Quan hệ chiến lược giữa

Hoa Kỳ, Trung Quốc và Việt Nam

1, 2

Bùi Diễm

Ở vào thời đại toàn cầu hóa ngày nay không có nuớc nào, lớn hay nhỏ, có thể sống biệt lập được, nhưng nếu nói đến quan hệ giữa một nước này hay một nước khác thì ai cũng phải nhìn nhận là mối quan hệ Mỹ-Trung, giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc,  đặc biệt có ảnh hưởng quyết định đến nhiều nước khác. Tương lai của cả vùng Châu Á, Thái Bình Dương và nói rộng ra nền hòa bình trên thế giới, một phần không nhỏ, sẽ tùy thuộc vào những biến chuyển trong mối quan hệ giữa hai nước này. Một bên là siêu cường quốc Hoa Kỳ, có quyền lợi và ảnh hưởng ở khắp mọi nơi và một bên là Trung Quốc với một dân số hơn 1,3 tỷ người, nay sau ba thập niên liên tục phát triển đã trở thành một cường quốc kinh tế trên đường cạnh tranh  với Hoa Kỳ. Đây là một mối quan hệ phức tạp, đa dạng, bao gồm cả mọi mặt, từ chính trị, kinh tế đến chiến lược và ổn định, an ninh. Về chính trị thì rõ ràng là giữa hai nước khó có thể có sự đồng thuận về những vấn đề như tự do, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo (như trong trường hợp Pháp Luân Công) nhưng về kinh tế thì trái lại, cả hai bên đều bị đặt vào một hoàn cảnh quyền lợi chòng chéo, Trung Quốc  cần có thị trường của Mỹ để xuất cảng hàng hóa và nuôi dưỡng đà phát triển  trong khi đó thì Mỹ cũng cần đến Trung Quốc để có môi trường đầu tư, xuất cảng máy móc chế biến và được Trung Quốc mua Công Khố phiếu (một cách cho vay tiền -hiện nay là 868 tỷ dollars - để tài trợ bội chi ngân sách). Còn về mặt chiến lược và an ninh vùng thì ít nhất trong hiện tại, Trung Quốc cần có ổn định để có thể tiến tới trên đường phát triển và giữ vững tư thế một cường quốc đang lên. Tình trạng này dĩ nhiên luôn luôn thay đổi với thời gian. Trước đây vào thời điểm Trung Quốc còn đang trong giai đoạn đầu của những năm phát triển thì có lẽ Mỹ không cần quan tâm đến mức tăng trưởng quân phí của Bắc Kinh, nhưng bây giờ thì lại khác hẳn, nhiều chiến lược gia đã bắt đầu lo ngại về chương trình hiện đại hóa về mặt quân sự của Bắc Kinh, ngại rằng chương trình này sẽ cho Bắc Kinh cơ hội để theo đuổi những tham vọng bành trướng. Nói cho đúng thì hai nước vì quyền lợi bắt buộc phải hợp tác với nhau, nhưng lưôn luôn vẫn phải dè chừng lẫn nhau. Ngoài ra nhiều khi mối quan hệ cũng trải qua những thời kỳ mà người ta thường gọi là “nay căng thẳng, mai hòa hoãn”. Căng thẳng thì người ta phải kể đến những khủng hoảng dưới thời chính quyền Clinton (Mỹ ném bom lầm xuống tòa Đại Sứ Trung Quốc ở Belgrade, Nam Tư, Hạm Đội 7 của Mỹ tiến vào eo biển Đài Loan để tìm cách ngăn ngừa đụng độ giữa Trung Cộng và Đài Loan) hay dưới thời chính quyền Bush (mày bay Mỹ phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam và quân nhân Mỹ bị tạm giữ). Còn hòa hoãn thì người ta nghĩ đến chuyến viếng thăm của Chủ Tịch Giang Trạch Dân khi ông đến trang trại của ông Bush miền Texas hay chuyến viếng thăm Bắc Kinh của ông Obama và cuộc hội đàm thân mật giữa ông và Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào tháng 11 năm 2009. Và một tỷ dụ điển hình gần đây là bầu không khí căng thẳng do những lời tuyên bố của bà Hillary Clinton về Biển Đông và những lời đối đáp chống lại của ông Dương Khiết Trì. Căng thẳng nhưng rồi hòa hoãn lại trở lại ngay sau khi có cuộc viếng thăm Bắc Kinh của hai nhân viên cao cấp tòa Bạch Ốc, ông Larry Summers, Cố Vấn kinh tế của ông Obama và ông Dolidon, người vừa được cử thay thế tướng James Jones trong chức vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia tại tòa Bạch Ốc. Đặc biệt hơn cả về tình trạng hòa hoãn mới này là lời mời của Trung Quốc (nhân dịp hai Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc và Hoa Kỳ gặp nhau ngày 11 tháng 10 mới đây ở Hŕ Nội tại một hội nghị cấp cao do ASEAN tổ chức), mời ông Gates viếng thăm Bắc Kinh đầu năm tới để nối lại mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước bị đình hoãn từ ngày đầu năm vì Hoa Kỳ bán khí giới cho Đài Loan. Nói tóm lại, hợp tác hay canh chừng lẫn nhau, căng thẳng hay hòa hoãn, nóng hay lạnh, và ngay cả đến xác suất một sự đụng độ lớn có thể xẩy ra không, quan hệ Mỹ-Trung sẽ còn dành cho những người theo dõi tình hình nhiều biến chuyển trong tương lai. Tất nhiên, do vị trí địa dư và hoàn cảnh đất nước đang bị đe dọa, số phận của Việt Nam sẽ không thoát khỏi ảnh hưởng của những biến chuyển này.

