Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG I: Thăng Long Con Người và Lịch Sử

* Thăng Long thời Lý

* Thăng Long thời Trần

* Đông Đô và Đông Quan

* Thăng Long thời Nguyễn đổi thành Hà Nội

* Hà Nội thời Hồ

Lịch sử Thăng Long bắt nguồn từ thời kỳ những bản anh hùng ca... cách nay 1000 năm, nơi đây diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, được ghi trong các bộ sử của Việt Nam: Xây dựng Văn Miếu (1070), mở Quốc Tử Giám (1067); xây dựng Bí Thư Các đầu tiên (1087); Thành lập Quốc Sử Viện (1272) đời nhà Trần, Hàn Lâm viện đời Lê... gần 1000 năm Thăng Long Hà Nội là Thủ đô, nơi có truyền thống văn hiến dân tộc lâu đời.

Kinh thành này vang bóng một thời quá khứ, nơi đây có rất nhiều điểm gợi nhớ khác nhau: một hồ Hoàn Kiếm, một Tháp Rùa*, Chùa Một Cột, Gò Ðống Ða mồ chôn quân xâm lược Trung Quốc...

Về sự tích Hồ Gươm, câu chuyện vua Lê sau khi đánh thắng giặc Tầu đã hoàn trả thanh Bảo Kiếm cho Thần Rùa trên hồ Lục Thủy giữa kinh thành Thăng Long. Từ đó hồ mang tên Hoàn Kiếm (hồ Trả Gươm hay hồ Gươm).

(*Về truyền thuyết Thần Rùa (Thần Kim Quy) đã hai lần xuất hiện. Lần đầu tiên vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên đã cho An Dương Vương mượn hai linh khí để đánh giặc, giữ nước. Ðó là thanh Bảo Kiếm Tinh Trắng xây thành Cổ Loa và chiếc móng của mình để làm Nỏ Thần, đánh quân xâm lược Triệu Ðà lần thứ hai là sứ giả của Ðức Long Quân xuất hiện trên Hồ Lục Thủy để nhận lại thanh Bảo Kiếm mà vua Lê trao trả sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm lấy lại giang sơn gấm vóc cho quốc gia Ðại Việt.)

thăng long - hà nội

Bản đồ Thăng Long Thời Lý

Lịch sử Thăng Long bắt nguồn từ thời kỳ những bản anh hùng ca... cách nay 1000 năm, nơi đây diễn ra nhiều sự kiện quan trọng, được ghi trong các bộ sử của Việt Nam: Xây dựng Văn Miếu (1070), mở Quốc Tử Giám (1067); xây dựng Bí Thư Các đầu tiên (1087); Thành lập Quốc Sử Viện (1272) đời nhà Trần, Hàn Lâm viện đời Lê... gần 1000 năm Thăng Long Hà Nội là Thủ đô, nơi có truyền thống văn hiến dân tộc lâu đời.

Kinh thành này vang bóng một thời quá khứ, nơi đây có rất nhiều điểm gợi nhớ khác nhau: một hồ Hoàn Kiếm, một Tháp Rùa*, Chùa Một Cột, Gò Ðống Ða mồ chôn quân xâm lược Trung Quốc...

Về sự tích Hồ Gươm, câu chuyện vua Lê sau khi đánh thắng giặc Tầu đã hoàn trả thanh Bảo Kiếm cho Thần Rùa trên hồ Lục Thủy giữa kinh thành Thăng Long. Từ đó hồ mang tên Hoàn Kiếm (hồ Trả Gươm hay hồ Gươm).

(*Về truyền thuyết Thần Rùa (Thần Kim Quy) đã hai lần xuất hiện. Lần đầu tiên vào thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên đã cho An Dương Vương mượn hai linh khí để đánh giặc, giữ nước. Ðó là thanh Bảo Kiếm Tinh Trắng xây thành Cổ Loa và chiếc móng của mình để làm Nỏ Thần, đánh quân xâm lược Triệu Ðà lần thứ hai là sứ giả của Ðức Long Quân xuất hiện trên Hồ Lục Thủy để nhận lại thanh Bảo Kiếm mà vua Lê trao trả sau khi đánh đuổi giặc ngoại xâm lấy lại giang sơn gấm vóc cho quốc gia Ðại Việt.)

