Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG I: Thăng Long Con Người và Lịch Sử

...

 

thăng long thành

Mặt Tiền Thành Thăng Long

Phía tây có phủ Ứng Thiên, Quảng Oai. Phía Bắc có phủ Thuận an, Từ sơn.

Phía đông có hai phủ Hồng (Thượng Hồng và Hạ Hồng) và Sách (Nam Sách) đồng ruộng mầu mỡ.

Phía Nam có những phủ Tiên Hưng, Khoái Châu, Lý Nhân, Thiên Trường, Kiên Xương, Thái Bình, Nghĩa Hưng, rất thích nghi với lúa chiêm, đất đai mầu mỡ hàng ngàn dặm, ruộng bằng muôn khoảnh, một năm hai mùa, mỗi mẫu thu lợi được hơn hai trăm quan. Nhân dân ở bờ biển no đủ về cá, gạo, muối, đời sống tốt đẹp, lại có mối lợi về cói lác, trai sò tốt và ngon, đó là chưa kể vào món thuế ao đầm, sông rạch. Ở phía đông Kinh Môn Phủ và lộ An Quảng lại nhiều cá muối, cây gỗ, châu ngọc đồi mồi, là nơi thuyền biển tụ tập, hàng hóa ngoại quốc lưu thông ở các cửa quan và chợ búa được tiện lợi đủ thay thế cho thuế má.

Ở phía tây bắc có phủ Lạng Giang và xứ Lạng Sơn có nhiều lò nung đất, ruộng đất cũng phong phú.

Phía tây nam có hai trấn to là Thanh Hóa, Nghệ An sản xuất những loại cây to như gỗ lim, gỗ sến, gỗ táu, quế, trầm hương, đàn hương, cau, sừng tây, da tây, sừng voi, da voi, vàng bạc, đồng sắt v.v…

Phía tây Nghệ An ăn thông với các nước Bồn Man, Lão Qua, Cao Miên, trâu bò được chuyển đến bán cho ta.

Kinh đô Thăng Long “Lại quay mặt ra biển và qua những trấn Hải Dương, An Quảng ở phía Đông Nam, có trấn Nghệ An, lại ở phía tây nam, phía tả biển cả ở trấn An Quảng là Khâm Châu. Ở phía Khâm Châu, một khu đất chênh vênh ở giữa biển là Quảng Nhai. Phía tả núi Hoàng Sơn ở trấn Nghệ An là Thuận Hóa. Ở phía hữu Thuận Hóa, Quảng Nam là nước Chiêm Thành.

Căn cứ vào đây thì Thuận Hóa, Quảng Nam và Chiêm Thành là quá cung làm con hổ viễn án. Còn Hải Nam là một minh đường, nghĩa là: chỗ nước chung tụ ở trước huyệt lộ theo phong thủy lớn ở phía ngoài quốc độ, mạch lạc, hùng vĩ, xa rộng, hình thể bao la đáng là vương kinh thiên phủ.

Ở vào thế “rồng cuốn, hổ ngồi” chính giữa Nam, Bắc, Đông, Tây, Thăng Long đã hội đủ mọi tinh hoa của đất nước đương thời.

Chính vì vậy Thăng Long đã trở thành trung tâm của Châu Thổ Sông Hồng và của nước Đại Việt.

Thăng Long chiếm một vị trí đặc biệt trong lịch sử phát triển nền văn minh văn hóa dân tộc, ảnh hưởng của nó bao trùm đối với sự phát triển mọi mặt. Đồng thời kinh đô Thăng Long còn là kho điển tích, là nguồn cung cấp đề tài và tư liệu lịch sử không bao giờ cạn: thơ văn, anh hùng, trong vườn hoa văn hóa muôn sắc muôn mầu ấy. Thăng Long như một chiếc nôi của nền văn hiến Việt Nam, nó tiêu biểu cho sức sống dân tộc và hình như có sự giao cảm giữa con người và cảnh vật.

tháp rùa

Tháp Rùa

Thủ đô xưa nay vẫn là trung tâm của đời sống sinh hoạt văn hóa, tinh thần của mỗi quốc gia.

Thăng Long không phải là kinh đô đẹp nhất trần gian mà người ta được thấy, Thăng Long cũng không phải là đô thành cổ nhất thế giới nhưng nó đã ra đời trước hàng trăm kinh đô khác trên thế giới.

Về hình thể cũng như đặc điểm, thủ đô Thăng Long của Việt Nam không hề giống bất kỳ một đô thành nào trên thế giới. Thoáng nhìn bên ngoài, xét về mặt lịch sử văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc... Thăng Long không có những lâu đài, cung điện, tráng lệ, đồ sộ, không có những tòa nhà to lớn hùng vĩ, không có những cố cung hoành tráng rực rỡ. Nó cũng thiếu những cảnh u-nhã độc đáo...

