Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

VỀ PHƯƠNG DIỆN TÔN GIÁO VÀ LỊCH SỬ

Cũng như nhiều dân tộc khác tiếp nhận đạo Phật và văn hóa Phật Giáo, nhưng người Việt đến với đạo Phật bằng lý trí trước, sau mới đến niềm tin. Thời đại nhà Trần có thể gọi là thời đại của lý trí và niềm tin tôn giáo mãnh liệt nhất. Họ được trang bị bằng trí tuệ để ứng xử trong đời sống xã hội. Họ cũng không quá say mê với giáo lý, không quá ép mình trong khuôn khổ nghi lễ gò bó, không dùng hào quang của đức Phật biến vua thành những ông trời con như Trung Hoa. Với người Tầu, tính chất tôn giáo luôn luôn là sự chuyên chế. Người Việt cũng không mất quá nhiều công sức mồ hôi của tín đồ để xây dựng nhiều chùa tháp nguy nga, kỳ vĩ như người Tầu, mà ngược lại người Việt chú trọng vào công việc đào tạo những con người “Ðại Hùng, Ðại Lực, Ðại Từ Bi”. Đạo lý từ bi và hiếu sinh được các vị hoàng đế Việt Nam đem ra ứng dụng trở thành một truyền thống. Nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi đã thể hiện tinh thần nhân bản của đạo Phật trong bài “Bình Ngô Đại Cáo” của ngài: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem trí nhân để thay cường bạo”.

Đạo lý được đức Phật dậy trong kinh Pháp Cú:

Hận thù diệt hận thù,

Đời này không có được,

Từ bi diệt hận thù,

Là định luật muôn đời.

Tháp Báo Thiên

Tháp Báo Thiên

Tinh thần từ bi, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng sự sống và hiếu sinh đã ảnh hưởng tâm hồn Việt Nam một cách sâu đậm, mà bản chất các giáo huấn của đức Phật mang tinh thần nhập thế rất cao, thông qua học thuyết tùy duyên... đặc biệt là thuyết tứ trọng ân: “Ơn Tổ Quốc, ơn đồng bào, ơn cha mẹ, ơn thầy Tổ”. Trong tứ trọng ân, ơn Tổ Quốc được đặt lên hàng đầu, làm cho tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của Việt Nam vượt qua các cơn phong ba bão táp. Tự tin ở nơi mình lấy bi-trí-dũng làm cốt lõi. Coi bà Trưng Trắc, Trưng Nhị, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Ðạo là những vị Bồ Tát hóa thân để hộ đạo cứu đời. Hơn nữa đạo Phật giúp xây dựng cộng đồng hòa thuận, êm ấm sống hạnh phúc, tránh lòng tham và thói xấu.

Sự hội nhập, giữa đạo Phật quốc giáo với ý thức dân tộc. Ở đây Tổ Quốc linh thiêng và cái tinh hoa cao quý tột cùng là lòng đại từ, đại bi quyện vào nhau, nâng đỡ nhau, tạo nên niềm tự hào sáng giá nhất của dân Việt từ nhiều thế kỷ. 

Chính vì thế, lịch sử Phật giáo không thể tách rời ra khỏi lịch sử văn hóa và xã hội Việt Nam. Trong tất cả ảnh hưởng đã un đúc nền văn hóa Việt Nam. Phật giáo được xem là thâm sâu nhất. Bởi vì trong thời gian 2000 năm những nguyên tắc đạo lý và tư tưởng nhà Phật đã thấm nhuần trong tư tưởng, cảm xúc của người Việt Nam. Nhất là giới lãnh đạo.

Ta có thể nói mà không sợ lầm lạc rằng, giới lãnh đạo triều đại nhà Lý, nhà Trần chịu ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng Phật Giáo.

Ý thức chủ thể cá nhân “vô ngã” (không coi trọng cái ta), vốn không nặng trong giáo lý nhà Phật mà thành phần được liệt vào hàng đệ tử ưu tú nhất, đại biểu cho tư tưởng Phật Giáo lại là các bậc quân vương, và chủ yếu là hành động (thực hành giáo lý). Thái độ của nhà vua đối với đời sống không phải chỉ là trí thức Phật Giáo suông mà là những gì tốt đẹp, hữu ích cho dân chúng. Ðiều đáng chú ý là các ông vua Phật Giáo không coi trọng quyền uy thế tục. Họ coi công danh, phú quý tựa như bèo bọt, không ông nào muốn làm vua, tư tưởng ấy thể hiện rõ ở nhà Trần như chúng ta đã thấy, vua Trần Thái Tông bỏ ngôi báu vào núi Yên Tử đi tu làm cả triều đình phải đi tìm. Vạn bất đắc dĩ Ngài mới phải quay về, gượng lên ngôi. Sau truyền ngôi cho Thánh Tông, cũng tôn hiền trọng đạo, không thích ở ngôi lâu. Đến vua Nhân Tông, Thánh Đăng Ngữ Lục ghi: “Vua Thánh Tông tính chuyện truyền ngôi cho hoàng tử Nhân Tông, song vua Nhân Tông từ chối muốn nhường ngôi cho em mình là Đức Việp. Sau khi không được phép nhường ngôi vua cho em, vua cũng bỏ hoàng cung đi lên núi Yên Tử. Sau đó vua Thánh Tông cho quần thần tung ra bốn phương tìm kiếm, thái tử bất đắc dĩ phải trở về lên ngôi.

