Quân Sự Quốc Tế

Người Hoa Hải Ngoại (trước năm 1990)

1, 2

Phạm Văn Tuấn

...
    
Người Trung Hoa đã thành công ở hải ngoại, vậy tại sao các tiến bộ kinh tế đã không thể đến với nước Trung Hoa trong nhiều thế kỷ? Nguyên do là vì chính quyền của một quốc gia không thể tạo nên sự phồn thịnh cho đất nước mà chỉ có thể tạo ra các điều kiện thuận lợi nhờ đó năng lực và các tài năng của một xã hội có thể nẩy nở tốt đẹp. Tại nước Trung Hoa khi xưa, nền Khổng Giáo đã coi nhẹ ngành thương mại với 4 giai cấp sĩ, nông, công và thương, và giới thương nhân đứng chót, cho tới khi làn sóng Cộng Sản tràn tới và chủ nghĩa Mác Xít của Mao Trạch Đông đã thay thế cho chế độ Khổng Giáo. Nhà nước Cộng Sản đã chửi rủa bọn tư bản và các thương gia bị lên án nặng nề là giới trung gian bóc lột. Các cơ sở doanh thương của nhà nước Cộng Sản thường làm ăn thất bại vì quản lý kém, không theo sát thị trường và luật cung cầu. Nền kinh tế chỉ huy của nhà nước Cộng Sản đã giới hạn sự luân chuyển tự do của các nguồn tư bản và lao động, và các chính sách từ trung ương thường hay đặt các nguồn tài nguyên sai chỗ, chỉ chú trọng tới nền kỹ nghệ nặng trong khi lơ là nền nông nghiệp cơ bản khiến cho người dân Trung Hoa vẫn nghèo khó, và sự sai biệt về lợi tức giữa các miền gia tăng trong các năm từ 1952 tới 1978.

3. Một số đầu tư của người Hoa hải ngoại vào Lục Địa    

Trong thập niên 1980, sau khi ông Đặng Tiểu Bình mở cửa lục địa Trung Hoa thì các người Hoa hải ngoại đã mang về quê hương của họ các tư bản và tài năng doanh nghiệp mà trước kia, họ đã bị áp chế trong nhiều thế kỷ. Các người Hoa hải ngoại đã đầu tư vào đất mẹ hơn 300 tỉ Mỹ kim trong thập niên 1990, chiếm khoảng 80% tất cả các đầu tư ngoại quốc và giúp cho tỉ lệ nợ nần quốc gia được giữ ở mức độ thật thấp, nhờ vậy nền kinh tế có thể phát triển cao. Các người Hoa hải ngoại đã lập nên vào thời kỳ ban đầu hơn 100 ngàn xí nghiệp liên doanh (joint ventures) tại Hoa Lục, xây dựng các kỹ nghệ xuất cảng, mang lại các kỹ năng quản trị và kỹ thuật mới có giá trị, và cung cấp các móc nối quốc tế. Ông William Overholt đã nói một cách khôi hài về nước Trung Hoa Lục Địa như sau: “Đây là một trường thương mại lớn nhất dành cho các nhà quản trị mà thế giới chưa từng có”. Ông này là giám đốc điều hành Bankers Trust Co., có trụ sở đặt tại Hồng Kông và ông cũng là tác giả của cuốn sách “Sự Thăng Tiến của Trung Hoa: Cải Tổ Kinh Tế đã tạo nên một Siêu Cường Mới như thế nào” (The Rise of China: How Economic Reform is Creating a New Superpower).    

Giống như nước Do Thái, Trung Hoa Lục Địa đã hưởng lợi rất nhiều về các tài năng, sự giàu có và các mối liên hệ của các người con tha hương. Như vậy Trung Hoa đã có một nguồn cung cấp bản xứ, đó là các tài năng hồi hương khiến cho Trung Hoa khác biệt với nhiều quốc gia đang phát triển là phải lệ thuộc vào tư bản và kiến thức kỹ thuật (know-how) ngoại quốc. Ông Dhanin Chearavanont, một người Thái Lan gốc Hoa đời thứ hai, là một trong các người giàu có nhất thế giới với tài sản trị giá tới 5 tỉ Mỹ kim (thập niên 1980), bao gồm các cơ sở sản xuất thực phẩm, chế tạo công nghiệp, viễn thông và địa ốc. Kể từ năm 1979 khi Trung Hoa Lục Địa mở cửa cho đầu tư ngoại quốc vào, ông Dhanin đã đổ tiền đầu tư vào miền đất mà khi trước cha của ông ta chỉ là chủ của một cửa tiệm nhỏ, đã di cư ra khỏi Trung Hoa vào khoảng năm 1921. Ông Dhanin đã cắt nghĩa về nước Trung Hoa Lục Địa như sau: “Tôi thấy rằng họ đã xa dần khỏi chế độ Cộng Sản và không thể trở lại được”. Trong thập niên 1980, đế quốc Hoa-Thái của ông Dhanin là nhóm xí nghiệp Charoen Pokphand đang điều hành 75 nhà máy thức ăn gia súc rải rác trên khắp Trung Hoa Lục Địa, ấp 5 triệu gà con mỗi ngày, là chủ của công ty sản xuất xe gắn máy lớn thứ hai tại Trung Hoa và đã đầu tư 1 tỉ Mỹ kim vào công việc phát triển địa ốc tại Pudon, vùng đặc khu kinh tế của thành phố Thượng Hải.    

