Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG XII: Hà Nội - Thời Đại Văn Hóa Dép Lốp

...

Ở nước ta, có nhiều vị hoàng đế và các danh nhân văn hóa, mặc dù không sinh ra ở Thăng Long, mà họ vẫn giữ cốt cách và những tinh hoa của đất kinh kỳ như vua Lý Thái Tổ, người làng Cổ Pháp thuộc tỉnh Bắc Giang ngày nay, vua sáng nghiệp triều Trần, Trần Thái Tông quê ở xã Tức Mạc, huyện Mỹ Lộc (Nam Ðịnh), Vua Lê Thái Tổ quê ở huyện Lôi Dương, xứ Thanh Hóa. Nguyễn Trãi quê ở Nhị Khê, Thường Tín, Hà Tây, Nguyễn Du quê ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh. . .

Thăng Long Hà Nội 36 phố phường, đã trải qua nghìn năm là nơi phát tích những tinh hoa tư tưởng và tinh thần của người Việt Nam. Từ những thời kỳ tiền sử, có những ông vua, những nhà văn hóa lớn, những anh hùng coi nhẹ công danh phú quý. Ðời vua Hùng Vương thứ sáu, ông Gióng (Làng Phù Ðổng Gia Lâm, Hà Nội) đem cả quân ở các miền Hà Bắc, Hải Hưng, Hà Nội, đi đánh đuổi giặc Ân từ Quế Võ đến Sóc Sơn, giặc tan rồi, ông cũng không về triều nhận công. Ðến đời vua An Dương Vương, tướng Cao Lỗ giúp vua chế “Nỏ Thần”, xây thành Cổ Loa, nhưng rồi phải bỏ đi vì can vua về việc Trọng Thủy mà nhà vua không nghe! Ðến lúc quân nhà Triệu sang đánh. Ông lại về thành chiến đấu và hy sinh ở đây. Nay còn đền thờ ở Cổ Loa. Ngô Quyền, cũng người Ðường Lâm, chấm dứt hẳn thời nô lệ ê chề dài gần ngàn năm, các ngài không nghĩ đến công lao. Ngày nay các ông vua vô sản bám vào địa vị như đỉa đói!

Thăng Long xưa là đất văn hiến, là đất học, nơi tập trung nhiều anh tài, nhiều văn nhân. Thăng Long thời Lý Trần đã hội đủ tinh hoa của đất nước, các đời sau vẫn giữ cốt cách và văn hóa dân tộc. Chỉ có Hồ Chí Minh và đồng bọn là lạc loài.

Thăng Long là nơi tụ hội nhiều nhà văn hóa lớn nhất nước, mà tài năng của họ đã góp phần làm phong phú và rực rỡ thêm cho đời sống văn hóa Thủ Ðô. Thời Lý: Ðỗ Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu (Khuông Việt), Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn (Thái Tổ), Lý Thường Kiệt, Thánh Tông, Mai Trực (Viên Chiếu) v.v... Ðời Trần, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Sư Mạnh v.v... là những tác giả tiêu biểu của dòng văn học yêu nước tràn đầy khí phách anh hùng đời Trần.

Lê Văn Hựu, Ðại Việt Sử Ký, Hồ Tông Thốc với Việt Sử Cương Mục... là những nhà sử học uyên bác, giầu tinh thần dân tộc.

Thăng Long ngày xưa trọng dụng hiền tài.

Hà Nội ngày nay loại bỏ, trừ khử nhân tài, với khẩu hiệu “Trí-Phú- Ðịa- Hào đào tận gốc trốc tận rễ.”

Thăng Long xưa là nơi tập trung những tài năng của khắp miền đất nước. Hà Nội ngày nay là nơi tập trung những thành phần bất hảo, bọn Mafia, anh chị bự như Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh, Lê Khả Phiêu, Nông Ðức Mạnh... Nhà nước, công an hành xử với dân Thủ Ðô rất côn đồ và lưu manh... Thật là một thời đại quái đản, tuyển chọn những thằng thất học vào lo việc nước, triệu tập bọn lưu manh vào điều khiển chính quyền, làm toàn điều xấu xa tai quái! Chúng gian ngoa, xảo trá, thường khóa chặt các cửa không cho thông tin lọt ra ngoài!

Chúng ta đã nhận thấy những biến đổi trên cấu trúc bề mặt Hà Nội, nhưng còn cấu trúc chiều sâu về tinh thần của thế hệ trẻ thì sao? Cũng từ Hà Nội GS Phạm Ðức Dương, Viện Nghiên Cứu Ðông Nam Á. Trong bài “Hà Nội - Một biểu tượng văn hóa”, đã đề cập tới, GS viết: “Chúng tôi đã tiến hành “đo” một số nhận thức tâm tư, cách ứng xử xã hội... của thanh niên Hà Nội. Ðể giải mã cảm thức của họ. Cuộc khảo sát do Cung Văn Hóa Thể Thao Hà Nội tiến hành, tương đối lớn với 500 đối tượng thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau mang tính đại diện, ở mười địa điểm trên địa bàn thành phố Hà Nội (Ðược phân biệt theo lứa tuổi và thời gian ở Hà Nội, khu vực cư trú, nghề nghiệp và học vấn.) Theo năm chủ đề với 29 câu hỏi và được xử lý bằng chương trình Foctro.

