Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG I: Thăng Long Con Người và Lịch Sử

...

Minh Thánh Tổ định đô ở Bắc Kinh, trải qua quá trình xây dựng, hoàng đế cai trị triều đại Tử Cấm Thành chuẩn bị xây dựng vào năm thứ 5, niên hiệu Vĩnh Lạc của Minh Thánh Tổ. Chính thức xây dựng từ Vĩnh Lạc 15, Vĩnh Lạc 18. Thiết kế công trình, quan thái giám Nguyễn An, phụ trách công trình xây dựng Tử Cấm Thành là hầu tước Trần Khuê, người chỉ đạo thực hiện quy hoạch là Ngô Trung. Công việc xây dựng Tử Cấm Thành là một công trình khổng lồ vô cùng phức tạp. Chỉ riêng chuẩn bị cũng đã mất mười năm, cung thành của Tử Cấm Thành chủ yếu dựng bằng gỗ, phần lớn từ các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Giang Tây, Triết Giang, Tứ Xuyên núi sâu rừng thẳm, gỗ được chuyển ra từ Trường Giang, qua các sông ngòi lớn như Gia Lăng Giang, rồi từ sông Trung Giang chuyển ra sông đào lớn Đại Vân Hà, qua sông Huệ, từ Trường Gia cảng ở sông Thông Châu tới Sùng Văn Muôn của Bắc Kinh, cuối cùng được chuyển tới Thần Mộc Sương. Gỗ Hà Bắc qua Hán Thủy tới Trường Giang, Hồ Nam qua Tượng Giang tới Trường Giang, Giang Tây qua Cống Giang tới Trường Giang. Dân phu đẵn gỗ đi vào rừng sâu vô cùng gian khổ, thường vào núi một nghìn người ra núi chỉ còn năm trăm. Một số lớn đã bỏ xác nơi rừng sâu! Gỗ phải qua thân xác máu xương của cả triệu dân phu mới được chuyển tiếp về kinh đô.

Ngoài gỗ ra, việc xây dựng cung điện còn đòi hỏi một khối lượng đá, bột đỏ, gạch trong, ngói lưu ly. Đá trong cung điện Tử Cấm Thành chủ yếu là đá xanh, đá trắng, ngói diệp thanh, đá bạch ngọc. Những loại đá này khai thác từ khắp miền đất nước Trung Hoa, lượng gạch ngói dùng trong cung điện Tử Cấm Thành cũng rất lớn và vô cùng cầu kỳ, ngói lưu ly vàng hầu như phủ kín cả cung thành, dưới ánh nắng mặt trời lấp lánh sang trọng lộng lẫy, nó ngang bằng một sông máu núi xương của dân Tàu!

con rùa

Con rùa

Việc vận chuyển bằng thuyền to với hàng ngàn thủy thủ phải đào sông, bắc cầu, di dân, dời nhà ròng rã hàng năm trời mới chuyển được về Kinh, chưa kể đến nhân công xây dựng còn nặng nề khổ công gấp trăm lần.

Việc xây dựng cung điện và lăng mộ của các Hoàng Đế Trung Hoa. Sử sách đã ghi chép khá đầy đủ, lăng mộ Tần Thủy Hoàng, được xếp vào loại lớn nhất thế giới.

Sau khi thống nhất thiên hạ, Tần Thủy Hoàng đã bắt hàng triệu nhân công xây lăng mộ, đến ngày ông ta băng hà, công trình vẫn chưa xong. Nhị thế cho làm tiếp hai năm nữa mới xong, trước sau gần 40 năm, không biết bao nhiêu là xương máu của dân Tàu đã đổ vào đây để nó trở thành kỳ quan của thế giới. Làm cho dân Trung Hoa ngày nay, có thể hãnh diện về ông cha của họ.

Nhưng đối với những người làm sử, tách rời đời sống xã hội để xem xét văn minh Trung Hoa, là chỉ mới thấy cái xác của vấn đề… Cách tiếp cận là đi vào đời sống xã hội đương thời, lấy sự thật làm chuẩn mực xem xét văn minh, văn hóa, hiểu cả các thần thức động cơ của nền văn hóa, văn minh mà thiếu cái nhìn quán xuyến, mọi mặt, có thể làm mất đi một phần cấu trúc tổng thể hữu cơ tạo nên cái nền văn minh đó.

Theo cách nhìn nhận mới, khi nghiên cứu lịch sử, người ta đều đặt nó trong một tổng thể hệ thống. Khoa học hiện đại gọi là sự tiếp cận hệ thống, được áp dụng ở phương Tây từ nửa sau thế kỷ XX.

