Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Quân Sự Việt Nam Vua Quang Trung

Hội Sử-Học Việt-Nam
Vietnamese historical Association
http://www.vnmilitaryhistory.info/

Thiên-Tài Quân-Sự Nguyễn-Huệ

quân sự việt nam, Nguyễn Huệ

Quang Trung Hoàng Đế

1, 2

Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo, Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính

Sông núi nước nam dân Nam ở
Rõ ràng ghi lại từ ngàn xưa
Nếu Tầu phương Bắc đến xâm phạm
Chắc chắn rồi bây sẽ bại vong

I/ Dẫn nhập:

Bài viết lược qua về trận Đống Đa đồng thời đề cập đến ý nghĩa của cuộc chiến thắng này tới cục diện ngày hôm nay, cũng như tưởng nhớ đến vị anh hùng lớn của dân tộc và cũng là thiên tài quân sự Việt Nam đã dựng nên một mùa xuân huy hoàng vào năm Kỷ Tỵ 1789. Người đó không ai khác hơn là Quang Trung Hoàng Đế Nguyễn Huệ.

II/ Những nguyên nhân xa gần:

Ngài tên thật là Thơm. Nguyên dòng dõi của Hồ Quý Ly: Sách sử nhà Tây Sơn chép rằng: tổ bốn đời của ông là người huyện Hưng Nguyễn, trấn Nghệ An. Vào khoảng năm 1653-1657, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, chúa Nguyễn chiếm được bảy huyện trấn Nghệ An, di dân vào Nam. Tổ bốn đời của ông cũng ở trong số di dân này.

Tổ bốn đời của ông lập nghiệp tại ấp Tây Sơn, thôn Cựu An thuộc phủ Hoài Nhơn, riêng thân sinh ông là cụ Hồ Phi Phúc dời ra cư ngụ tại ấp Kiện Thành, huyện Tuy Viễn ( nay là thôn Phú Lạc, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định). Trong nhà có 3 anh em trai. Nguyễn Nhạc là anh cả, Nguyễn Lữ là anh thứ và Nguyễn Huệ là em út. Có lúc Nguyễn Huệ còn đổi tên là Nguyễn Quang Bình.

Thời Chúa Nguyễn Định Vương, quyền thần Trương Phúc Loan ỷ thế, tham tàn bạo ngược khiến sinh linh vô cùng ta thán. Năm 1771, từ vùng đất Quy Nhơn, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ nổi lên lấy Tây Sơn làm căn cứ, chiêu nạp kẻ sĩ chống lại tham quan khiến người rủ nhau theo về ngày càng đông đảo.

Lấy danh nghĩa diệt trừ kẻ bạo ngược Trương Phúc Loan, ba ông cùng nhau lập mưu chiếm thành Quy Nhơn vào năm 1773. Thanh thế của ba ông càng ngày càng lừng lẫy, còn chúa Nguyễn ngày càng một nhu nhược đi. Do đó Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận và tận vùng Gia Định lần lượt lọt vào tay của nhà Tây Sơn một cách dễ dàng.

Năm 1776, Nguyễn Nhạc xưng Vương, lấy thành Chà Bàn làm kinh đô, Nguyễn Lữ được phong làm Thiếu Phó, còn Nguyễn Huệ là Phụ Chính. Năm 1777 (Đinh Dậu) Nguyễn Lữ đem quân vào Gia Định tiêu diệt hậu duệ của Chúa Nguyễn. Một điều không may là Nguyễn Phúc Ánh lúc ấy mới 17 tuổi đã nhanh chân tẩu thoát được.

Năm 1778 (Mậu Tuất) Nguyễn Nhạc xưng Thái Đức hoàng đế và phong Nguyễn Huệ làm Long Nhượng tướng quân.

Năm 1784 Nguyễn Phúc Ánh trốn từ đảo Phú Quốc sang Xiêm La cầu cứu và được vua Xiêm phái 3 vạn quân kéo sang nước ta. Khi đó ở Quay Nhơn, Nguyễn Huệ hay tin mang quân cấp tốc vào Gia Định để ngăn chận. Và ông đã đánh tan 3 vạn quân Xiêm ở Xoài Mút, Rạch Gầm (thuộc tỉnh Định Tường). Còn lại vài ngàn quân rút chạy hoảng loạn về nước.

Trong khi đó tại Bắc Hà, Trịnh Sâm phế con trưởng, lập con thứ là Trịnh Cán. Tháng 10/1782 (Nhâm Dần) Trịnh Sâm băng hà, Trịnh Cán bị lính Tam Phủ đảo chánh và đưa Trịnh Khải lên ngôi. Ỷ lập công với Chúa Trịnh, lính Tam Phủ hết sức lộng hành từ trong triều đình cho đến ngoài dân gian khiến dân tình ta thán vô cùng.

