Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà

Lời kêu gọi thứ 3

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

I. Dẫn Nhập:

Năm 981, khi nhà Tống đang mưu toan xâm lăng nước Ðại Cồ Việt, vua Lê Ðại Hành đã thường xuyên thỉnh ý Thiền sư Pháp Thuận về vận nước Nam sẽ như thế nào.

Ngài Pháp Thuận đáp rằng:

Vận nước như dây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Nhàn nhã nơi cung gấm
Cõi cõi hết đao binh

Ý nói vận nước dài hay ngắn là tùy thuộc theo lòng dân có đoàn kết hay không, thiền sư Pháp Thuận đã ví sự đoàn kết này như là bó dây cuộn lại (ngày nay ta dùng hình ảnh bó đũa), có đoàn kết thì chắc chắn quân dân ta sẽ chiến thắng giặc ngoại xâm và nước Nam được hưởng thái bình. Nhàn nhã đây ý nói bậc làm vua hay những người lãnh đạo phải có tài có đức thật sự thì các nơi mới hết nạn chiến tranh. Một ý nghĩa khác của nhàn nhã là người lãnh đạo chính trị không xem nặng tổ chức riêng hay dòng họ của mình; chỉ một lòng phụng sự đất nước và dân tộc.

Vua Lê còn nhờ ngài Khuông Việt thái sư cầu nguyện đức Tỳ Sa Môn Thiên Vương (là một vị thần hộ trì ngôi Tam Bảo) tại núi Vệ Linh, ở đền do ngài đã dựng lên, gia hộ cho quân dân nước Ðại Cồ Việt được chiến thắng quân nhà Tống do Hầu Nhân Bảo dẫn đầu sang xâm lăng nước ta.

Một hôm vua nằm chiêm bao và trông thấy hai vị tướng Trương Hạo Trương Hát là danh tướng của Triệu Việt Vương. Triệu vương bị Nam Ðế đánh bại, nhiều lần ông mời hai vị tướng này ra cộng tác nhưng họ đều từ chối, cuối cùng đã lấy cái chết để giữ tròn chữ trung với Triệu Việt Vương. Sau khi hai ông chết được phong làm thần và thấy nước Nam sắp bị kẻ thù xâm lăng liền thị hiện để tiếp cứu. Sáng hôm sau vua Lê thuật lại cho mọi người trong triều được biết, đồng thời lập đàn tràng cung thỉnh và khấn rằng: "Thần nhân có thể giúp ta thành được công nghiệp này thì việc phong thưởng và cúng đơm muôn đời sẽ không hết". Cũng trong đêm ấy vua lại nằm mơ thấy hai vị ấy hiện về để bái tạ. Một vị từ phía nam Bình Giang tới, vị khác từ sông Như Nguyệt xuống, cả hai đều nhắm hướng trại đóng binh của quân Tống mà tiến đánh.

Ngày 23 tháng 10, vào lúc canh ba, khi trời tối mịt, gió lớn lửa dồn nổ ra, quân Tống tan vỡ. Thần tàng hình  trên không trung, cất tiếng ngâm:

Non sông nước Nam, vua nước Nam ở
Điều ấy đã định rõ trong sách trời. 
Nếu như giặc Bắc sang xâm lược,
Thì sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ tre (Dịch ý)

nguyên âm

Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !

Quân Tống nghe thế hoảng sợ chen nhau bỏ chạy tứ tán, và quân dân Ðại Cồ Việt đã chiến thắng một cách vẻ vang.

Qua đó cho ta thấy rằng bài thơ bốn câu được xem là Tuyên Ngôn Ðộc Lập đầu tiên của một nước Ðại Cồ Việt thực sự tự do đã tuyên bố ngay từ năm 981 khi vua Lê Ðại Hành chiến thắng quân xâm lăng nhà Tống, chứ không phải năm 1076 khi Lý Thường Kiệt cùng quân dân  Đại Việt đánh bại nhà Tống trên chiến tuyến Như Nguyệt. Nguồn gốc của bài thơ Thần được ghi trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp (biên soạn cuối thế kỷ XIV), Vũ Quỳnh và Kiều Phú (biên soạn cuối thế kỷ XV) v.v... Ngoài ra còn được Việt sử diễn âm cũng như Thiên nam ngữ lục diễn đạt lại vào thế kỷ 16 và 17.

