Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà

Lời kêu gọi thứ 3

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

...

Dưới đây là truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái của các tác giả Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn...(và còn một vài tác giả khác đã hiệu đính cho quyển sách này thêm phong phú ở một số thời gian sau). Lĩnh Nam Chích Quái là quyển sách sưu tập, biên soạn những thần tích kỳ lạ của nước Nam và những thần tích đó đã ảnh hưởng rất lớn đối với vận mạng dân tộc trong thời gian hàng ngàn năm.

Năm Thiên Phúc nguyên niên đời Lê Đại Hành, Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng cất quân sang xâm lược nam phương. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch, hai bên đối đá. Đại Hành mộng thấy hai thần nhân ở trên sông vái mà nói rằng: "Anh em thần, một tên là Trướng Hống, một tên là Trương Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ. Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế triệu hai anh em thần. Bọn thần vì nghĩa không thể theo được, uống thuốc độc mà tự tử. Thượng đế thương anh em thần có công lại trung nghĩa một lòng, mới phong làm quan tướng trong hàng các thần linh, thống lĩnh quỉ binh.

Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh giặc này để cứu sinh linh". Vua giật mình tỉnh dậy, mừng rỡ mà bảo cận thần rằng: "Có thần nhân giúp ta rồi vậy". Bèn lập tức đốt hương ở trước thuyền ngự mà khấn rằng: "Nếu thần nhân có thể giúp ta làm nên công nghiệp này, thì xin bao phong huyết thực muôn đời". Đoạn giết súc vật tế lễ, hóa mũ áo, voi ngựa, tiền giấy.

Đêm ấy Đại Hành mộng thấy hai thần nhân mặc mũ áo vua ban đến bái tạ. Đêm sau lại thấy một người dẫn đoàn quỉ áo trắng, tự phía nam sông Bình Giang mà tới, một người dẫn bọn quỉ áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng.

Thần nhân tàng hình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:

Non sông nước Nam, vua nước Nam ở
Điều ấy đã định rõ trong sách trời. 
Nếu như giặc Bắc sang xâm lược,
Thì sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ tre (Dịch ý)

Nguyên văn

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

Quân Tống nghe thấy, xéo đạp vào nhau mà chạy tan, lầm giết lẫn nhau, ai lo chạy thoát thân người ấy, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống đại bại mà về. Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truy phong cho hai vị thần nhân, một là Tinh mẫn đại vương lập miếu thờ ở tại ngã ba sông Long Nhãn, sai dân ở Long Nhãn, sông Bình Giang phụng thờ, một là Khước mẫn đại vương lập miếu ở ngã ba sông Như Nguyệt, sai dân ở bờ sông Như Nguyệt phụng thờ, hưởng huyết thực đời đời, nay vẫn còn là phúc thần.

Bài thơ Sông Núi Nước Nam (hay bài thơ thần) xuất hiện lần đầu tiên trong Lĩnh Nam Chích Quái được biên soạn vào cuối thế kỷ 14, rồi cuối thế kỷ 15. Là một tác phẩm văn hóa trác tuyệt bằng tiếng nôm, cổ xưa nhất, đáng tin cậy nhất khi đề cập đến bài thơ thần trong truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt. Và bài thơ Thần được xác định lại trong các tác phẩm Việt sử diễn âm và Thiên nam ngữ lục được soạn vào cuối thế kỷ 16 và 17.

Còn một điểm rất quan trọng được Lĩnh Nam Chích Quái nêu ra, đó là sau khi chiến thắng quân Tống năm 981, vua Lê Đại Hành đã cho người xây miếu thờ Khước Mẫn đại vương ở sông Như Nguyệt và Tinh Mẫn đại vương ở sông Long Nhãn. Do đó truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt ghi chép trong Lĩnh Nam Chích Quái đã minh chứng một điều, bài thơ sông núi (hay bài thơ thần) đã xuất hiện từ năm 981.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên soạn vào gần cuối thế kỷ 15 (năm 1479), được khắc in toàn bộ và công bố lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hoà thứ 18, triều Lê Hy Tông năm 1697, dịch giả Viện khoa học xã hội Việt Nam, xuất bản năm 1993 ghi sự xuất hiện của bài thơ thần Sông núi nước Nam như sau (Bản Kỷ - Quyển III - Nhân Tông Hoàng Đế trang 110):

...Một đêm quân sĩ nghe trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng :

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

(ngưng trích)

Không có dòng chữ nào ghi Lý Thường Kiệt là tác giả của bài thơ này cả. Nếu năm 981 vua Lê không cho xây miếu thờ Khước Mẫn đại vương (hay Trương tướng quân) ở sông Như Nguyệt, thì làm sao có đền của Trương tướng quân và tiếng đọc to phát xuất từ đền ấy năm 1076 cho được.

Những bản khác của Lĩnh Nam Chích Quái như Tục Loại của Đoàn Vĩnh Phúc soạn năm Quang Bảo thứ nhất (dương lịch 1500); Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập do Gia Cát Thị ghi vào năm Cảnh Hưng Giáp Ngọ (dương lịch 1774) cũng biên như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư về xuất xứ của bài thơ thần.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục do Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn vào các năm 1856-1881, dịch giả Viện Sử Học Hà Nội 1957-1960, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội xuất bản năm 1998 ghi: "...Kịp khi Ung Châu và Liêm Châu bị phá, An Thạch hay tin, giận lắm, bèn dùng Quách Quỳ làm Chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm Phó sứ, cầm đầu chín tướng quân, ước hẹn các nước Chiêm Thành và Chân Lạp cùng sang lấn cướp. Nhà vua sai Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt, đánh nhau kịch liệt, Thường Kiệt cả phá được địch" (Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục - Chính Biên - Quyển III - trang 141). Không một dòng chữ nhắc đến bài thơ thần.

Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, trang 127, truyện 5 - Lý Thường Kiệt bại Chiêm phá Tống...như trì thiên binh (13). Chú thích 13. Trì thiên-binh: rong-ruổi quân nhà trời. Tục truyền rằng khi đóng quân bên bờ sông Như-nguyệt để chống với quân nhà Tống (Tầu), Lý-thường-Kiệt đang đêm nghe thấy trong đền thờ Trương-Hát (xem câu 515-516) có tiếng ngâm thơ: "

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

(nghĩa là: đất nước Nam, thì vua nước Nam ở,
phần đất đã định rõ ràng trong sách trời.
Cớ sao giặc kia lại đến xâm phạm,
chúng bay rồi phải chịu thua).

Quân sĩ biết có bài thơ ấy đều nức lòng đánh giặc, sau quân Tống thua. Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca do Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái biên soạn năm 1870, học giả Hoàng Xuân Hãn đề tựa và dẫn tháng chạp năm 1956 tại Paris do nhà xuất bản Trường Thi xuất bản. (ngưng trích) 

Không có dòng chữ nào nhắc đến Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ thần cả.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Quân Sử Việt Nam (TOP)