Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà

Lời kêu gọi thứ 3

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

...

Việt Sử Toàn Thư  của Sử gia Phạm Văn Sơn ở trang 149 ghi:

... Để phấn khởi tinh thần quân đội, Lý Thường Kiệt đã áp dụng một thuật tâm lý, là làm bốn câu thơ, cho người lén vào đền Trương Hát ở bên sông thét ra:

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

(ngưng trích)

Như thế Việt Sử Toàn Thư của Sử gia Phạm Văn Sơn ghi là 4 câu thơ trên là "Lý Thường Kiệt đã áp dụng một thuật tâm lý, là làm bốn câu thơ".

Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên viết năm 1329 đời vua Trần Hiến Tông truyện Thái úy Trung phụ dũng vũ uy thắng công Lý Thường Kiệt, không có một đoạn nào nhắc đến bài thơ sông núi nước Nam (bài thơ thần). Về chiến trường trên sông Như Nguyệt, Lý Tế Xuyên ghi : "...Nhà Tống sai tướng đem quân sang báo thù...Ông (Lý Thường Kiệt) cố sức đắp thành trên sông Như Nguyệt để chống giữ, rồi phản công lấy lại được Vũ-bình-nguyên... v.v... (ngưng trích)". Vỏn vẹn chỉ có thế.

Ở truyện Khước địch thiện hựu, trợ thuận đại vương Uy địch dũng cảm, hiển thắng đại vương (Việt Điện U Linh Tập), có đoạn viết: "...Đến thời vua Lý Nhân Tông (1072-1127) quân Tống sang lấn, tiến vào trong cõi. Vua sai Thái úy Lý Thường Kiệt lập trại ở ven sông để chống giữ. Một đêm, quân sĩ nghe trong đền có tiếng Thần ngâm thơ:

Nam quốc sơn hà nam đế cư,
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tác giả Lý Tế Xuyên có chú thích về bài thơ thần như sau: Theo quyển Thiên Nam vân lục liệt truyện A. 1442 T.V.K.H, tờ 57 và 58 chép, thì : khi vua Lê Đại Hành đi đánh giặc Tống, mộng thấy hai anh em ông Trương đến kể tên họ và nói : trước cùng thờ vua Ngô, sau nhà Ngô mất, Đinh Tiên Hoàng cố triệu ra làm quan, hai anh em không chịu, cùng uống thuốc độc chết, rồi được thượng đế thương, cho làm thần. Hai anh em hiển linh giúp vua Lê Đại Hành, ngâm một bài thơ như trên, quân Tống liền thua chạy.

Chép như vậy có lẽ không đúng bằng quyển này, vì theo sử và các sách Địa dư chí thì bài thơ nầy ở miếu thần ngâm lên, vào thời vua Lý Nhân Tông khi quân Tống sang lấn ta. (ngưng trích).

Tác giả Lý Tế Xuyên viết "không đúng bằng quyển này" quyển này là quyển nào, tác giả không nói rõ.

Sử gia Ngô Sĩ Liên và Thủ đại tạng thư hỏa chinh chưởng Trung phẩm phụng ngự, An tiêm lộ chuyển vận sứ Lý Tế Xuyên ghi thời điểm xuất hiện của bài thơ thần là vào năm 1076 và địa điểm là bên bờ sông Như Nguyệt từ đền của Trương Hát tướng quân. Điểm đáng chú ý là cả hai không nêu ai là tác giả; Tác giả Lý Tế Xuyên ghi ở phần chú thích hai vị tướng quân Trương Hống Trương Hát giúp vua Lê Đại Hành đánh quân Tống và ngâm bài thơ Thần. Nhưng tác giả lại biên vào phần chính của quyển Việt Điện U Linh rằng bài thơ Thần xuất hiện vào năm 1076, nhưng cũng không biên đền thờ của Trương tướng quân ở sông Như Nguyệt xuất hiện từ năm nào.

Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp có ghi đền thờ của Trương tướng quân ở sông Như Nguyệt được Vua Lê cho dựng lên sau chiến thắng năm 981.

Sử gia Phạm Văn Sơn trong Việt Sử Toàn Thư trang 149 ghi "Lý Thường Kiệt đã áp dụng một thuật tâm lý, là làm bốn câu thơ". Bài thơ thần xuất hiện cùng địa điểm, cùng thời gian, đồng thời nêu luôn tên tác giả.

Hai vị sử gia Ngô Sĩ Liên và Lý Tế Xuyên chưa từng nêu lên bối cảnh vì sao bài thơ sông núi (bài thơ thần) xuất hiện. Riêng sử gia Phạm Văn Sơn nêu lên lý do là "để phấn khởi tinh thần quân đội".

Đối với chúng tôi đã không có sức thuyết phục cũng như độ tin cậy cao.

Qua những tài liệu lịch sử từ Lĩnh Nam Chích Quái xuất hiện gần cuối thế kỷ 15, đến Việt sử diễn âm và Thiên nam ngữ lục được soạn vào cuối thế kỷ 16 và 17 đã là những chứng cứ hùng hồn nhất, tin cậy về bài thơ sông núi nước Nam (bài thơ thần). Do đó đã cho phép chúng tôi nhận thấy giữa bài thơ Vận Nước và bài thơ Sông núi nước Nam, trước sau có sự gắn kết chặt chẻ nêu lên ý nghĩa Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà một cách cụ thể và rõ rệt nhất.

Dưới đây là một phần trích khác trong Việt Sử Tiêu Án nói lên tài năng tuyệt vời của ngài Pháp Thuận thiền sư.

... Năm Thiên Phúc thứ bảy (986) nhà Tống sai Lý Giác sang nước ta, đến chùa Sách Giang, vua Lê mật sai thiền sư Pháp Thuận giả trang làm quan coi bến đò để theo dõi đương sự. Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ ghi ngài Pháp Thuận là Thuận Giả.

Lý Giác là người giỏi văn chương, tình cờ thấy hai con ngỗng bơi trên mặt nước, ứng khẩu rằng:

"Nga nga song song nga nga,
ngưỡng diện hướng thiên nhai"

(hai con ngỗng
ngước lên trông chỗ trời xa) Việt Sử Tiêu Án.

Ngài Pháp Thuận cầm mái chèo đối lại hai câu thơ trên như sau:

"Bạch mao phô lục thủy,
hồng trạo bãi thanh ba"

(lông trắng trên nước biếc,
chân đỏ bơi trên làn sóng xanh). Việt Sử Tiêu Án

Sứ giả Lý Giác rất khâm phục tài của vị quan coi bến đò, nên khi tới sứ quán đưa bài thơ rằng:

"Hạnh ngộ minh thi tán uẩn du,
nhất thân lưỡng độ khứ Giao Châu,
Đông Đô tái biệt tâm vưu luyến,
Nam Việt thiên trùng vọng vị hưu.
Mã đạp yên vân xuyên lãng mạch,
xa từ thanh chướng phiếm trường lưu.
Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiến,
khê đàm ba tĩnh kiếm thiềm thu".
(May gặp Minh thì giúp trước sâu,
một mình hai độ đến Giao Châu,
Đông Đô từ biệt lòng vàng mến,
Nam Việt xa xôi ngóng chưa thôi,
ngựa đạp mây mờ xuyên đá gợn,
xe từ non biếc phóng thuyền theo,
ngoài trời còn trời nên xét thấu,
khe đầm sóng lặng thấy trăng thu).

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)