Sau đây là những chỉ số chúng ta cần quan tâm:

1- Quả thực là thanh niên Hà Nội kém hiểu biết về lịch sử văn hóa, dân tộc, và Thủ Ðô chưa có một danh nhân xưa nào mà được nhiều người biết rõ ràng bằng một ngôi sao bóng đá hay màn bạc! (Nhiều thanh niên chưa biết Trần Hưng Ðạo là ai?) Tên các phố phường, năm cửa ô, các làng nghề truyền thống... không biết rành rọt..., không thích và không đến rạp xem các ngoại hình về nghệ thuật dân tộc (cải lương 94,6-0%, tuồng 98,6%, Chèo 95,8%, không đi sinh hoạt trung tâm văn hóa (từ 72,4% đến 93,0%) trong khi đó họ thích nhạc Pop, Rock (64,4%, thích phim truyện nhiều tập nước ngoài, nhất là phim phương Tây (43,2% phim Trung Quốc, Hàn Quốc (41,4% đã xuất hiện một số người coi thường ý nghĩa gia đình, thờ cúng tổ tiên, quan hệ tình dục không lành mạnh, một số mắc phải những tệ nạn xã hội (...)

Trích dẫn trong bài “Hà Nội - Một biểu tượng văn hóa” của GS Phạm Ðức Dương Viện Nghiên Cứu Ðông Nam Á.”

*

Xã hội Chính Quyền Mafia nói tiếng lóng.

GS-TS Đinh Văn Đức trường Ðại Học KHXH Hà Nội quan sát và nhận xét:

“Nhất là trên bình diện văn hóa: Các hiện tượng như dùng bừa bãi tiếng nước ngoài trong giao tiếp, cả trên phương diện thông tin đại chúng và quảng cáo, các biểu hiện trên sản phẩm nói ngọng ở một số bộ phận lớn dân cư (điển hình là sự lẫn lộn hai phụ âm đầu /n/ và /l/ vốn có ở một vài thổ ngữ Bắc Bộ gần Hà Nội), việc nói lóng nói tục... phổ biến là những cản trở đáng kể của quá trình chuyển hóa và làm mất đi vẻ đẹp thanh lịch của phương ngữ Hà Nội”.

Hà Nội vốn xa lạ với những tiếng tục tĩu như ở cửa miệng nhiều người thường ăn nói bừa bãi, càn dở bây giờ. Hiện tượng này sinh ra trong hoàn cảnh xã hội bọn trộm cắp móc ngoặc, cò mồi, buôn bán đĩ điếm, trò chuyện với nhau bằng “tiếng lóng”, người ngoài cuộc khó nghe khó hiểu. Thời trước chỉ có bọn trộm cướp, cờ bạc bịp, du côn đứng bến xe, lái trâu, hoạn lợn, hoạt động cách mạng, chúng toàn nói tiếng lóng thời kháng chiến chống Pháp gọi là trong “vùng địch” nhất là bọn hoạt động trong nội thành Hà Nội. Bây giờ cũng như năm xưa bọn lái lợn nói “kẻo chọi” 5 đồng. Bây giờ bọn phe nói “một cụ” (100 ngàn) “hai cụ” (200 ngàn) chúng có đối tượng để chỉ sự việc trong xã hội. Ðó là vấn đề, và con người kiểu ấy nhan nhản quanh ta, nên những mụ phe, con phe, mụ cò, con cò, con phò buôn bán phụ nữ trẻ em, vẫn sống đàng hoàng cùng với bọn trộm cướp tài sản quốc gia mặc Veston đi xe hơi... Tiếng lóng xuất hiện từ nội bộ Ðảng CS như “đánh quả” chúng hợp đồng “trúng quả” “áp phe”, “làm áp phe” tiếng Pháp chỉ việc buôn bán mới gọi là đi phe, mụ phe nay lại biến dạng thành cò đủ loại...

Những tiếng lóng đã chết từ lâu, bây giờ “lộn kiếp” được tân trang rộng nghĩa và phong phú đa dạng mà những kẻ cầm quyền có gốc gác trộm cướp, chúng nói tiếng lóng, với vô vàn biểu hiện “không giống ai”.