Trước đây, các hoàng đế Trung Hoa thường coi các dân tộc khác là man di, mọi rợ và nhiều người Trung Hoa thường có thái độ dị chủng, đem cái tiêu chuẩn riêng của văn minh, văn hóa dân tộc họ để đánh giá các nền văn hóa khác. Và coi những khác biệt của các nền văn hóa khác là sự thấp kém.

Ông cha ta đã phá vỡ vòng vây trói ấy rằng không phải chỉ có một nền văn minh mà có nhiều nền văn minh. Văn minh Việt Nam không cần xếp theo một trật tự tôn ty nhất định nào cả.

Việt Nam không có cái thứ văn minh dùng xương máu của dân để xây lên những cung điện, đền đài nguy nga vĩ đại. Vua Lý Nhân Tông lúc sắp lâm chung còn gọi quần thần vào cung di chiếu: “Trẫm nhắm mắt, việc tang chế trong ba ngày phải bỏ áo chở, thôi hẳn xót thương, việc chôn cất cứ theo lối tằn tiện không nên xây lăng mộ riêng.”

Chết rồi còn lo lắng cho quốc gia dân tộc, cảm thông với dân, thật chứa chan tình người qua lời căn dặn lại thần dân của Ngài.

Kể từ khi mang danh xưng nước Đại Việt, văn hóa, phong tục, lễ giáo, tư tưởng Việt đã khiến văn minh Trung Hoa không thể có gì so sánh nổi. Các Hoàng đế Việt Nam có nếp sống bình dị, nhất là các vua nhà Trần. Ðại sư Huyền Quang sống với Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ở Yên Tử đã cho ta thấy cuộc sống hàng ngày của Hương Vân Ðại Ðầu Ðà như thế nào!\

Mặc cà sa, nằm trướng giấy
Màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương
Quên ngọc thực, bỏ hương giao
Cạp nạnh cà một vò, tương một hũ.

Thật là một cuộc sống giản dị đến mức độ không ai có thể ngờ tới của một vị đại anh hùng, vừa chiến thắng oanh liệt kẻ thù, vừa là một vị hoàng đế đầy quyền uy, lại có thể sống một đời đạm bạc đến như vậy.

Tư tưởng trong sáng cao đẹp lạ thường trước mọi khoa trương của Trung Hoa, để đúc kết thành cái thị hiếu mỹ thuật và quan niệm văn minh riêng, tách rời khỏi ảnh hưởng của các triều đại Trung Hoa.

Vấn đề xây dựng Hoàng Cung

Một chế độ đang trên đà đi lên, đã mang trên đầu cái vòng hào quang của nhiều chiến công lừng lẫy mà bước đến tột đỉnh vinh quang của nó, như triều Lý, triều Trần. Thế tất cũng có thể xây dựng được một nền văn minh tinh thần, vật chất tương xứng với tầm vóc của mình. Nhưng vì thương dân nên không chú ý đến di sản vật chất.

Bộc lộ rõ nhất là Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông khi còn ở ngôi báu, sử ghi: “Vua xuống chiếu rằng việc xây dựng cung thất cốt sao giản dị, mộc mạc, chỉ lấy các tản quan trong tôn thất phục dịch không được phiền đến dân”.1

“Đây là vị Hoàng đế với chiếu chỉ độc nhất trong lịch sử nhân loại. Ôi! Vĩ đại làm sao! Nguyên việc vua nhà Lý khi băng hà di chúc lại cho thần dân không được xây lăng. Vua nhà Trần khi sống xuống chiếu không được lấy dân xây dựng cung điện. Nhân bản văn minh đến thế là tột cùng của nhân loại. Và đây cũng là lý do tại sao Việt Nam không có những đền đài nguy nga, những cung điện đồ sộ, xuất hiện một cách chói chang ở những thời kỳ hưng thịnh nhất của đất nước. Bởi vì nghệ thuật khổng lồ vẫn đi đôi với chế độ nô lệ, cung điện càng nhiều, nô lệ càng đông, thì số phận người dân càng hẩm hiu đau khổ. Cả nước phải xây dựng cung điện cho nhà vua. Người Trung Hoa có thể tự hào bởi những cung điện lộng lẫy của các triều đại nước Tàu, nhưng sử gia hẳn phải biết rằng bao nhiêu xương máu, mồ hôi của dân nước họ đã phải đổ vào đó”. 2

-------------------------------------------------------------

1 Đại Việt Sử Ký Toàn Thư Tập II Tr 240 Nhà XB Văn Hóa Thông Tín Hà Nội 2000.
2 Dẫn Sách “Tinh Thần Phật Giáo Nhập Thế” Tập I trang 597, cùng tác giả.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

Quân Sử Việt Nam (TOP)