Sử gia Ngô Sĩ Liên khi biên soạn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (gọi tắt là Toàn Thư) gần cuối thế kỷ 15 đã đem bài thơ sông núi (bài thơ thần) trong truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt (thuộc Lĩnh Nam Chích Quái) vào Toàn Thư và gắn cho chiến trận trên sông Như Nguyệt năm 1076 do Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy. Ngụ ý của ông cho thấy là nhờ bài thơ thần này đã có tác động rất lớn đến tinh thần chiến đấu của binh sĩ và nhà Lý mới chiến thắng được quân xâm lược nhà Tống.

Sự thực là nhà Lý cũng như Thái úy Lý Thường Kiệt đã chuẩn bị cuộc chiến chống quân Tống một cách cẩn thận và kỹ lưỡng do đó đã tạo nên chiến thắng lẫy lừng bên bờ sông Như Nguyệt năm 1076 là điều đương nhiên. Tuy nhiên nền tảng của chiến thắng này đã được xây dựng từ chiến thắng quân Tống năm 981 thời vua Lê Đại Hành.

II. Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà năm 981:

Quả thực nền tảng của chiến thắng năm 1076 của Lý Thường Kiệt đã được xây dựng từ năm 981. Khi hai bài thơ Vận Nước và Nam Quốc (hay còn gọi là bài thơ thần) đều xuất hiện trước sau trong cuộc chiến tranh vệ quốc năm 981 dưới thời vua Lê Đại Hành. Cả hai đều có chung nguồn gốc và tác giả. Nguồn gốc và tác giả đó không ai khác hơn ngài Pháp Thuận thiền sư.

Khi vua Lê Đại Hành mới lên làm vua, theo Thuyền Uyển Tập Anh ghi Pháp Thuận thiền sư đã là người giúp đỡ rất tích cực. Do đó vua Lê đã hết lòng tin tưởng giao cho ngài phụ trách về mặt ngoại giao cho triều đình. Phụ trách ngoại giao như vậy chẳng khác nào một vị bí thư của nhà vua. Nếu không phải là một vị chơn tu đạo cao đức trọng, cũng như kiến thức uyên thâm làm sao vua Lê Đại Hành có thể tin tưởng giao trọng trách này được. Toàn Thư có nhắc đến vào mùa thu năm Canh Thìn (980) vua Lê có đưa một phái bộ ngoại giao sang Tống gồm nha hiệu Giang Cự Vọng và Vương Thiệu Tộ. Nội dung văn kiện ngoại giao mà phái đoàn này mang theo nhằm "hoãn binh nhà Tống". Người soạn văn kiện này cũng chính là Pháp Thuận thiền sư.

Song song, để chuẩn bị đất nước đi vào cuộc chiến đối phó với sự xâm lăng nhà Tống đã gần kề. Vua Lê Đại Hành đã cùng với Pháp Thuận thiền sư chuẩn bị về nhiều mặt khác nhau cho đất nước từ quân sự, chính trị cho đến văn hóa tư tưởng (phần dẫn nhập đã trình bày). Những biện pháp đó nhằm huy động tối đa nội lực dân tộc để đối đầu với thế lực xâm lăng hung hãn của nhà Tống do Triệu Khuông Nghĩa chủ trương.

Về mặt văn hóa tư tưởng cũng như nghệ thuật lãnh đạo đất nước, ngài Pháp Thuận đã thường nhắc nhở vua Lê qua bài thơ vận nước :

Nguyên âm:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh

Nghĩa:

Vận nước như dây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Nhàn nhã nơi cung gấm
Cõi cõi hết đao binh

Vận nước có vững chắc hay không, là do người lãnh đạo anh minh, nhân nghĩa, đó là những điểm tinh yếu mà bài thơ Vận Nước muốn nêu lên. Khi vận nước có vững chắc thì đất nước mới giữ gìn được sự độc lập tự chủ. Và đây là lý do tiếp theo để tạo điều kiện cho Bài thơ sông núi nước Nam (hay Bài thơ thần) xuất hiện trên chiến tuyến sông Đồ Lỗ (Toàn Thư gọi là sông Chi Lăng, Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sỹ gọi là sông Bạch Đằng) nơi quân dân Đại Cồ Việt dưới sự chỉ huy của vua Lê Đại Hành cùng tướng quân Phạm Cự Lượng đánh bại quân Tống của Hầu Nhân Bảo. Bài thơ Sông núi (hay bài thơ thần) đã khẳng định vị thế độc lập tự chủ của nước Đại Cồ Việt đối với nước Tầu phương Bắc của nhà Tống.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Quân Sử Việt Nam (TOP)