nam Sa sớm nhất.

a. Trung Quốc phát hiện Nam Sa sớm nhất và đặt tên cho quần đảo Nam Sa.

Nhân dân Trung Quốc sớm phát hiện ra quần đảo Nam Sa có thể là từ thời Thượng Tổ đến Triều Hán, theo Di vật chí của Dương Phu thời Đông Hán viết “Trướng hải kỳ đầu, thủy thiển nhi đa từ thạch”, “Trướng hải” là cách gọi quần đảo Nam Sa mà người dân Trung Quốc khi ấy thường gọi, “kỳ đầu” là các bãi đá, cát... thuộc quần đảo Nam Sa và Tây Sa thời đó. Phù Nam truyện của Khang Thái nước Đông Ngô thời Tam quốc không những nhắc tới quần đảo Nam Sa mà còn miêu tả: Trướng hải trung, đáo san hô châu, châu đế hữu bàn thạch, san hô sinh kỳ thượng dã (Trong vùng sóng biển, đi đến đảo san hô, phía dưới có đá ngầm, san hô sinh trưởng trên đó).
Thời kỳ nhà Đường, nhà Tống nhiều tác phẩm địa lý lịch sử nổi tiếng nói đến Nam Sa như [những địa danh] “Cửu Nhũ La Châu – Nơi có 9 loài ốc sinh trưởng, “Thạch Đường”, “Nam Sa”, “Thiên lý Thạch Đường”, “Thiên lý Nam Sa”, “Vạn lý Thạch Đường”, “Vạn lý Nam Sa”. Vào thời nhà Tống, Nguyên, Minh, Thanh những sách ghi chép về quần đảo Nam Sa và về “Thạch Đường, Nam Sa” lên tới hơn trăm loại.

Vào đời nhà Nguyên, ghi chép về vị trí địa lý của quần đảo Nam Sa càng rõ ràng tỷ mỉ. Trong Đảo di chí lược của Uông Đại Uyên có nói: “Đê đá vạn dặm do bãi nổi theo thủy triều mà có, ngoằn ngoèo nối đuôi nhau như một con trăn chắn ngang qua biển... Mạch đất phát nguyên của nó rõ ràng có thể khảo sát được. Một mạch chạy đến Trảo Oa, một mạch chạy đến Bột Nê bắt gặp Cổ Lý Địa Muộn, một mạch chạy đến đất Côn Luân xa nơi vùng biển Tây Dương. Trong đó mấy chữ “đê đá ngàn dặm” là muốn chỉ bao quát quần đảo Nam Hải mà Nam Sa nằm trong đó.

Trong Hỗn nhất cương lý lịch đại quốc đô chi đồ dưới Triều Minh có nêu lên các địa điểm về con đê đá, Trường Sa và Thạch Đường. Từ những vị trí được vẽ ra trên bản đồ cho thấy, sau một con đê đá là quần đảo Nam Sa ngày nay.

Theo ghi chép trong cuốn Cánh lộ bạ Triểu Thanh, ghi chép cụ thể lại tên của những đảo, đá ngầm, biển, quần đảo Nam Sa mà ngư dân của đảo Hải Nam Trung Quốc đã quen dùng, trong đó Nam Sa có 73 địa danh.

b. Trung Quốc sớm khai thác quần đảo Nam Sa

Nhân dân Trung Quốc sớm phát triển ngành ngư nghiệp. Vào thời nhà Minh, Cảng Hải Khẩu, cảng Phố Tiền và cảng Thanh Lan và ngư dân huyện Văn Xương đã bắt hải sâm ở quần đảo Nam Sa.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

Quân Sử Việt Nam (TOP)