Ðể bạn đọc gần xa biết được nhiều ngành nghề mới ở Hà Nội Thủ Ðô nước CHXHCNVN, tác giả xin dẫn ra đây bức thư của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy từ Hà Nội gửi cho một người bạn ở Úc Châu.

Từ Hà Nội: Tết qua rồi, người dân Hà Nội trở lại với đời thường, tôi cũng bận bịu với công việc “cào mây, cuốc gió” quen thuộc, chợt nhận được thư của một người bạn tận Australia, bỏ Hà Nội từ đầu thập kỷ 80, nay chưa một lần trở lại, thư viết: “Nhớ bài hát về Hà Nội mình quá. Nhớ tiếng ve đầu phố quen, bước chân em đi mòn lối ...ôi nhớ... không biết Hà Nội giữa thời hội nhập thế nào, thèm được lang thang khắp 36 phố phường Hà Nội, từ Hàng Bạc, hàng Bài, chợ Đồng Xuân như hồi còn bé xíu”.

Không biết tôi có đáp ứng nổi nỗi nhớ của chị không, dù biết rõ mười mươi rằng chị đang “mong đợi ngậm ngùi”.

Thực sự trong con mắt tôi và mọi người, Hà Nội khác nhiều lắm, từ ngày mở cửa, những ngọn gió mới ào ạt thổi, cơ chế thị trường tung tăng dạo bước khắp 36 phố phường Hà Nội, kiên trì gõ vào cánh cửa từng nhà, khiến Hà Nội thay đổi từng ngày. 36 phố cổ không còn vẻ yên bình, tĩnh lặng, nhuốm vẻ hoài cổ với tháp rùa nghiêng bóng, nước hồ gươm xanh biếc, lá liễu đìu hiu, tha thướt, mướt mát ven hồ như thập kỷ 70, 80 nữa mà bị phá vỡ từng mảng. Hết khách sạn vàng, lại nhà hàng cá mập, siêu thị Intemex, Plaza...Tốc độ xây dựng chóng mặt, nhà hàng vũ trường, quầy bar, quán rượu, quán bia mọc lên như nấm. Nếu một Việt kiều từ Anh, Pháp, Mỹ, Ca Na Đa, Đức v.v… về, mỗi ngày vài ba lượt đến các quán, một năm có 365 ngày đi được 1.000 quán, lại muốn đi cho bằng hết thì phải mất 15 năm có lẻ. Từ vài cửa hàng mậu dịch, quầy “Thanh niên làm theo lời bác” ngày xưa, theo thống kê hiện tại là 15 nghìn quán các loại, từ bình dân, tới các loại “đè dân”- tức các quầy bar sang trọng trong các nhà hàng khách sạn khác. Nếu không ngại tuổi đang... cút kít về già, muốn nhảy nhót, ôm ấp trong các câu lạc bộ đèn mờ, vũ trường, quán karaôkê ôm, một tuần vài ba buổi bổ ích và lý thú cũng đủ mất 8 năm mới đến hết được. Còn muốn thâm nhập vào các dịch vụ massage, bấm huyệt - vốn đang mọc nhan nhản như nấm độc sau mưa, cũng phải tính bằng cả năm với tỷ lệ dày đặc ngày nào cũng đi 2,3 lượt may ra mới hết. Cơn xoáy lốc của cơ chế thị trường đã tạo nên bộ mặt mới của Hà Nội để lại những dấu ấn khủng khiếp. Trước đó mỗi lần nói vui, tôi vẫn bảo: Hà Nội mình bé bằng bàn tay, hắt hơi đầu này nghe tiếng vọng của đầu kia vọng lại. Nếu sống lại thập kỷ 80 thì tiếng leng keng của tàu điện đầu phố này vọng lại, tận cuối phố kia còn nghe rõ, đạp xe lang thang ra tận 7 cửa Ô- từ Ô Đồng Lầm, Ô Đông Mác, Ô Cầu Rền, Ô Chợ Dừa, Ô Yên Phụ, Ô Quan Chưởng, Ô Cầu Giấy vài tiếng là hết. Nhưng những ngày xưa thân ái, 36 phố phường Hà Nội trầm mặc cổ kính, trang nghiêm đã qua lâu lắm rồi. Hà Nội chỉ còn là cái bóng mờ nhạt của một thời xa xưa. Đường mở rộng, cây bị chặt trụi thùi lụi chẳng còn lấy đâu ra tiếng ve ngân đầu phố nữa, tiếng leng keng của tàu điện cũng đã đi vào huyền thoại, cổ tích từ cuối thập kỷ 80, thay vào đó là đủ các loại tiếng ồn của phương tiện, động cơ, ô tô, xe máy, cùng thi nhau hoạt động, xả hết công suất tối đa của mình, tạo nên bức tranh hiện thực sinh động và trơ trụi: Phố không cây, mây lẫn khói xăng chiều...

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56

Quân Sử Việt Nam (TOP)