Việt Nam đi với Tầu hay với Mỹ thì bảo vệ được chủ quyền ?

Kể từ những ngày nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam 10 năm trước đây ký kết với Trung Cộng một số hiệp ước về biên giới trên bộ và lãnh hải trong vịnh Bắc Bộ, trên thực tế Việt Nam đã mất đất, mất biển. Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa cũng rõ ràng đã mất và Nhà Nước không những không bảo vệ được những ngư dân lương thiện hành nghề ngay tại những vùng biển thuộc lãnh hải Việt Nam mà còn đàn áp cả những cuộc biểu tình của các anh chị em sinh viên yêu nước chống Trung Cộng. Ngoài ra nếu có thái độ chống đối thì chỉ là qua một vài lời phản kháng ngoại giao có tính cách chiếu lệ.Tình trạng này cho thấy Hà Nội quá khiếp nhược trước áp lực của nước bạn đàn anh và chính trong lúc dư luận đang băn khoăn không hiểu với cái đà này thì đất nước sẽ đi về đâu mà người ta được nghe những lời tuyên bố hứa hẹn dễ nghe của bà Hillary Clinton. Và có lẽ cũng từ đó mà có những câu hỏi “đi với Tầu hay đi với Mỹ ?”

Đi với Tầu thì Đảng Cộng Sản Việt Nam đã chủ trương chính sách này từ Hội Nghị Thành Đô năm 1990 giữa giới lãnh đạo của hai nước. Hồi đó, do nhu cầu của tình thế trong khi Liên Bang Sô Viết và khối các nước Đông Âu đang trên đường sụp đổ, hai bên đã bảo nhau nuốt những lời lẽ đắng cây coi nhau như thù địch của thời kỳ chiến tranh biên giới năm 1979 để ngồi lại gần nhau. Từ ngày ấy cho đến nay đã 20 năm, tình trạng này vẫn còn tồn tại bằng những khẩu hiệu bề ngoài như như 16 chữ vàng hay 4 cái tốt. Tồn tại ở đây tuy nhiên chỉ là trên nguyên tắc mà thôi, vả lại trên thực tế thì chế độ Hà Nội cũng không còn đường nào khác. Một mặt vì ý thức hệ, một mặt khác vì lý do thực tiễn, mô thức  “cởi mở” về kinh tế nhưng “ siết chặt” về chính trị của nước bạn đàn anh là một mô thức hợp với giai cấp lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nhất để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của họ. Hiện tại đã vậy, nhưng rồi đây tương lai sẽ ra sao ? Để trả lời câu hỏi này, có lẽ không mấy người Việt Nam có thể lạc quan nghĩ rằng chủ quyền của đất nước sẽ được bảo vệ về lâu về dài khi phải chứng kiến gần đây, năm này qua năm khác, chủ trương “gậm nhấm”, tìm cách đồng hóa Việt Nam dưới mọi hình thức của Trung Cộng. Lúc đó nếu còn Đảng thì Đảng sẽ chì còn là một cái đuôi vẫy theo cái đầu ở Bắc Kinh. Đi với Tầu theo kiểu này thì chắc sẽ không khá được, chủ quyền của đất nước sẽ mất dần và Đảng cũng sẽ chỉ là một đám người phục vụ ngoại bang. Đây là một viễn tượng bi đát, vô cùng khó khăn cho bất kỳ ai còn nghĩ đến sự trường tồn của dân tộc, và trong hoàn cảnh ấy, ai là người không nghĩ đến giải pháp đi với Mỹ, nhất là trong khi Mỹ lại công khai nói rõ ý muốn đóng một vai lãnh đạo tích cực hơn trước ở Á Châu và Biển Đông ?

