Quan hệ chiến lược giữa

Hoa Kỳ, Trung Quốc và Việt Nam

1, 2

Bùi Diễm

Trong mấy năm gần đây, Trung Quốc đã bành trướng ảnh hưởng xuống miền Nam, trực tiếp đe dọa Việt Nam và gây hiểm họa rõ rệt dưới con mất người dân Việt, trong và ngoài nước. Trước sự kiện này,chúng ta đều có chung một mối lo: nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam và người dân Việt ở trong và ngoài nước sẽ phải đối phó cách nào với hiểm họa đang đe dọa đất nước ?

Từ lâu, câu hỏi này vẫn tiềm tàng trong dư luận Việt Nam, nhưng vừa được khơi lại bởi một vài biến chuyển mấy tháng vừa qua với nhiều chỉ dấu cho thấy chính sách của Hoa Kỳ có vẻ tích cực hơn trước đối với vùng Châu Á, Thái Bình Dương nói chung và với vùng Biển Đông và Việt Nam.

“Mỹ sắp trỏ lại Việt Nam” là câu nói của một số người. Với tâm trạng lo lắng và suy luận quá nhanh của nhiều người Việt thì đây không là điều mới lạ. Nhưng nếu bình tâm phân tích những diễn biến về ngoại giao và quân sự thì dầu Mỹ có trở lại hay không, ai cũng có thể nhìn thấy hoàn cảnh tế nhị của Việt Nam trong hiện tại. Do vị trí địa dư và chiến lược của mình trong vùng Biển Đông, Việt Nam bị đặt vào giữa một vùng tranh chấp. Tranh chấp đây không phải chỉ là tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay về lãnh hải, mà còn là giữa Trung Quốc và nhiều nước khác trong vùng, rồi nay tiếp đến lại thêm vụ tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lợi giữa Trung Quốc, một cường quốc đang lên với nhiều tham vọng và Hoa Kỳ, một siêu cường quốc đang muốn có mặt trở lại tại vùng Biển Đông.

Hoàn cảnh khó khăn này cùng với những bài toán đặt ra đã làm cho dư luận trong và ngoài nước đặc biệt trở nên sôi nổi. Rất nhiều người đã đưa ra những câu hỏi hay nhận định đủ loại như: “ Cả hai nhà nước Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc đều luôn luôn nói tới tình hữu nghị bền chặt giữa hai Đảng và hai Nước, phải chăng chủ trương bá quyền của Trung Quốc chỉ là trong đầu óc tưởng tượng của những người chống nhà nước Cộng Sản Việt Nam ?” Về trường hợp những chỉ dấu cho thấy Hoa Kỳ muốn có mặt trở lại ở vùng Biển Đông thì những câu hỏi lại là “Mỹ có thật sự trở lại để giúp Việt Nam không ? Việt Nam có thể trông chờ gì ở Mỹ ?” hay là “Liệu những tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lợi ở Biển Đông có thể đưa đến đụng độ giữa Trung Cộng và Mỹ không ?” Còn về nhận định thì người ta được nghe những nhận định như nửa đùa nửa thật nhưng có nhiều tính chất dân gian :  “ Đi với Tầu thì giữ được Đảng nhưng mất nước” và “Đi với Mỹ thì giữ được nước nhưng mất Đảng”           

Trung Quốc: phát triển trong hòa bình hay tham vọng bá quyền

Nói về sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khoảng thời gian ba thập niên trở lại đây thì không ai phủ nhận được những bước tiến ngoạn mục của nền kinh tế nước này. Kể từ đầu thập niên 80, chủ trương đổi mới của Đặng Tiểu Bình, mở cửa để đón nhận đầu tư ngoại quốc, đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của Trung Quốc. Mới chỉ trong khoảng có gần 30 năm, sau những năm đại loạn làm người dân đói ăn và chết cả hàng triệu người (36 triệu người trong ba năm “Nhẩy vọt vĩ đại”của Mao Trạch Đông) Trung Quốc không những đã kéo ra khỏi cảnh nghèo đói 400 triệu người dân mà còn lần lượt vượt qua được những nước lớn về mặt phát triển như Anh, Pháp Đức và cả Nhật Bản để mới gần đây được đứng vào hàng thứ hai trên thế giới sau siêu cường quốc Hoa Kỳ. Hàng hóa do Trung Quốc sản xuất tràn ngập trên thị trường quốc tế (đặc biệt trên thị trường Mỹ, tạo thâm thủng mậu dịch trên dưới hai trăm tỷ mỗi năm cho nước này) và làm cho dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc lên tới con số chưa từng thấy là 2.600 tỷ dollars.

