Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG XII: Hà Nội - Thời Đại Văn Hóa Dép Lốp

...

Vậy tiếng Nghệ có cơ hội tồn tại ở Thủ Ðô, do thời thế mở ra một trang sử mới cho họ, dân xứ Nghệ ở Hà Nội trở thành nồng cốt thì tiếng Hà Nội còn giữ được vai trò làm chuẩn mực cho văn hóa cả nước hay không? Khi mà người gốc Hà Nội trở thành cộng đồng thiểu số, so với dân xứ Nghệ và dân tứ chiếng đến định cư ở Hà Nội từ sau Hiệp Ðịnh Geneve về Ðông Dương. Xin mở ngoặc nói thêm về cái ngày ấy là (ngày 20 tháng 7 năm 1954) Hồ Chí Minh cùng TƯÐCSVN về tiếp quản Thủ Ðô, kéo theo một lực lượng lớn: Cán bộ, bộ đội, công an... mặc áo đại cán bốn túi, giầy vải giống như Hồng Quân Trung Quốc về tiếp quản Thủ Ðô (bây giờ bọn chúng mặc Veston, đi giầy da, tiêu Dollar, chỉ còn thằng xứ Nghệ nằm trong hòm kính và Kim Chính Nhật Chủ tịch Bắc Hàn một sống, một chết còn mặc bộ quần áo kỳ cục này!)

Trở lại chuyện 1954, dân xứ Nghệ và dân tứ chiếng kéo về Hà Nội ngày một đông. Trong khi người Hà Nội sau 1954 phải ra đi vì nhiều nguyên nhân: Di cư vào Nam, bị đưa lên miền núi, sau những chiến dịch cải tạo tư sản, đi tù, đi bộ đội...

Trước năm 1954, dân số Hà Nội có khoảng 25 vạn người. Theo tài liệu trong cuốn sách “Lịch sử Thăng Long Hà Nội” của tác giả Nguyễn Vĩnh Phúc do nhà XB Trẻ của Thành Phố HCM năm 2005, dân số Hà Nội năm 1948 là 15 vạn người. Ðến năm 1951 là 30 vạn. Năm 2004 dân số lên tới 3.055 triệu người, trong đó nội thành có trên 2 triệu người. Qua bảng thống kê dân số này, bạn đọc có thể tìm ra câu trả lời về người Hà Nội gốc còn bao nhiêu và số phận của tiếng Hà Nội, văn hiến, văn hóa Hà Nội sẽ đi về đâu?

Vấn đề người Nghệ nói tiếng Nghệ ở Hà Nội là một đề tài khá nhức nhối mà bài viết của GS-TS Nguyễn Quang Hồng “Tiếng Nghệ giữa lòng Hà Nội” và bài viết của GS-TS Bùi Minh Yến với tựa đề “Về một bình diện đáng lưu ý của người Nghệ ở Thủ Ðô” là cả một câu hỏi lớn. Ông đặt vấn đề:

“Cho đến nay, người Nghệ so với các tỉnh khác sinh sống ở Thủ Ðô chiếm một con số không nhỏ và có xuất xứ từ rất nhiều nguồn khác nhau:

- Hoạt động cách mạng

- Ði học

- Ði làm

Ðiều có thể thấy ngay ở đây là việc họ mang đến Thủ Ðô về phương diện ngôn ngữ một dấu giọng đặc Nghệ [1] khó trộn lẫn cho dù cố tình dấu diếm (nếu quả tình họ có chủ ý như vậy). Trong khi con cái của họ nếu hoàn toàn được sinh ra và lớn lên chủ yếu ở Hà Nội, thì dù chúng có một gốc gác thuần Nghệ [2] (còn lưu giữ hay ảnh hưởng dấu vết đáng kể[3] mà về phương diện ngôn ngữ của người Nghệ. Vậy mà, đối với những người Nghệ đã từng sinh ra và có một khoảng thời gian (tầm 15 năm – trùng với thời niên thiếu) ở Nghệ, thì những dấu vết lưu lại dù không muốn, dù đã thay đổi cũng chẳng khó gì mà không nhận ra, nhất là đối với những người đồng hương, chỉ cần có đôi chút hiểu biết và quan tâm dấu giọng của quê mình.

