Quân Sự Quốc Tế

Người Hoa Hải Ngoại (trước năm 1990)

1, 2

Phạm Văn Tuấn

Vị Cha Già của Trung Hoa Dân QuốcBác Sĩ Tôn Dật Tiên đã lật đổ được triều đại Mãn Thanh vào năm 1911 do ngân quỹ đóng góp từ các cộng đồng của người Hoa hải ngoại. Giống như người Do Thái tại châu Âu, người Trung Hoa đã làm ăn buôn bán phát đạt tại châu Á. Họ đã có mặt tại Đông Nam Á hơn 500 năm về trước và phần lớn họ xuất phát từ hai tỉnh phía nam của Trung Hoa là Quảng ĐôngPhúc Kiến.   

Từ trái qua phải: Tôn Dật Tiên, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình 

1. Lý do người Trung Hoa di cư ra xứ ngoài    

Vào thế kỷ 17, người Trung Hoa đã tìm cách buôn bán tại vùng biển Nam Trung Hoa (the South China Sea) với người Bồ Đào Nha, Tây Ban NhaHòa Lan. Đã có một cộng đồng lớn người Hoa phát triển tại thành phố Manila và sau khi xứ Phi Luật Tân bị người Tây Ban Nha thuộc địa hóa, người Trung Hoa đã là kẻ trung gian, buôn bán giữa nước Trung Hoa và miền Acapulco của xứ Mễ Tây Cơ. Trong việc buôn bán giữa Trung HoaNhật Bản do người Hòa Lan thực hiện, có sự tiếp tay của người Hoa hải ngoại và cũng do người Hòa Lan khuyến khích mà người Trung Hoa lục địa đã tới định cư trên hòn đảo Đài Loan.    

Khi bành trướng quyền lợi tại quần đảo Mã Lai bao la vào các năm đầu thế kỷ 18, người Hòa Lan thấy rằng họ rất cần các nhân công để phát triển kinh tế của vùng này và họ đã khuyến khích người Trung Hoa di cư. Vào năm 1786 công ty Đông Ấn của người Anh đã được thiết lập tại Penang, xứ Mã Lai, rồi vào năm 1819 người Anh lại mở ra hải cảng Singapore. Để phá vỡ độc quyền của người Hòa Lan tại quần đảo Mã Lai, người Anh đã cho 2 hải cảng Penang và Singapore miễn thuế, do đó các người buôn bán Trung Hoa địa phương đã đáp ứng một cách nhanh chóng và tại cả hai nơi kể trên đều có các cộng đồng khá lớn người Trung Hoa, và sức lao động của người Hoa được coi như thiết yếu tại các tiểu bang của xứ Mã Lai.    

Vào khoảng giữa thế kỷ 19, chế độ nô lệ tại châu Phi bị bãi bỏ trong khi chế độ thuộc địa đang phát triển và cuộc cách mạng kỹ nghệ đang cần tới các nguyên liệu như đồng và thiếc, các sản phẩm như cao su và dầu cọ, và cũng cần tới sức lao động. Do đó đã nẩy sinh ra một loại hợp đồng lao động, một hệ thống cu-li, để cung cấp sức lao động Trung Hoa cho công việc xây dựng các đường xe lửa tại Bắc Mỹ, trong các hầm mỏ của vùng Caribbean, vùng Nam Mỹ và vùng Đông Nam Á. Tại vùng sau này, Singapore trở nên một cảng chuyển tiếp các cu-li tới các hầm mỏ và các đồn điền của xứ Mã Lai và của miền Đông Ấn Hòa Lan.    

Như vậy vì sao người Trung Hoa đã rời khỏi các tỉnh Quảng ĐôngPhúc Kiến vào giữa thế kỷ 19? Tại quê hương của họ, họ bị đói khổ, gặp cảnh loạn lạc và bị áp chế bởi giới quan lại trí thức. Triều đại Mãn Thanh đang suy tàn, các nền tảng xã hội và kinh tế đang sụp đổ. Trong các giai cấp xã hội Khổng Giáo, giới thương nhân bị xếp vào hàng chót (sĩ nông công thương) và bị coi là thấp hèn nhất. Các nhà buôn bị đánh thuế tùy ý, bị các quan lại địa phương nghi ngờ và chính quyền Trung Hoa phong kiến đã ngăn cấm ngoại thương vì coi đó là nguồn gốc mang tới các ảnh hưởng xấu.    

Những người Trung Hoa rời khỏi xứ sở là các nông dân rất nghèo khó, phần lớn không có học thức. Họ được mướn làm các cu-li hay các công nhân tại các nông trại, các hầm mỏ…, họ đã ký giao kèo với các chủ nhân đồn điền. Sự di dân vào lúc ban đầu này có tính dây chuyền vì có nhiều người cùng thuộc một giòng họ, cùng một làng mạc hay một khu vực.    