Nhưng đi với Mỹ có được không ? Đi với Mỹ để cứu nước và để có cơ hội loại bỏ đảng Cộng Sản thì ai mà không muốn, nhưng vấn đề không đơn giản. Trước hết nếu khách quan nhìn vào đối tượng Mỹ thì ai cũng phải nhìn nhận Hoa Kỳ là một nước vừa giầu vừa mạnh, hơn nữa Hoa Kỳ không có tham vọng đất đai ở Việt Nam, ngoài ra giá trị cổ truyền cao đẹp của Mỹ lúc nào cũng là tự do, dân chủ và nhân quyền, nếu không nhờ Mỹ thì nhờ ai ? Do đó trông chờ vào Mỹ là điều hợp lý và tranh thủ được sự ủng hộ của Mỹ không những là điều nên làm mà còn là điều cần làm. Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là tìm được câu trả lời cho câu hỏi: người Việt Nam có thể trông chờ được vào người Mỹ tới mức nào. Phạm vi nhỏ hẹp của bài viết này không cho phép chúng ta trở lại những lỗi lầm hay mâu thuẫn của Hoa Kỳ trong trận chiến tranh Việt Nam đưa đến thảm trạng mà hậu quả còn kéo dài cho đến ngày nay cho cả hai dân tộc. Tuy nhiên, một vài nhận xét về nền dân chủ thông thoáng nhưng bất trắc của Hoa Kỳ cùng với những biến chuyển trên thế giới những năm gần đây cũng có thể cho thấy là dầu cho Hoa Kỳ thành thực có thiện chí muốn giúp một nước nào đó thì sự giúp đỡ cũng bị giới hạn. Bị giàng buộc bởi những nhu cầu chính trị nội bộ và sự suy sụp của nền kinh tế như hiện nay hay bị vướng mắc bên ngoài bởi hai cuộc chiến Irak và Afghanistan, Hoa Kỳ thường khó  theo đuổi đến nơi đến chốn chính sách của mình. Nói như vậy không có nghĩa là Mỹ đã mất hết ảnh hưởng trên chính trường quốc tế, nhưng nếu Việt Nam muốn trông chờ vào Mỹ về một phương diện nào đó thì cũng nên thận trọng tìm hiểu những giới hạn mà thực tế không cho phép bất kỳ một chính quyền nào của Mỹ, dầu là Cộng Hòa hay Dân Chủ, vượt ra khỏi được. Còn xa hơn nữa, nếu muốn tìm một thế liên minh chiến lược với Mỹ thì vấn đề lại thêm nhiều phần phức tạp. Vận động quốc tế, dựa vào ảnh hưởng của Mỹ để cùng với những nước trong Hiệp Hội các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) chế ngự đà bành trướng của Trung Cộng tại Biển Đông thì bắt buộc phải là hướng đi trước mắt cho Việt Nam nhưng nếu liên minh chiến lược có nghĩa là trong tương lai Việt Nam sẽ phải trở thành “tiền đồn” cho một thế lực này chống thế lực khác thì kinh nghiệm của trận chiến tranh Việt Nam cho thấy đó là điều phải tránh. Hơn thế nữa, nói đến liên minh thì cũng không nên quên là ngược dòng lịch sử, nhìn lại những trường hợp như Hưng Đạo Vương đời Trần chống quân Nguyên, Bình Định Vương đời Lê chống quân Minh, và Vua Quang Trung chống quân nhà Thanh thì vào những thời ấy chỉ có dân tộc Việt Nam đơn thương độc mã dưới sự lãnh đạo của những anh hùng dân tộc chống ngoại xâm chứ có trông chờ được vào liên minh nào đâu ?       