Bài viết nhỏ này sẽ là bước đầu gợi mở những nhận hiểu về các bình diện tương tác thích nghi để cả người nói lẫn người nghe giữa hai cộng đồng[4] có một thái độ tương thích nhằm đạt đến một hiệu quả gián tiếp tích cực. Bởi trong sự giao lưu tiếp xúc về mặt ngôn ngữ của người Nghệ ở Hà Nội, đã không ít chuyện cười ra nước mắt. Làm thế nào để không làm mất chất giọng của mình, vừa không trở ngại giao tiếp? Ðặc biệt ở góc độ kẻ “nhập cư” - người Nghệ.

Rõ ràng, trong hệ thống tiếng nói chính thống của Hà Nội, nay có một cộng đồng mới, theo bước chân ông vua dép lốp xứ Nghệ, đi vào tiếp quản Thủ Ðô, tới những thập niên sau, dân xứ Nghệ kéo đến định cư ở Hà Nội ngày một đông hơn. Nhưng nó không chịu hòa đồng mà lại tách ra thành một bè khác.

Trong mọi hoạt động văn chương, nghệ thuật, chính trị là một dạng đặc biệt trong ngôn ngữ con người. Hoạt động ngôn ngữ bao gồm cả “nói” và “viết”, thực hiện chức năng biểu hiện thông tin và giao tiếp, Hồ Chí Minh không đạt cả hai tiêu chuẩn. Vì thiếu kiến thức phổ thông căn bản, nên Hồ Chí Minh dùng từ ngữ bừa bãi bất chấp cả quy tắc chính tả, văn phạm sơ đẳng nhất.

Trong bản di chúc[5] cũng như văn thư gởi cho các cấp chính quyền và dân chúng. Ông thường xuyên dùng chữ “k” thay cho chữ “c”, chữ “f” thay cho chữ “p” và “ph”, chữ “ngh” thay chữ “ng”, chữ “z” thay cho chữ “d” và “g”...

Những từ ngữ xử dụng phổ biến trong phạm vi cả nước, thường gọi là ngôn ngữ phổ thông trước hết là trong đời sống hàng ngày, trên báo chí, đài phát thanh, truyền hình, sân khấu, điện ảnh, trong học đường và trong sách báo. Hồ Chí Minh là chủ tịch nhà nước làm gương cho thiên hạ mà ông không tuân theo quy luật này, thí dụ:

Danh từ: “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - Ðộc lập, Tự do, Hạnh phúc” ông lại viết: “Việt Nam zân Chủ Cộng Hòa - Ðộc lập, Tự zo, Hạnh fúc.” Nhân dịp ông viết: “nhân zịp”. Thay vì viết nhà thơ Ðỗ Phủ, ông lại viết “Ðỗ Fũ”, từ phục vụ nhân dân ông viết: “fục vụ nhân zân”, câu một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, ông viết: “một lòng một zạ fục vụ zai cấp, fục vụ nhân zân”, câu văn phải giữ gìn sự đoàn kết trong đảng, ông viết: “fải zữ zìn”, thay vì viết nghiêm chỉnh tự phê bình, ông viết: “ngiêm chỉnh tự fê bình”, chữ xung phong ông viết: “xung fong”, bồi dưỡng, ông viết: “bồi zưỡng”, gian khổ ông viết: “zan khổ”, thực dân, ông viết: “thực zân”, dũng cảm ông viết: “zũng cảm”, cách mạng ông viết: “kếch mạng” v.v...

Tất cả những từ ngữ Hồ chí Minh xử dụng hoàn toàn không phải là những danh từ chuyên môn thuộc các ngành khoa học, kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật, chính trị, triết học, pháp luật, đã được dùng phổ biến trong đời sống, trong trường học, trong giáo dục phổ thông, mà chúng chỉ là một thứ từ ngữ được dùng trong giao tiếp của những nhóm cùng làm việc gì đó, buôn bán trâu, bò, lái lợn, chữa khóa, chạy áp phe hay một nhóm Mafia mà nghĩa của chúng chỉ người trong cuộc mới hiểu được thường gọi là tiếng lóng.

Cũng cần nói cho rõ thêm chữ “f”, “w” và chữ “z” thường trong bảng chữ cái La Tinh không có trong bảng chữ cái tiếng Việt, người Việt chỉ dùng để phiên âm tiếng nước ngoài, và ký hiệu có tính chất quốc tế, thí dụ: chữ “w” – ký hiệu của nguyên tố hóa học vôn fram (wolfram), chữ oát (watt) viết tắt watt giờ, chữ “z” thí dụ: ze-ro (zero), nghĩa là không; không có, vắng; hình vị zero; âm vị zero, hay ze-ta, tên con chữ cái của Hy Lạp Zzn ký hiệu hóa học của nguyên tố kẽm (chữ zenc).