Ông Robert Kuok, nhà triệu phú người Mã Lai, đã đầu tư 1 tỉ Mỹ kim vào miền quê hương mà cha của ông ta, cũng là một chủ tiệm nhỏ, đã rời đi vào đầu thế kỷ 20. Miền Đông Nam Châu Á đã gọi ông ta là “Ông Vua Đường” (the Sugar King). Ông Kuok đã kinh doanh các khách sạn, các tòa nhà cao tầng, các trung tâm thương mại và các nhà máy làm vỏ chai và vô chai Coca-Cola tại Trung Hoa.    

Ông Liem Sioe Liong đã di cư từ tỉnh Phúc Kiến tới Indonesia vào thập niên 1930 khi ông còn là một thanh niên để làm việc cho người chú kinh doanh về dầu đậu phọng. Khi ở tuổi 78, ông Liem kiểm soát nhóm xí nghiệp Salim, là tổ hợp các công ty lớn nhất của Indonesia với doanh số ước lượng 9 tỉ Mỹ kim trong thập niên 1980. Ông Liem đã đầu tư vào khu kỹ nghệ và hải cảng của miền quê hương của ông là tỉnh Phúc Kiến.    

Các đại công ty kiểm soát bởi ông Li Ka-shing của Hồng Kông, là nhà triệu phú với huyền thoại về hoa plastic, di cư từ tỉnh Quảng Đông, đã liên quan tới các dự án trị giá hàng tỉ Mỹ kim tại Trung Hoa, bao gồm cả việc phát triển địa ốc và hải cảng.    

john kao

Từ trái qua phải John Kao, Robert Kuok, Liem Sioe Liong, Li Ka-Shing

4. Các đặc tính của người Hoa hải ngoại   

Mạng lưới kinh tế của các người Hoa hải ngoại là một thứ không có hình thức, không theo quy luật rõ ràng và đã được gọi là “Nước Trung Hoa không biên giới” (China without boundaries). Ông S. Gordon Redding, giám đốc của Đại Học Thương Mại Hồng Kông và là tác giả cuốn sách “Tinh Thần của Chủ Nghĩa Tư Bản Trung Hoa” (The Spirit of Chinese Capitalism) đã nói: “Biên giới quốc gia đã bị xóa bỏ và người Hoa hải ngoại đã không rời bỏ nền văn hóa thương mại của họ, dù cho họ ngồi ở Bangkok, Đài Bắc hay Jakarta”.    

Vào hai thập niên 1960 và 1970, khi các công ty đa quốc Nhật Bản và Tây Phương đầu tư vào vùng Đông Nam Á, họ thường hợp tác với các doanh nhân người Hoa. Tại sao? Bởi vì họ thấy rằng những nhà thương mại này có kiến thức, có tư bản và có các liên hệ địa phương mà họ đang cần tới để hoạt động trong một nền văn hóa xa lạ đối với họ. Ông Wong Siu-lun, giáo sư môn Xã Hội Học tại Đại Học Hồng Kông đã nhận xét: “Các doanh nhân người Hoa thành công thì luôn luôn giỏi về cách xây dựng các quan hệ cá nhân với những người có chức quyền. Họ không lo chiếm giữ quyền thế mà lại khéo léo đạt được sự bảo vệ chính trị và họ cố gắng duy trì các liên hệ có lợi cho cả hai phía”. Một trường hợp điển hình về xây dựng các liên hệ cá nhân là ông Liem Sioe Liong tại Indonesia. Ông này cung cấp thực phẩm và làm bạn với ông Suharto trong cuộc chiến tranh giành độc lập từ tay người Hòa Lan vào thập niên 1940. Sau khi Tướng Suharto trở nên Tổng Thống Indonesia vào năm 1967, ông Liem đã thiết lập nên đế quốc của mình nhờ quyền khai thác về các kỹ nghệ như bột ngũ cốc và xi măng. Trong vài thập niên, nhiều người họ hàng của Tổng Thống Suharto đã tham dự vào các công cuộc làm ăn với các công ty của nhóm xí nghiệp Salim của ông Liem. Tham nhũng? Hối lộ? Các điều này có thể đúng với xã hội Hoa Kỳ nhưng lại không đúng tại các nước chậm tiến, nơi mà nền thương mại được xây dựng trên căn bản của các móc nối cá nhân!    