Trung Quốc nhanh chóng đạt được kết quả này thì quả là môt thành tích không nhỏ trước thềm thế kỷ thứ 21. Nhưng thành tích càng lớn bao nhiêu (đặc biệt đây là trường hợp một nước với dân số hơn một tỷ người) thì lại càng làm cho những nhà ngoại giao, những quan sát viên hay những nhà phân tích ở khắp mọi nơi phải đặt câu hỏi: “rồi đây Trung Quốc sẽ xử sự thế nào trên chính trường quốc tế ?” 

Về câu hỏi then chốt này thì trong chính giới ở các nước Tây phương, người ta thường cho rằng càng phát triển và hội nhập vào cộng đồng thế giới thì Trung Quốc sẽ càng phải xử sự thuận theo quy luật chung của các nước tư bản Tây phương. Có nhiều nhà ngoại giao - như ông Robert Zoellick, trước đây là nhân vật số hai tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và nay là Thống Đốc Ngân Hàng Thế giới - cho rằng Trung Quốc đang trở thành một “thành viên có trách nhiệm” (a responsible stakeholder) trên chính trường quốc tế. Nhưng ngược lại, theo như tác giả Stefan Halper (một chuyên gia có thẩm quyền về Trung Quốc và bang giao quốc tế) đã viết trong cuốn sách The Beijing Consensus vừa mới được xuất bản thì rất nhiều nhà ngoại giao khác –như hai cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh Winston Lord và James Lilley- lại cho rằng Trung Quốc là một nước to lớn quá và tìm hiểu Trung Quốc ngày nay là theo đuổi một mục đích lúc ẩn lúc hiện (an elusive quest). Bảo rằng Trung Quốc đã thành công về tăng trưởng kinh tế thì đúng nhưng bảo rằng trong nội bộ Trung Quốc còn đầy mâu thuẫn và nền kinh tế còn rất nhiều nhược điểm thì cũng không sai, đồng thời người ta cũng có thể nói Trung Quốc là một láng giềng tốt nhưng lại là một mối đe dọa về mặt quân sự trong tương lai đối với các nước lân bang. Nói tóm lại , tùy theo cách nhìn và nhận định thì Trung Quốc về mặt đối ngoại có hai bộ mặt mà người viết bài này tạm gọi là Trung Quốc và Trung Cộng. Gọi là Trung Quốc nếu chúng ta dựa vào những lời tuyên bố chính thức của nhà cầm quyền Băc Kinh: Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào vẫn thường hay nói đến một thế giới hài hòa (an harmonious world) hay một xã hội hài hòa (an harmonious society) và sự phát triển của Trung Quốc là phát triển trong hòa bình. Riêng đối với trường hợp của nước bạn đàn em Việt Nam thì đã có “ tình hữu nghị bền chặt giữa hai nước và hai đảng” cùng với khẩu hiệu 16 chữ vàng và 4 cái tốt luôn luôn được nhắc tới mổi khi có buổi họp giữa hai bên. Hơn nữa lại còn Quy Ước Ứng Xử được ký kết giữa các nước trong khối ASEAN và Trung Quốc năm 2002 theo đó những nước trong vùng và Trung Quốc cam kết sẽ không dùng võ lực trong những vụ tranh chấp. Còn nếu gọi là Trung Cộng thì người ta phải nghĩ ngay tới chủ trương và hành động xâm lược những hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, những lời tuyên bố vùng bể Biển Đông thuộc quyền lợi “cốt lõi” của Bắc Kinh, ngang hàng với những vấn đề như Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương. Ngoài ra, người ta cũng không quên được sự kiện ngân sách quốc phòng của Trung Cộng hàng năm tăng lên gấp bội (được ước lượng là từ 105 đến 150 tỷ dollars năm 2008, so với trên dưới 50 tỷ hai ba năm về trước), cũng như việc xây cất căn cứ hải quân lớn Yulin tại đảo Hải Nam và sự có mặt thường xuyên của một lực lượng hải quân  khá hùng hậu trong vùng Biển Đông hay thái độ hung hăng của Trung Cộng gần đây đòi Nhật Bản phải xin lỗi trong vụ đụng độ giữa những tầu đánh cá của hai nước gần đảo Senkoku-Điếu Ngư đang trong vòng tranh chấp ở miền Tây Thái Bình Dương. Về cả hai bộ mặt Trung Quốc và Trung Cộng vừa được mô tả trên đây, có lẽ không ai biết rõ hơn là nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội. Còn đối với tất cả những ai đã đọc qua sử Việt Nam thì Trung Quốc hay Trung Cộng cũng chỉ là một nước Tầu mà dân tộc ta đã phải chịu đựng cả ngàn năm qua hai thời kỳ Bắc thuộc, nay lại nuôi tham vọng đè đầu đè cổ cai trị Việt Nam.          