Còn về ý nghĩa của từ ngữ Hồ Chí Minh xử dụng cũng nằm ngoài những quy luật của ngôn ngữ thông dụng, ví dụ: từ cách mạng nghĩa là cuộc biến đổi lớn trong xã hội, cách mạng giải phóng dân tộc ra khỏi ách nô dịch của đế quốc, dành độc lập. Cách mạng tư sản dân chủ, cách mạng khoa học kỹ thuật trong xã hội vật chất nhằm thay đổi lao động thủ công bằng lao động máy móc và chủ yếu thực hiện bằng công nghiệp hóa v.v...

Hồ chí Minh dùng chữ “kếch mạng”, không ăn khớp với nhau. Trong các tự điển tiếng Việt từ trước đến nay không có, còn chữ “kếch” thường đi với chữ sù trong các tự điển Việt Nam đều định nghĩa chữ kếch là to lớn quá cỡ, kếch sù, kếch kệ, to lớn quá mức bình thường, kềnh càng không có ai dùng từ “kếch mạng” bao giờ.

Về cách xử dụng từ ngữ, các cháu học sinh cấp hai, cấp ba đều ý thức rất rõ, các người làm công tác văn hóa, giáo dục xử dụng rất tinh tế, để phân biệt từ này với từ khác, chữ này với chữ khác. Những tư duy đặc điểm, các quan hệ liên tưởng của người Việt trong ý nghĩa của từ ngữ, nhất là trong nghĩa của thành ngữ, tục ngữ, họ xử dụng rất nhuần nhuyễn. Chỉ có Hồ Chí Minh, chủ tịch nhà nước là ngọng nghịu dốt nát! Những điều tôi viết ra đây không với mục đích xuyên tạc, bịa đặt, thêu dệt mà ai cũng thấy, ai muốn cũng có thể kiểm chứng được, tác giả dẫn chứng đều căn cứ vào sự thật một trăm phần trăm, giải thích bằng lý trí và lẽ phải trên nguyên tắc khoa học khách quan.

Ðảng CS có thấy xấu hổ không?

Một nhân vật rường cột của quốc gia. Ở Thủ Ðô ông nói tiếng xứ Nghệ, viết sai văn phạm chính tả quá nhiều! (Xin xem chương “Bút tích HCM” sẽ phân tích kỹ hơn).

Con người lần đầu tiên xuất hiện trước quốc dân, mặc bộ quần áo bốn túi theo kiểu Mao Trạch Ðông. Nói giọng đặc xứ Nghệ vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, lúc đọc Tuyên Ngôn... rồi hỏi: “Ðồng bào nghe tôi nói rõ không?”

Chính cái ngày giờ cực xấu ấy! Ông xứ Nghệ ra mắt quốc dân. Văn hóa, văn hiến Hà Nội biến dạng dần dần, lịch sử chuyển sang một trang mới văn hóa vô sản, phá phách!!!

Ðứng trên quan điểm sử học, thì bất kỳ quốc gia nào, thời nào, các anh hùng dân tộc, người lãnh đạo đất nước, danh nhân văn hóa, nhà thơ, nhà văn lớn, thường gắn bó với Thủ Ðô của nước họ. Mặc dù nơi ấy nhiều khi không phải là quê hương của họ. Bởi Thủ Ðô là trái tim, là đầu não của quốc gia, và những con người ấy lại là tiêu biểu cho dân tộc, nên giữa họ với Thủ Ðô có mối liên hệ ruột thịt khắng khít.

Ta xem xét kỹ mọi góc độ, HCM không có liên hệ nào về mặt tinh thần của Việt Nam và xa lạ với văn hiến, văn hóa Thủ Ðô. Những thứ ông nhập vào như “Chủ Nghĩa Mác-Lenin”, “tư tưởng Mao Trạch Ðông” chúng hoàn toàn xa lạ với văn hóa dân tộc, cả đến việc ông cho xây dựng tượng đài Lê-Nin, công viên Lê-Nin, vườn hoa Lê-Nin ở Hà Nội, cho đến cả bộ quần áo mặc trên người, đôi dép lốp ông mang, nhà sàn ông ở đều không có liên hệ gì đến văn hiến, văn hóa Thủ Ðô. Làm chủ tịch nhà nước mấy thập niên đến hơi thở cuối cùng, ông chưa một lần mặc bộ quốc phục truyền thống của dân tộc.

lịch sử việt nam

Chính phủ Liên Hiệp năm 1946

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)