Khởi đầu, không ai thiếu may mắn hơn các người Hoa di cư này, nhưng họ đã vươn lên được trong xã hội bởi vì họ có sẵn các tập quán tốt, các giá trị và thái độ mà các xã hội địa phương đang cần đến. Không phải là chính trị mà chính là Văn Hóa đã cắt nghĩa sự vươn lên của người Hoa hải ngoại. Họ luôn luôn có các đức tính Khổng Giáo như tiết kiệm, kỷ luật, chăm chỉ, trông vào chính mình, lối kết hợp gia đình với bản thân và thái độ tôn trọng giáo dục. Gia đình Trung Hoa thì theo hệ thống dọc và phụ hệ, mỗi người trong gia đình đều có các bổn phận đối với tổ tiên và các thế hệ mai sau. Các bổn phận này không bao giờ chấm dứt. Theo truyền thống, mỗi người phải làm tốt tối đa mọi thành quả để làm rạng rỡ tổ tiên và phải tích lũy tài sản cho các con cháu về sau.    

Qua nhiều năm làm việc gian khổ và sống đạm bạc tại một xứ sở mới, người Hoa đã dùng số tiền vốn khiêm tốn của mình để mở ra các quày hàng hay các cửa tiệm nhỏ. Họ không mua đất đai mà ưa thích trở thành giới bán lẻ, bán sỉ, chế tạo dụng cụ hay cho vay tiền nông nghiệp.    

Sau khi các nhà thuộc địa châu Âu tìm cách khai thác kinh tế tại miền Đông Nam Á, các người Hoa đi theo sau các người Tây Phương, liên kết với nhóm chủ nhân kể trên và hưởng lợi, đồng thời cũng làm phát triển nền kinh tế vào lúc ban đầu. Người Hoa không phải là bộ phận cơ bản của nền kinh tế bản xứ và cũng không phải là bộ phận thương mại của hệ thống khai thác kinh tế Tây Phương, song họ lại ở giữa, liên lạc với cả hai. Người Hoa thuộc loại người trung gian lý tưởng. Sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, các chính quyền thuộc địa phải rút lui khỏi các nước Đông Nam Á và nhờ đó, người Hoa đã đóng các vai trò chính yếu của nền kinh tế tại nhiều quốc gia trong vùng.    

Khi bắt đầu bước vào ngành thương mại, các người Hoa hải ngoại đã nhận được sự giúp đỡ từ các nhóm, các bang hay các cộng đồng của họ. Các hội tương trợ này được tổ chức căn cứ vào gia đình, hay nguồn gốc địa phương, hay thổ ngữ, chẳng hạn như các bang người Hẹ, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến. Các hội hay các bang này đã hoạt động như một thứ ngân hàng nhờ đó người Hoa có thể mượn tiền, trao đổi tin tức, tuyển mộ nhân công, giới thiệu thương nghiệp, hay thương lượng các dịch vụ. Người Hoa hải ngoại thường tôn trọng chữ Tín, họ làm ăn bằng ước hẹn miệng và sự tin cẩn lẫn nhau, và họ không cần phải ký kết các văn bản, các giao kèo. Nếu một thương gia nào vi phạm lời hứa, người đó sẽ không bị truy tố ra pháp luật mà bị ghi vào sổ đen của các nhóm, các bang, đây là một tệ hại hơn, vì tất cả mạng lưới làm ăn của các cộng đồng ngừoi Hoa đều sẽ biết rõ sự việc và việc kinh doanh của người vi phạm kể như bị chấm dứt.    

Mạng lưới thương mại của người Hoa hải ngoại rất rộng lớn, liên kết nhiều xí nghiệp, có khi lan ra khỏi châu Á. Các gia đình giới thiệu nhau vào mạng lưới, để cộng tác, chung vốn với nhau trong các việc kinh doanh nhỏ, cũng như chia xẻ rủi ro và lợi nhuận. Các cơ sở làm ăn của người Hoa có thể vừa rất cạnh tranh với nhau, đồng thời lại cộng tác với nhau tùy theo hoàn cảnh. Một thương gia đúng đắn người Hoa thường có nhiều đức tính, chẳng hạn như đáng tin cậy, trung thành, kiêm tốn, quân tử, khéo léo trong mạng lưới và sẵn lòng chia phần lời cho các người cộng tác với mình.    