Hoa Kỳ có thay đổi chính sách đối với Trung Quốc không ?

Nếu đem so sánh những lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton hồi cuối tháng 7 ở Hà Nội về vấn đề biển Đông với những lời tuyên bố của bà hồi đầu năm 2009 khi bà tới Bắc Kinh lần đầu tiên với tư cách là Ngoại Trưởng của chính quyền Obama thì ai cũng phải thấy sự khác biệt. Hồi đó, thuận theo chủ trương về mặt ngoại giao của ông Obama “tiếp cận và đối thoại” (engagement and dialogue) bà chỉ nói đến nhu cầu hợp tác giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trên hai lãnh vực an ninh quốc tế và kinh tế mà không đả động gì đến những vấn đề tế nhị như chính trị hay nhân quyền. Phải chăng vì vậy mà tại buổi họp của Diễn Đàn Khu Vực ở Hà Nội, khi bỗng nhiên nghe thấy bà xác định lập trường của Hoa Kỳ về những vấn để Biển Đông, Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì có cảm tưởng là Trung Quốc bị tấn công bất ngờ ? Ông giận dữ phản đối và như để nhần mạnh một cách rõ ràng hơn thái độ phản đối này, ngay sau buổi họp của ASEAN với Tổng Thống Obama ở Nữu Ước ngày 24 tháng 9, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lên tiếng chỉ trích bản thông cáo chung của buổi họp (trong đó có môt vài điều khoản nói lên sự cam kết của Hoa Kỳ đối với ASEAN) cho rằng Hoa Kỳ chủ trương xen lấn vào những việc thuộc Biển Đông. Tình trạng mới này đúng  là một trường hợp may mắn đối với những nước nhỏ ven bờ biển Đông và đặc biệt đối với Việt Nam: đang bị đe dọa bởi một nước quá lớn, quá mạnh thì lại được một siêu cường quốc ghé vai ủng hộ. Sự ủng hộ này có phải là một phản ứng nhất thời hay là một phần của một chiến lược lâu dài của Hoa Kỳ trong tương lai không, chưa ai được rõ, nhưng trong hiện tại, nếu phải đối phó với những đe dọa ngay trước mắt thì ít nhất trên phương diện nguyên tắc Việt Nam và những nước trong vòng tranh chấp với Trung Quốc cũng có thể tin được là Hoa Kỳ sẽ đứng về phía họ, lợi điểm mà họ cần phải nuôi dưỡng. 

Một vài nhận định về chính sách đối ngoại của Mỹ và quan hệ Mỹ-Trung

Trên đây là nói về trường hợp những nước trong vùng Biển Đông, còn nếu nói đến  những nước Á Châu nói chung thì để đối phó với sức mạnh bành trướng của Trung Quốc, không nước nào là nước không trông chờ và mong mỏi Mỹ có mặt thường xuyên trên vùng biển Thái Bình Dương. Tất nhiên không ai ngạc nhiên về sự trông chờ hay mong mỏi này vì chỉ có Mỹ mới có đủ khả năng ngăn chặn ảnh hưởng và tham vọng mỗi ngày một lớn củaTrung Quốc. Nhưng Mỹ có muốn cáng đáng trách nhiệm này không và quan hệ Mỹ-Trung lúc này ra sao ? 