Hoàn cảnh khó khăn hiện tại của đất nước

Bài toán khó khăn của đất nước trong lúc này là chế độ độc tài đảng trị của những người Cộng Sản. Ngoài ra đất nước lại còn bị đe dọa bởi chính nước bạn đàn anh của họ. Có lẽ trong hàng ngũ lãnh đạo của họ cũng có người nhìn thấy hiểm họa và mong chờ người Mỹ nhưng đảng của họ há miệng mắc quai nên không làm thế nào hơn được là phản kháng cho có lệ, còn về tương lai của dân tộc thì đành phó thác cho thời vận. Buông trôi thì viễn tượng bị đồng hóa lâu dần cũng trở thành hiện thực, còn nếu phải đối phó với xâm lăng trực tiếp thì lấy gì mà trống chọi lại được với lực lượng uy hiếp của Trung Cộng nay đã được hiện đại hóa ? Hai việc phải làm là vận động quốc tế và trở về với dân tộc để có thế đứng vững chắc thì họ không làm hay không dám làm, trong khi đó thì lại đàn áp dân chủ và tôn giáo để tự đặt mình vào hoàn cảnh bị tách rời ra khỏi dân tộc, thành thử ra nếu trong hiện tại nói về hoàn cảnh khó khăn của đất nước thì hoàn cảnh đó thực sự bắt nguồn từ chế độ Cộng Sản độc tài đang ngự trị trên đầu dân tộc Việt Nam. Chừng nào còn chế độ này thì người dân Việt Nam không có cơ hội đóng góp để bảo vệ chủ quyền đất nước. Người dân Việt Nam chỉ một lòng một dạ, hăng hái đứng dậy để chống ngoại xâm (như đã từng làm trong lịch sử) nếu cảm thấy được là chống ngoại xâm có nghĩa là sẽ được sống dưới một chế độ thực sự dân chủ mang lại tự do và công bằng xã hội cho mọi người.

Trên đây là nói về trường hợp người dân sống ở trong nước, nhưng còn trường hợp hơn 3 triệu người dân Việt Nam hay gốc Việt Nam sống ở nước ngoài thì sao ? Nếu gặp phải giả thuyết Việt Nam bị Trung Cộng trực tiếp tấn công và nhà cầm quyền Cộng Sản kêu gọi “toàn dân kháng chiến” thì sao ? Về trường hợp giả thuyết này (mà xác suất có lẽ ít hơn là trường hợp lâu dần bị đồng hóa) có người đã lên tiếng cho rằng phải chống kẻ thù chung truớc đã. Viết đến đây, người viết bài này không khỏi nghĩ ngay đến trường hợp của đất nước khi toàn thể dân tộc muốn đứng lên để tranh đấu giành lại độc lập từ tay người Pháp năm 1945. Tất cả những người yêu nước, tất cả những đảng phái quốc gia đều một lòng chống Pháp nhưng chính quyền lúc ấy nằm trong tay đảng Cộng Sản và đánh Tây thì phải sắp hàng đứng sau đảng Cộng Sản. Thử hỏi, trong giai đoạn ấy, từ đảng Xã Hội và Dân Chủ (gần với đảng Cộng Sản) cho đến những đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng và tất cả những tổ chức khác ở ngoài Bắc và trong Nam, có tổ chức nào thoát khỏi được bàn tay sắt của những người Cộng Sản khi họ chủ trương tận diệt những nhóm khác với họ không ? Hết thời chống Pháp lại đến thời chống Mỹ, thử hỏi Mặt Trận Giải Phóng và Chính Phủ lâm Thời miền Nam sống được bao lâu sau 1975?  Nói như vậy không có nghĩa là người Việt ở ngoài nước không chống chủ trương bá quyền của Trung Cộng.

Ở vào thời đại toàn cầu hóa ngày nay, dư luận của cộng đồng các nước trên thế giới có một ảnh hưởng vô cùng to lớn. Cho đến nay, trên đường phát triển Trung Quốc đã tỏ ra hết sức lo lắng bảo vệ thanh danh của mình trên chính trường quốc tế và luôn luôn nhắc lại những lời tuyên bố chống chủ trương bá quyền. Nếu Trung Quốc công khai xâm lấn Việt Nam thì hành động này chắc chắn sẽ bị dư luận ở khắp mọi nơi lên án. Lúc đó cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nếu không được cơ hội cầm súng chống ngoại xâm, thì cũng sẽ được cơ hội giúp vào việc vận động quốc tế, góp một phần không nhỏ vào công cuộc cứu nước.

Kết luận

Bài viết đã dài, quyền lợi dân tộc là vấn đề trọng đại. Người viết bài này không có cao vọng đưa ra đề nghị này hay đề nghị khác mà chỉ làm công việc đưa ra một số nhận định về những việc đã xẩy ra, mong rằng sẽ làm sáng tỏ được một số vấn đề đang là mối quan tâm của tất cả những người ở trong và ngoài nước, nghĩ tới sự trường tồn của dân tộc, đang tranh đấu nhằm giải thể chế độ Cộng Sản để toàn dân  xây dựng một nước Việt Nam thực sự dân chủ, tôn trọng nhân quyền và công bằng xã hội, sống yên lành với các nước lân bang.

Bùi Diễm.

Hoa Thịnh Đốn, ngày 12 tháng 10, 2010

1, 2

Quân Sử Việt Nam (TOP)