Trong thế giới kinh tế của người Hoa hải ngoại, các xí nghiệp gia đình là đơn vị kinh tế căn bản. Gia đình là công ty và công ty là gia đình. Đã không có sự chia ngăn giữa chủ nhân và nhà quản trị. Người gia trưởng kiểm soát công ty và theo truyền thống, các vị trí, các vai trò then chốt trong tổ chức được giao phó cho các người tin cẩn trong gia đình, và đã không có quan niệm về ngành quản trị chuyên nghiệp do người ngoài đảm trách. Đây là khuyết điểm đã khiến cho tổ hợp các xí nghiệp Astra, lớn thứ hai tại Indonesia, đã bị suy sụp vì sự bất tài của người con trưởng. Như thế, người Trung Hoa thường chỉ xuất sắc trong các tổ chức thương mại đơn giản, điều khiển bởi một người với các quyết định đúng lúc. Việc giành quyền sở hữu và quản trị cho một gia đình đã giới hạn tầm cỡ của các xí nghiệp và không cho phép nhà quản trị đối phó hữu hiệu với các phức tạp một khi xí nghiệp muốn phát triển hơn nữa.    

Theo giáo sư John Kao, giảng sư thâm niên của trường Thương Mại Harvard (HarvardBusiness School): “Trung Hoa (Lục Địa) giống như một khúc nam châm lớn thu hút người Hoa hải ngoại về mặt kiến thức và tư bản”. Người Hoa ở nước ngoài thường nói tới lòng ái quốc, nhưng động lực chính khiến cho họ đầu tư vào quê hương gốc là do lợi nhuận. Đầu tiên, họ quay về nơi làng cũ, quê cha, chứng tỏ các đức tính Khổng giáo như lòng từ tâm, quảng đại, chẳng hạn như việc xây dựng các trường học, các bệnh viện… Những quà tặng thực tế này đã làm vui lòng các bậc cao niên địa phương, nhờ đó họ đã mở đường dễ dàng cho việc đầu tư thương mại sau này.    

Các mạng lưới kinh tế Trung Hoa hải ngoại thường đi vào các miền duyên hải của Trung Hoa, chẳng hạn như Quảng Đông, Phúc Kiến, Thượng Hải. Công ty điện tử Grande Holdings đặt cơ sở tại Quảng Đông, chuyên sản xuất màn hình điện toán (computer monitors) và các dụng cụ âm thanh (audio equipments). Công ty McDonald cũng hợp tác với một số cơ sở của Hồng Kông để làm ăn tại lục địa Trung Hoa vào năm 1990. Hãng sản xuất giầy nhãn hiệu Nike đã có 8 nhà máy vào đầu thập niên 1990, đặt tại Quảng Đông và Phúc Kiến với các máy móc và nguyên liệu chở qua từ Đài Loan.    

Ngoại trừ trường hợp của các đại thương gia Đài Loan, người Hoa hải ngoại thường đi vào các ngành khai thác như địa ốc, mậu dịch (trading), vận chuyển đường biển (shipping), vải sợi và sản xuất đồ chơi. Các người Hoa hải ngoại (vào thời kỳ trước năm 1990) thường tránh né các kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi số vốn rất to lớn, như kỹ nghệ xe hơi, sắt thép và các ngành kỹ thuật cao (high-tech). Họ cũng không có khả năng đối với các phát triển thương mại quốc tế là nơi đòi hỏi sự phân quyền và đầu tư dài hạn với các tên sản phẩm thương mại danh tiếng như SonyProcter & Gamble.    

Vấn đề trở ngại đối với người Hoa hải ngoại là sự liên tục (continuity). Trước kia, tài sản khó có thể duy trì tốt đẹp được quá 3 thế hệ. Các sợi dây gia đình vừa là ưu điểm, vừa là khuyết điểm trong công việc quản trị thương mại. Nhưng thế hệ thứ hai và thứ ba của người Hoa hiện nay đã học hỏi được các kỹ thuật thương mại tân tiến, những điều hiểu biết này có thể giúp ích cho lớp người trẻ này xây dựng nên các cơ sở thương mại lớn lao hơn thứ của cha ông họ khi trước. Mạng lưới thương mại của người Trung Hoa hải ngoại đang là một trong các sức mạnh kinh tế lớn lao nhất của Thế Giới.              

Phạm Văn Tuấn

Quân Sử Việt Nam (TOP)