Nước Mỹ là một siêu cường quốc hùng mạnh có ảnh hưởng bao trùm trên thế giới, đồng thời cũng lại là một nước có truyền thống dân chủ vững chắc. Truyền thống này có những nét đặc thù ảnh hưởng không ít đến sinh hoạt chính trị của mọi ngành, mọi giới trong xã hội. Nhìn từ bên ngoài vào thì tìm hiểu về chính sách đối ngoại của Mỹ không khó. Thể chế dân chủ của Mỹ thật là cởi mở và mọi hoạt động của các tổ chức chính trị và hai đảng lớn là Dân Chủ và Cộng Hòa đều là những hoạt động hoàn toàn công khai. Còn về báo chí của Mỹ thì không ai có thể nói là thiếu tự do được, do đó mà đường lối chính sách của chính phủ Hoa Kỳ thường ngày được mang ra công khai bàn cãi trên mọi cơ quan truyền thông. Nhưng cũng chính vì tính chất dân chủ công khai này mà vấn đề trở nên phức tạp. Sự hình thành của bất kỳ một chính sách nào, đối nội cũng như đối ngoại, đều tùy thuộc vào sự tác động giữa những trung tâm quyền lực mà ba thành phần chính là Tòa Bạch Ốc (Hành Pháp), Quốc Hội (Lập Pháp) và các cơ quan truyền thông (Dư Luận). Trên nguyên tắc thì vấn đề tìm hiểu có vẻ dễ vì chỉ có ba trung tâm quyền lực chính trên đây nhưng trên thực tế thì vấn đề hết sức khó khăn vì ngay trong nội bộ của mỗi trung tâm quyền lực có cả đến hàng chục trung tâm quyền lực nhỏ khác xâu xé lẫn nhau để tranh dành ảnh hưởng. Ngoài ra lại còn dư luận luôn luôn thay đổi do ảnh hưởng của các cơ quan truyền thông, vì vậy mà nếu nói tới chính sách đối ngoại của Mỹ thì phải hỏi ở vào “thời điểm nào?” vì thái độ của hôm nay rất có thể sẽ không còn là thái độ của ngày mai. Trong trận chiến tranh Việt Nam, tháng 8, 1964, Tổng Thống Mỹ Johnson được gần như toàn thể Thượng Viện và Hạ Viên (533 phiếu thuận trong tổng số 535Thượng nghị sĩ và Dân biểu tại Quốc Hội) ủng hộ chính sách giúp miền Nam Việt Nam chống Cộng Sản (Tonkin Resolution), thế mà chỉ vài ba năm sau, phong trào phản chiến đã soay ngược lại tình thế để rồi Mỹ lần lần kiếm giải pháp ra đi và bỏ rơi Việt Nam. Thực ra chỉ có trong thời gian gần 50 năm chiến tranh lạnh người ta mới được thấy một chính sách đối ngoại liên tục qua các nhiệm kỳ của nhiều Tổng Thống khác nhau, đó là chính sách ngăn chặn Cộng Sản (containment policy) còn về sau này thì nhiều khi người ta đã được thấy chính sách thay đổi một cách tương đối dễ dàng mỗi khi có một chính quyền mới được bầu lên. Tổng Thống George W.Bush chủ trương một hệ thống phòng thủ bằng hỏa tiễn ở Âu Châu và phải tốn rất nhiều công sức để thuyết phục Ba Lan và Cộng HòaTiệp chấp nhận. Nhưng rồi Tổng Thống Obama mới lên cầm quyền lại bỏ ngay chủ trương của ông Bush và thay thế bằng một chủ trương khác làm cho hai chính phủ Ba Lan và Tiệp ngỡ ngàng không còn biết xử trí ra sao và làm cho dư luận ở nhiều nơi đặt vấn đề về mức độ “khả tín” của chính sách Hoa Kỳ. Đối với những nước nhỏ như trên đây đã vậy nhưng còn đối với những nước lớn mà tầm quan trọng có thể có ảnh hưởng đến nền hòa bình chung trên thế giới hay an ninh của cả một Châu hay một Vùng thì sao? Và đây chính là câu hỏi mà những năm gần đây các quan sát viên quốc tế thường nêu lên mỗi khi đề cập đến mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.

1, 2

Quân Sử Việt Nam (TOP)