Đến Trần Nghệ Tông, đời vua thứ 5 của nhà Trần, thực lòng Ngài không bao giờ muốn làm vua. Chí của Nghệ Tông là một khu rừng vắng, được làm bạn với chim rừng, vượn núi, được tiêu dao với suối, với hoa, được sớm tối bầu bạn ngâm thơ với tùng, với hạc... Khi có nạn giặc Dương Nhật Lễ trốn lên núi Tam Giang, ông đã cố ý chối từ lúc mọi người làm kiệu tay cùng tôn ông lên làm vua, nhưng không được, ông quyết khước từ.

Công chúa Thiên Ninh là chị ruột của ông bảo:”Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông mình, sao lại vứt bỏ cho kẻ khác? Em phải đi đi! Chị sẽ đem bọn gia nô dẹp nó cho!”. Đến như Trần Nguyên Đán, một người cùng chí hướng với Nghệ Tông, chỉ thích tiêu dao cùng suối rừng, cũng phải khuyên bảo: “Ông phải làm vua thôi! Tình thế lúc này bắt buộc, không thể có ý nào khác. Tôi xin hết lòng, hết sức phò tá.”

Rồi đến khi tất cả quần thần đồng lòng tôn ông lên làm vua, nên ông phải gượng lên ngôi. Nhưng khi ở ngôi báu, cái nợ suối rừng ấy đối với ông chẳng lúc nào nguôi. Vua sai lập cung Bảo Hòa ở núi Phật Tích, huyện Tiên Du, là nơi có phong cảnh đẹp lại gần kinh đô. Ngài thường lên đó để đọc kinh sách, làm thơ, chỉ có những việc như vậy mới làm ông vui vẻ, sảng khoái. Chính vì thế, ở ngôi báu mới được 3 năm, ông đã nhường ngôi cho em trai là Duệ Tông. Nhưng bà Lê Thị, hoàng hậu của Duệ Tông, là mẹ Linh Đức Vương, em họ của Quý Ly, khi Duệ Tông đi đánh giặc Phương Nam không trở về, bà cắt tóc làm ni cô. Khi Nghệ Tông lập Linh Đức lên ngôi, bà khóc lóc, can ngăn Nghệ Tông: “Tâu Thượng hoàng, con trai tôi đức mỏng khó kham nổi trách nhiệm lớn; ở ngôi cao chỉ có hại cho cơ nghiệp tổ tiên và nguy cho bản thân nó.” Sau đó, Thượng hoàng lập con út là Chiêu Định Vương Ngung làm hoàng đế. Ngung lên ngôi đổi niên hiệu là  Quang Thái năm thứ nhất, đại xá, xưng là Nguyên Hoàng. Năm ấy Ngung mới 13 tuổi. Vua dáng người thanh tú, khôi ngô, thông minh hơn người. Tuy còn ít tuổi, nhưng đã làu thông kinh sử. Thái thượng hoàng Nghệ Tông lập Ngung làm vua vì nhiều lẽ: Thứ nhất, vì là con út giống cha như đúc về đủ mọi phương diện; thứ nhì, vì Ngung hiền hậu, mà theo ý Nghệ Hoàng, hiền là điều quan trọng nhất của một ông vua; thứ ba, là vì Ngung thông minh, sáng láng.

Nhưng thực lòng, Ngung cũng không muốn làm vua, ông chỉ thích đọc kinh sách. Ông quỳ xuống tâu rằng:

- Xin cha thương con, con vốn không có chí làm vua, con chỉ muốn một cuộc đời nhàn rỗi, sống ngoài vòng cương toả, và ước muốn duy nhất là đi tu.

Thượng hoàng buồn rầu:

- Sao con lại nghĩ vậy? Con tưởng cha cũng thích làm vua hay sao? Lúc loạn Dương Nhật Lễ, mọi người trong tôn thất bắt cha phải đứng ra gánh vác dành lại ngôi báu. Cha cũng nhất quyết chối từ như con bây giờ. Công chúa Thiên Ninh là chị của cha nói với cha rằng: “Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông mình, sao lại bỏ được. Em đứng lên phất cờ, chị sẽ đem bọn gia nô dẹp yên được!

Thượng Hoàng rơm rớm nước mắt:

Bây giờ cha chỉ biết cậy vào con. Con không thương cha sao? Cơ nghiệp nhà Trần ta lúc này cần phải có một vị vua hiền. Cha tin con sẽ là một vị vua hiền.

Ngung buồn rầu, thở dài. Chàng không muốn trông thấy nước mắt của một ông vua già tóc đã bạc trắng, nhất là người đó lại là cha mình.

Sau khi lên ngôi vua, Ngung cho mời Thái Uý Trang Định Vương Ngạc vào cung nói:

- Ngôi báu vốn không phải của em. Chính anh mới là người xứng đáng lên ngôi Ðại  Thống.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

Quân Sử Việt Nam (TOP)