Khác với văn hóa Trung Hoa, văn minh Đại Việt không có truyền thống xây dựng cung điện lộng lẫy đồ sộ, và lăng mộ vĩ đại như Trung Hoa. Không phải là vì người Việt Nam không có tài năng. Nên biết rằng các kiến trúc tổng thể của cố cung rất hùng vĩ, hào hoa tráng lệ, là tinh hoa của nghệ thuật kiến trúc cổ đại Trung Hoa. Trong thành tựu độc đáo tuyệt vời xuất sắc của công trình này, lại do một kiến trúc sư người Việt Nam. Đó là Nguyễn An, một nhân vật sống vào thế kỷ thứ XV mà sách sử Việt Nam rất ít nhắc đến. Nhưng trong các sách Trung Hoa ngay vào đời nhà Minh và đời nhà Thanh sau này đã hết lời ca ngợi Nguyễn An là một Tổng Công Trình Sự tài ba. Đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng thành Bắc Kinh.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Việt Kiệu Thư, vào những năm đầu tiên niên hiệu Vĩnh Lạc đời nhà Minh, sau khi đã chiếm Việt Nam, viên tướng Trương Phụ, một mặt tìm mọi cách hủy diệt văn hóa Việt Nam, như thiêu đốt kinh sách, đập phá đền chùa, chuông, đem một số lớn tư liệu, sách vở của Việt Nam về nước, mặt khác lại tiến hành việc lựa chọn, bắt đem về nước nhiều mỹ nữ, trẻ em cùng các thợ tinh xảo đưa về Kinh Lăng (nay là Nam Kinh). Sau này nhà Minh đã tập trung nhiều nhân lực trong đó có một số thợ Việt Nam (khi đó gọi là Giao Chỉ) đưa lên Bắc Kinh để xây dựng cố cung. Theo sử Trung Hoa ghi chép: “Đời nhà Minh có hai người Giao Chỉ cùng tên là Nguyễn An. Một là người thợ sau làm quan tới chức Phó Sư Văn Tư Uyển (Minh Hiến Tông Thực Lục) tr: 257. Tới đời Thanh năm thứ 20 (1484) ông vẫn còn sống. Một người khác là Thái giám Nguyễn An. Đây chính là vị Tổng Công Trình Sự xây dựng cố cung đời vua Minh Thánh Tổ. Trong các sách Minh Tông, Anh Tông, chính thức thực lục quyển 54. Minh sử, Minh thư đều có ghi chép về Nguyễn An như sau:

Nguyễn An người Giao Chỉ, tính tình liêm khiết, mẫn thiệp, nhiều tài năng, rất giỏi trong việc kiến trúc, xây dựng. Trước khi Minh Thánh Tổ di chuyển thủ đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh vào năm Vĩnh Lạc thứ 19 – 1421, theo lệnh của Minh Thánh Tổ, Nguyễn An khi đó ước khoảng 30 tuổi, đã thiết kế toàn bộ cung thất, điện đài, thành hào, cửa môn, lưỡng cung, tam địa, ngũ phủ, lục bộ cùng các công thự của bách quan trong cố cung. Nguyễn An đã trực tiếp ước lượng tính toán và lên kế hoạch xây dựng. Các cơ quan trực thuộc của Bộ công chỉ có việc thực hiện mà thôi.

Nguyễn An từ trần trên đường đi trị thủy sông Trương Thu, để lại bao nỗi niềm kính phục mến cảm tài năng của ông với người Trung Hoa... Nhiều công trình ông xây dựng còn tồn tại đến ngày nay như điện Thái Hòa, Trung Hòa, Bảo Hòa v.v… Các học giả Trung Hoa ngày nay đã hết lời ca ngợi Nguyễn An là một vị kiến trúc sư tài ba của Việt Nam, có người đã từng viết: “Nhân dân Bắc Kinh phải biết ơn và kỷ niệm Nguyễn An, quan thái giám người Việt Nam đời Minh.”

Để soi rọi bằng các ống kính nhận thức theo khía cạnh mà ta thấy sự thực của nền văn minh vật chất Trung Hoa là gì? Tôi lại xin dẫn ra đây một vài chi tiết của việc xây dựng Tử Cấm Thành của triều nhà Minh, ở đây tôi không thể nói tất cả các công trình mà chỉ có thể nói sơ lược một vài công việc họ xử dụng nhân công vận chuyển gỗ để bạn đọc tự mình hình dung máu xương của người dân Trung Hoa đã đổ vào đó như thế nào?

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

Quân Sử Việt Nam (TOP)