Nhân cơ hội này, Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm làm tả Đô đốc, Nguyễn Hữu Chỉnh làm hữu Đô đốc, thống lĩnh thủy lục quân vượt đèo Hải Vân tiến đánh Bắc hà. Và lần lượt các thành Thuận Hóa, Nam Sơn đều lọt vào tay quân Tây Sơn. Tại thành Nam Sơn, Nguyễn Huệ ra bố cáo cùng thiên hạ Diệt Trịnh Phù Lê vào năm 1786 (nhằm ngày 24/06 năm Bính Ngọ). Ngày 26/6, Trịnh Khải bỏ thành Thăng Long chạy trốn nhưng bị dân chúng bắt ở làng Hạ Lôi tỉnh Phúc Yên và giao nộp cho Nguyễn Huệ. Trên đường giải giao, Trịnh Khải đâm cổ tự tử.

Nguyễn Huệ tiến vào Thăng Long, phủ dụ dân chúng, quân nhà Tây Sơn kỷ luật nghiêm minh không hề đụng chạm đến của cải dân chúng. Vua Lê Hiển Tông phong cho ông là Nguyên Súy Dực Chính Phủ Vận Uy Quốc Công và gả Ngọc Hân công chúa là con gái thứ 21 của vua.

Vua Lê Hiển Tông băng hà, thái tử Lê Duy Kỳ nối ngôi lấy hiệu là Chiêu Thống. Nguyễn Huệ thu quân về Quảng Nam và hữu Đô đốc Nguyễn Hữu Chỉnh được cử ở lại Bắc Hà phụ giúp vua Lê.

Về đến phương Nam, vua Thái Đức phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, đóng ở Gia Định; Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương đóng ở Quảng Nam. Cùng năm ấy 1787 (Đinh Mùi) Nguyễn Hữu Chỉnh làm phản ở Bắc Hà, Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra giải quyết. Lê Chiêu Thống dẫn cả hoàng gia chạy lên Cao Bằng lánh nạn.

III/ Phá tan 30 vạn quân Thanh:

Sau khi trừ xong Nguyễn Hữu Chỉnh thì Vũ Văn Nhậm lại sinh ra cao ngạo chuyên quyền. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lại thân chinh ra Thăng Long và sau 10 ngày đã giải quyết được mồng móng chuyên quyền này. Còn Lê Chiêu Thống hoảng sợ chạy sang Tàu cầu cứu và vua Càn Long phái Tôn Sĩ Nghị đem 30 vạn quân Thanh xâm lăng nước ta dưới danh nghĩa là phò vua Lê.

Thế giặc như vỡ bờ, tướng Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhậm tạm thời rút về đèo Tam Điệp (tỉnh Thanh Hóa), rồi sai người cấp báo về Phú Xuân. Để chính danh trong việc chống giặc, Nguyễn Huệ đã lên ngôi hoàng đế lấy hiệu là Quang Trung nhằm ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (1788).

Ngày 20 tháng 12 năm 1788, toàn bộ quân lực của Quang Trung hoàng đế đã ra tới đèo Tam Điệp. Tại đây ngài ra lịnh cho quân lính ăn tết trước 10 ngày đợi đến đêm trừ tịch ra quân diệt giặc và hẹn ngày mồng 7 tết mở tiệc khao quân. Đúng đêm trừ tịch quân ta ào ạt Bắc tiến.

Thành Hà Hồi bị quân ta hạ nửa đêm mồng 3 tết; thành Ngọc Hồi sáng mùng 5 tết. Đây là trận chiến khốc liệt nhất. Giặc tàu trong thành bắn tên ra như mưa. Vua Quang Trung cởi voi đốc chiến. Quân Tây Sơn liều chết hàng hàng lớp lớp tiến lên. Thành vỡ quân ta tràn vào, xác giặc phơi thây ngập đồng, đề đốc Hứa Thế Thanh (quân Thanh) tử trận, Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử. Tôn Sĩ Nghị ở Thăng long hay tin nửa đêm bỏ chạy bỏ cả ấn tín, quân Thanh nhốn nháo tìm đường chạy trốn làm sập cầu phao bắc qua sông Nhị Hà rớt xuống sông chết vô số kể.

Trưa mùng 5 tết Quang Trung hoàng đế thúc voi vào thành Thăng Long, chiến bào còn nhuộm nùi thuốc súng cùng quân sĩ mở tiệc ăn mừng. Như vậy chỉ trong vòng 5 ngày ngắn ngủi quân ta đại phá 30 vạn quân nhà Thanh không còn manh giáp.

Phá xong quân Thanh, một mặt vua Quang Trung sai sứ sang Tàu ngỏ ý cầu hòa, mặt khác chuẩn bị binh mã Bắc phạt, lấy lại hai tỉnh Quảng Đông Quảng Tây để mở mang bờ cõi.

Mộng lớn chưa thành nhà vua đã cởi hạc quy tiên sau cơn bạo bịnh vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792), hưởng dương được 40 tuổi.

Sau khi Quang Trung hoàng đế băng hà, Nguyễn Phúc Ánh mượn sức người Pháp chiếm lại lãnh thổ, lên ngôi vua hiệu là Gia Long. Và đó cũng là nguyên nhân đất nước ta chìm đắm trong họa thực dân Pháp sau đó một thế kỷ kể từ hòa ước Patenôtre ( hòa ước Giáp Thân) ký vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 giữa quan Đại phu Phạm Thuận Dật và Patenôtre. Rồi họa cộng sản sau ngày 30/04/1975 cho đến nay.

1, 2

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)