2. Người Hoa tại vùng Đông Nam Á    

Vào khoảng năm 1990, mạng lưới kinh tế của người Hoa hải ngoại đang tỏa rộng từ Hồng Kông tới Indonesia, từ Đài Loan tới Mã Lai, từ Thái Lan tới Singapore, và còn đang vươn qua Thái Bình Dương, bám gốc rễ tại Los Angeles, San Francisco, SeattleVancouver. Đây là một quốc gia kinh tế không biên giới với một sức mạnh năng động nhất, ảnh hưởng tới sự thay đổi kinh tế trên thế giới. Theo ước lượng, vào năm 1999 có vào khoảng 58 triệu người Hoa hải ngoại trong đó 55 triệu người  sống tại châu Á, bao gồm cả Đài Loan, Hồng Kông và Macau. Cái cộng đồng tỏa rộng này đã tích lũy tài sản dữ dội và đã tạo ra sức sản xuất kinh tế hàng năm hơn 1,000 tỉ Mỹ kim (a GDP of $1 trillion), tương đương với tổng sản lượng quốc gia của toàn thể lục địa Trung Hoa.    

Sản lượng của người Hoa hải ngoại cũng gia tăng hàng năm từ 7% tới 10%. Sắc dân Trung Hoa này cũng đang kiểm soát các miền đất rất giàu có, đó là Hồng Kông, Đài Loan và Singapore, với trữ kim là 200 tỉ Mỹ kim, ngang bằng với trữ kim của hai nước Đức và Nhật Bản cộng lại. Tại từng quốc gia ở Đông Nam Á, các người Hoa hải ngoại với dân số ít nhưng lại chiếm giữ phần tài sản riêng tư với tỉ lệ cao hơn hẳn dân bản xứ.    

Tại Indonesia vào năm 1998, thiểu số người Hoa chiếm 3% hay 4% dân số nhưng họ đã làm chủ được vào khoảng 70% tư bản trong nước và điều hành hơn 160 trong số 200 cơ sở doanh nghiệp lớn nhất. Tại Thái Lan, sắc dân Trung Hoa này đông vào khoảng 10% dân số nhưng đã kiểm soát tất cả 4 ngân hàng tư lớn nhất nước, gồm cả Ngân Hàng Bangkok, ngân hàng này là của gia đình Sophonpanich, gốc Hoa, với tài sản trên 2 tỉ Mỹ kim.    

Người Hoa hải ngoại do chiếm giữ được các tài sản kinh tế to lớn, nên thường bị tố cáo là đã bóc lột, khai thác dân bản xứ hay phục vụ cho quyền lợi của giới thực dân Tây Phương. Tại nhiều quốc gia ở Đông Nam Á, họ thường là các mục tiêu dễ dàng của các vụ xách động bạo loạn, giống như cuộc đập phá tài sản của người Triều Tiên tại Los Angeles hay của người Do Thái ở châu Âu, của người Ấn Độ ở châu Phi. Tại Kuala Lumpur, xứ Mã Lai, các vụ rối loạn sắc tộc đã bộc phát vào năm 1969 nên sau đó, chính quyền Mã Lai đã đặt thành luật một cách kỳ thị, dành công ăn việc làm và quyền sở hữu cho đa số người dân gốc Mã, bảo đảm cho các sinh viên gốc Mã có chỗ học tại đại học. Cũng thế, Indonesia đã đóng cửa các trường học Trung Hoa, bắt sắc dân người Hoa phải dùng tên Indonesia và các bảng hiệu dùng chữ Hoa bị cấm hẳn tại các nơi công cộng.    

Vào tháng 4 năm 1994, một vụ náo loạn lao động chống người Hoa đã xẩy ra tại Medan, một trong các thành phố lớn nhất của Indonesia. Một chủ nhân nhà máy người Hoa đã bị lôi ra khỏi xe hơi của ông ta và bị đám đông đánh đến chết.    

Tại nước Thái Lan theo Phật Giáo bao dung hơn, các người Hoa hải ngoại đã hội nhập tương đối tốt đẹp hơn vào xã hội Thái. Các vụ bạo loạn thường bị xách động bởi các kẻ mị dân, thuộc cả về phe tả lẫn phe hữu. Họ cố quên rằng các con cháu người Trung Hoa di cư đã mang lại cho các xứ sở này, năng lực, trí thông minh, tính cần cù, tài khéo léo và cả tư bản nữa. Nếu không có sắc dân người Trung Hoa, các xã hội địa phương này đã không thể phát triển như hiện nay. Câu nói: “Chỉ có chính quyền mới có thể trợ giúp cho các người nghèo thiếu may mắn” đã trở nên không còn đúng nữa bởi vì không ai thiếu may mắn hay cực khổ hơn những người Trung Hoa di cư lúc ban đầu.    


    
1, 2

Quân Sử Việt Nam (TOP)