Lòng nhân không có biên giới, không có giới hạn không gian và thời gian. Tổng thống Hoa Kỳ George Washington năm 1776 tuyên bố câu nổi tiếng: “Gươm đao là giải pháp cuối cùng để bảo vệ sự tự do của chúng ta, vì thế phải là vật đầu tiên cần phải dỡ bỏ khi sự tự do ấy đã được thiết lập vững vàng”.

khuê văn các

Khuê Văn Các - kiến trúc tiêu biểu của Văn Miếu nơi giao hòa của đất, trời.

Chúng ta có thể tự hào nói rằng: Không ở đâu trên mặt quả địa cầu này có giống người mà lòng nhân từ, độ lượng khoan dung như người Việt Nam. Quân Nguyên Mông sang xâm chiếm nước ta 3 lần, lần thứ nhất (1257), lần thứ hai (1285), lần thứ ba (1288) đi đến đâu chúng cũng tàn phá, giết chóc hủy diệt dã man, khai quật cả mồ vua Trần Thái Tông (Chiêu Lăng). Khi giặc thua, hầu hết các tướng soái như Tích Lệ Cơ, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Ðường Ðột Ngãi, Mai Thế Anh, Xầm Ðoan, A Thái, Diêm Nguyên Soái v.v... cùng sáu vạn quân Nguyên bị bắt đều được vua ta khoan hồng, cấp lương thực phương tiện cho về nước. Ðến quân nhà Minh sang cướp nước ta năm 1410 – 1413 thì sự tàn bạo và dã man còn vượt xa quân Nguyên. Thế mà khi chúng thua, Vua ta còn hạ lệnh cho quân dân tỉnh Bắc Giang, Lạng Giang sửa cầu đắp đường, lại hạ lệnh cho lộ quân thủy: chuẩn bị thuyền bè, buồm chèo lương thực đưa quân Tầu về nước. Tất cả các tướng lãnh nhà Minh bị bắt đều được thả.

Những thời kỳ vàng son với những chiến thắng lẫy lừng như vậy do các vương triều hùng mạnh, đứng đầu bởi các vị hoàng đế anh minh sáng suốt. Lại thiết tha chiêu lập hiền tài bằng mọi biện pháp: Thi cử, tiến cử, phát hiện và xử lý, thưởng phạt nghiêm minh rõ ràng, không định kiến thiên vị... cùng với tinh thần phục vụ dân tộc vô điều kiện. Có lẽ vì thế các ngài đã tập hợp được lực lượng hùng hậu, làm nên bao chiến công huy hoàng, đánh thắng những quân đội thiện chiến rất hung dữ nhất thế giới thời đó làm cho quân thù cũng phải nể sợ.

Người cha đẻ của Thăng Long

Nhà Lý định đô ở Thăng Long năm 1010. Vua Lý Thái Tổ tuyên bố rõ lòng quả quyết: “Nhân dân Việt Nam xây dựng một quốc gia Đại Việt độc lập, với ý chí sắt đá bất chấp tất cả bọn xâm lược phương Bắc”. Việc dời đô về Thăng Long, Vua thấy đất Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp, không thể mở mang làm nơi đô hội trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế được, bèn dời đô ra thành Ðại La, Hà Nội bây giờ. Ðây là thành cũ của Cao Biền, hình thể núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa.

Trong Chiếu thiên đô Vua nói: “Thành Đại La ở chính giữa thiên hạ, là nơi trung tâm của bốn phương. Nhân vật phồn thịnh! Xem khắp nước Việt đó là thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.”

Trong sách “Vân Đài Loại Ngữ” Lê Quí Đôn nhận xét: “Kinh đô đặt ở Long biên giữa khoảng hai phủ Thường Tín và Quốc Oai. Phía Tây bắc chiếm dọc theo núi. Phía đông nam có sông to ngăn trở, thật là một nơi đô hội đủ cả về đường thủy và đường bộ. Phía tây thì có những phủ Lâm Thao, Ðoan Hùng, Ðà Dương và hai xứ Tuyên Quang, Hưng Hóa.

Phía chính bắc là một xứ Thái Nguyên sản xuất ngọc, đá quý, vàng, bạc, đồng, thiếc, chì, sắt, tre, gỗ, củi than, cung cấp đủ nhu cầu cho công và tư, lại có trà, thóc, giấy, dầu, mè, cam, quít, các sản vật thổ nghi như khoai, đậu, củ mài, lúa, bắp, dưới nước có nhiều cá, ba ba, cua đinh…

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)