Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà

Lời kêu gọi thứ 3

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

...

Ngài Pháp Thuận đưa bài thơ ấy, Khuông Việt thái sư bảo: "Ý của bài thơ này tôn vua nước Nam cũng như vua Trung Quốc", vua Lê Đại Hành ngợi khen bài thơ, xuống chiếu cho ngài Khuông Việt làm khúc hát tiễn Lý Giác rằng:

"Tường phong hảo, cẩm phàm trương, rao vọng thần tiên phục đế hương. Vạn trùng sơn thủy thiệp xương lãng. Cửu thiên quy lộ trường, tình thảm thiết, đối ly trường, phan luyến sứ tinh lang. Nguyện tương thâm ý vị biên phương, phân minh tấn ngã hoàng".

(Gió lành tốt, buồm gấm giương, xa ngó thần tiên về đế hương, muôn trùng non nước vượt sóng xanh, đường về muôn dặm xa, chén ly biệt, tình vấn vương, quyến luyến sứ tinh lang. Muốn vì biên cảnh dãi tâm tràng tâu rõ với Ngô hoàng). Việt Sử Tiêu Án

Do đó, kính xin chư quý độc giả bốn phương cũng như những nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam, chúng tôi mạn phép trả bài thơ sông núi nước Nam lại cho ngài Pháp Thuận thiền sư của năm 981 thay vì năm 1076 mà từ bấy lâu nay vẫn thường đề cập.

III. Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 1010:

Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà đã được vua Lê Đại Hành cùng ngài Pháp Thuận thiền sư sắp xếp một cách chu đáo, và cho xuất hiện trước sau một cách cẩn thận. Do đó đã là nền tảng vững chắc cho độc lập tự chủ của tộc bách Việt. Cho dù vua Lê Đại Hành chỉ trị vì được 24 năm và băng hà vào năm 1005, nhưng với nền tảng vững chắc này đã mở ra một thời đại huy hoàng cho lịch sử tộc Việt. Đồng thời đã mở đường cho một nhân vật lớn của lịch sử Việt Nam xuất hiện để tiếp nối di chí của nhà tiền Lê.

Như trên đã nêu sau khi vua Lê Đại Hành băng hà, trong nước xảy ra nhiều biến loạn, vì nhà vua theo triều trước (triều Đinh), phế trưởng lập ấu. Điều này khiến các vị hoàng tử tranh giành ngôi vị, tàn sát lẫn nhau, đưa đến kết quả Lê Long Đĩnh (hay Lê Ngọa Triều) lên làm vua sau khi giết vua Lê Trung Tông.

Khi vua Lê Trung Tông bị giết chết, triều đình bị xáo trộn, mọi người hoảng sợ bỏ chạy, chỉ còn Điện tiền quan Lý Công Uẩn ở lại ôm xác vua mà khóc. Lê Ngọa Triều vì muốn lấy lòng quan viên trong triều nên đã phong cho Lý Công Uẩn là Tứ xương quân phó chỉ huy sứ.

Trong bốn năm trị vì của Lê Ngọa Triều, nhà vua này chỉ lo hoang dâm tửu sắc lại tàn bạo độc ác, đã khiến đất nước bi đát, nhân dân lầm than. Do đó ảnh hưởng trầm trọng đến vận mạng đất nước khiến nhà Tống lăm le muốn trở lại xâm chiếm nước ta, nhưng họ vẫn còn chờ cơ hội tốt hơn. Và điều này là động lực xảy ra cuộc chính biến năm 1009 để nhà Lý thay thế nhà Tiền Lê cai trị xứ sở đối phó với ngoại xâm. Một trong những người chủ trương cuộc chính biến đó, không ai khác hơn là Vạn Hạnh thiền sư. Cũng nên biết thêm là thời vua Lê Đại Hành, Vạn Hạnh thiền sư là vị cố vấn quân sự cho nhà vua.

Do nhận thấy Lê Ngọa Triều đã không còn là mẫu người lãnh đạo lý tưởng của đất nước, một tiêu chuẩn mà Pháp Thuận thiền sư đưa ra trong bài thơ Vận Nước "...nhàn nhã trên điện các, cõi cõi hết đao binh" thực tế chỉ thấy ông vua này biểu hiện "...hung bạo trên điện các, cõi cõi khởi đao binh". Một trong những hành động hung bạo đó là Lê Ngọa Triều ngang nhiên róc mía trên đầu Tăng thống Quách Mão (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư gọi là sư Quách Ngang), làm bộ như lỡ tay làm đầu ngài Quách Mão bị thương chảy máu rồi cả cười. Hơn nữa sau hai năm cầm quyền Lê Ngọa Triều lại đổi tất cả vương phục của triều đình cũng như tăng đạo Đại Cồ Việt giống như triều đình nhà Tống.

Lý tưởng quân tử và lý tưởng bồ tát đã được lồng vào hai bài thơ Vận Nước Ý Dân và Nam Quốc Sơn Hà qua đó nêu bật đức tính cần phải có của một người lãnh đạo chính trị tài đức song toàn cho dân tộc. Đến ngày hôm nay, năm 2010, đức tính này vẫn còn có giá trị một cách tuyệt đối.

Lý tưởng quân tử được thầy Mạnh Tử định nghĩa như sau: Phú quý bất năng dâm. Khi người quân tử được giàu sang thì không nên say mê danh vọng, địa vị, sắc đẹp, bài bạc, hút sách ở cuộc đời; Bần cùng bất năng di. Người quân tử cho dù gặp nhiều khó khăn trở ngại hay bần cùng trong lý tưởng hay trên cuộc đời cũng không nên nản chí mà bỏ đi lý tưởng mình đã và đang theo đuổi; Uy vũ bất năng khuất. Người quân tử không bao giờ bị khuất phục bởi sức mạnh, cường quyền.

Lý tưởng bồ tát là lòng Nhân bao trùm trời đất. Cũng như thà bỏ mình chứ không bỏ hạnh. Đó là những điều tinh yếu được kết tập trong quyển Lục Độ Tập Kinh của bồ tát Khương Tăng Hội. Nhờ đâu có sự kết tập để tạo nên lòng nhân bao trủm trời đất đó? Chính là nhờ nền tảng tư tưởng thời vua Hùng là hai nền văn minh Đông Sơn, Lạch Trường kết hợp với tư tưởng Phật giáo mà hình thành nên. Chính nhờ lòng Nhân này, dân tộc Việt, văn hóa Việt mới còn hiện diện cho đến ngày hôm nay (thế kỷ thứ 21).

Lý tưởng quân tử và lý tưởng bồ tát đã là nền móng vững chắc để hình thành nền Tam giáo đồng nguyên tức là Phật giáo, Khổng giáo và Nho giáo. Mà người có công lớn nhất để thể hiện tư tưởng này thành một thực tế, người đó không ai khác hơn là Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Lý Công Uẩn.

Do những sự kiện nêu trên, cuộc chính biến năm 1009 đương nhiên phải xảy ra và đã đưa Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế.

Để tạo động lực và lý cớ chính đáng cho cuộc chính biến này, ngài Vạn Hạnh thiền sư đã chủ động sáng tác bài thơ nói về vận hạn của các triều Tiền Lê, Lý, Trần cũng như Hậu Lê. Bài thơ này là một bài sấm được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng như Việt Sử Tiêu Án nhận định như sau: "Xét một sơn sét đánh thành văn chỉ 40 chữ, mà khoảnh 1100 năm, sự phế hưng của các đời, tên họ đều bao gồm gần hết. Trời có nói gì đâu. Đó là bởi Vạn Hạnh giỏi việc xét đoán, nhân sét đánh cây bông gạo, thác văn vào đấy, để tỏ ra thần dị...".

Nguyên âm:

Thụ căn diễu diễu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Đông a nhập địa
Dị mộc tái sinh
Chấn cung hiện nhật
Đoài cung ẩn tinh
Lục thất niên gian
Thiên hạ thái bình

Nghĩa:

Gốc cây công thẳm
Ngọn cây xanh xanh
Hòa đao mộc rụng
Thập bát tử thành
Thời Trần giặc đến
Họ Lê tái sinh
Cung chấn trời hiện
Cung đoài sao chênh
Khoảng sáu bảy ngày
Thiên hạ thái bình

Ngài Vạn Hạnh thiền sư đã đem ý nghĩa bài sấm này bàn với Điện tiền thị vệ Lý Công Uẩn về việc lòng dân ý trời nhà tiền Lê phải ra đi, nhường chỗ cho nhà Lý lên tiếp nối di chí Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà; đồng thời Đào Cam Mộc cũng đã khuyên Công Uẩn: "Hồi trước đức vua tối tăm bạc ác, trời chán ghét ngài mà con ngài thì còn nhỏ tuổi chưa thể đảm đương buổi đa nạn này, dân chúng đang khao khát chân chúa ra đời như đại hạn mong mưa. Vậy Thân vệ nên thừa cơ hội cương quyết theo dấu vua Thang, vua Võ. Xem việc của họ Lê (chỉ việc vua Lê Đại Hành chấm dứt nhà Đinh) trước đây cũng là chính đáng, thuận lòng trời và lòng dân, sao lại khư khư giữ cái tiết mọn? ..."

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)