Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG XII: Hà Nội - Thời Đại Văn Hóa Dép Lốp

...

Nó tiêu biểu cho cả nước như một giòng âm thanh chủ đạo. Nói cách khác, tiếng Hà Nội đã được un đúc lên từ các nền của các phương ngữ Bắc Bộ mà cách đây vài thế kỷ được gọi là tiếng “Ðằng Ngoài”. Nó giống như một tài sản quý giá khác. Cái gì từ mọi miền của đất nước được thu nạp và chắt lọc những tinh túy nhất để rồi trở lại lan tỏa ra cả nước. Tiếng Hà Nội có quan hệ với ngôn ngữ chung của cả dân tộc được nhân dân cả nước yêu mến ngưỡng mộ. Ðiều này hoàn toàn tự nhiên, thuần lý, phù hợp với tâm thức và tình cảm sâu xa của toàn dân Việt Nam, đồng lòng hướng về một ngôn ngữ chung từ lâu.

Nhưng tiếng Hà Nội đang đứng trước một vấn nạn lớn, nó biến dạng chưa biết đi về đâu?

Ông Ðinh Văn Thức GS-TS trường Ðại Học KHXH Hà Nội, trong một buổi hội thảo về ngôn ngữ học ở Hà Nội năm 2004 đã chua chát cay đắng phát biểu: “Chúng ta cảm thấy khó xử khi có ai đó nói: Tiếng Hà Nội là chuyện của ngày xưa, còn ngày nay làm gì có nó nữa một khi cơ cấu dân cư Hà Nội trong thời gian mấy chục năm qua đã phát triển, xáo trộn đến tận gốc rễ”.

Một vị giáo sư khác (không muốn cho biết danh tánh) phát biểu: “Nhiều người quan niệm rằng tiếng Hà Nội là của thời xa xưa, của ký ức và những người già đã sống ở Hà Nội từ nửa thế kỷ trước... Phương ngữ Hà Nội ngày nay với những biến đổi xã hội và quá trình di dân, sẽ tiếp tục phát triển...”

Những nguyên nhân

Cùng đề tài này, Ông Ðinh Văn Ðức, GS-TS trường Ðại Học KHXH Hà Nội đặt vấn đề (người Hà Nội gốc nào còn có bao nhiêu?) GS lấy gia đình làm bằng chứng, ông viết: “Trong gia đình tôi: Cha tôi là người Thanh Hóa, mẹ tôi sinh năm 1908, là người Hà Nội có gốc khoảng 3 đời ở phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến). Thuở nhỏ, tôi đã nhận ra rất sớm mẹ tôi nói rất khác cha tôi và những người chung quanh. Khi làm ngôn ngữ học tôi mới biết rằng nó là sự khác nhau giữa phương ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ. Theo gia đình đi kháng chiến, tôi lại nhận ra tuy cùng người Bắc, nhưng mẹ tôi và đồng bào tản cư từ các tỉnh Liên Khu 3 (Nam Ðịnh, Ninh Bình, Thái Bình...) cũng có giọng nói khác nhau...

Quan sát thứ hai: Năm 1988, tôi rời quận Hoàn Kiếm trung tâm đến khu tập thể Trung Tự. Tôi cư trú ở đây 11 năm. Xóm mới của tôi (Tổ 27, Phường Trung Tự) là nửa tòa nhà A2 bao gồm 30 căn hộ khẩu của 40 gia đình cán bộ giảng dậy trường Ðại Học Bách Khoa và Trường Ðại Học Tổng Hợp Hà Nội. Số nhân khẩu của tập thể này vào năm 1995 là 70 người, khác với nhà số 10 phố Nguyễn Chế Nghĩa, Phường Hàng Bài trước đây, xóm Trung Tự của tôi là một địa chỉ điển hình của người Hà Nội mới nhập cuộc di dân: Không có một gia đình nào trong số này có quê gốc ở Hà Nội. Nghĩa là hầu như vắng bóng người Hà Nội.”

Ðiều đáng chú ý là đội quân xứ Nghệ từ sau năm 1954, ồ ạt đến Hà Nội đông hơn các tỉnh khác gây nên sự lo ngại cho các nhà nghiên cứu lịch sử.

TS Nguyễn Quang Hồng trong bài viết: “Tiếng Nghệ giữa lòng Hà Nội”. Nguyên đề tài bài viết cũng là một phát súng cảnh báo nghiêm trọng rồi, xin tạm dẫn ra đây một vài đoạn: “Trên thực tế, dường như đội quân nói tiếng xứ Nghệ giữa lòng Thủ Ðô Hà Nội ngày càng nhiều, nhưng cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó. Mặt khác, liệu có phải cuối thế kỷ XX thì tiếng Nghệ mới có cơ hội tồn tại ở đất Hà Nội? Hay tiếng nói của cộng đồng cư dân xứ Nghệ (bao gồm cả Nghệ An, Hà Tĩnh) đã từng hội nhập đất Thăng Long từ nhiều thế kỷ trước?

Từ góc độ sử học, trong phạm vi bài viết này, tôi muốn trình bầy những nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự hiện diện của dân xứ Nghệ ở đất Hà Nội ngày nay, nhằm góp phần thiết thực vào vùng đất Thăng Long ngàn năm văn hiến... Người Nghệ Tĩnh ra Hà Nội từ sau năm 1954.

Nếu tính theo độ tuổi thì hiện tại số người Nghệ An, Hà Tĩnh đang sống ở Hà Nội có thể chia làm 3 thế hệ:

- Thế hệ đã bước qua tuổi “Ngũ Thập Tri Thiên Mệnh”

- Thế hệ từ 18 đến 40 tuổi.

- Thế hệ dưới 18 tuổi

- Thế hệ người Nghệ Tĩnh có độ tuổi từ 50 trở lên, đi đến Hà Nội sống và làm việc đã vài thập kỷ nhưng qua khảo sát của chúng tôi có ít nhất là trên 85% vẫn nói tiếng Nghệ. Phải chăng, với họ việc giữ gìn tiếng nói của cha ông được coi như là một trách nhiệm, một nghĩa vụ đối với quê cha đất tổ? Với thế hệ này, trong đời sống giao tiếp hàng ngày họ chủ yếu xử dụng tiếng Nghệ.

Trong các bài giảng ở các trường Ðại Học hay nơi làm việc, họ có thể xử dụng ngôn ngữ nói đã bị pha trộn giữa tiếng mẹ với tiếng Hà Nội nhưng vẫn có thể dễ dàng nhận biết họ là người Nghệ Tĩnh.

Xét về số lượng những người Nghệ có độ tuổi từ 18 đến trên 40 hiện đang sống làm việc ở đất Hà Nội đông hơn nhiều so với thế hệ thứ nhất. Họ có thể là các sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng, là các cán bộ trẻ ở các viện nghiên cứu khoa học, là phóng viên, hoặc làm nhiều ngành nghề khác nhau, trên khắp địa bàn Hà Nội. Với thế hệ này, xét chung là họ xử dụng khá nhiều ngôn ngữ của người Hà Nội. Việc nhận biết họ qua giọng nói trong đời sống giao tiếp hàng ngày tuy không dễ, nhưng nếu chú ý thì vẫn có thể nhận ra họ là người xứ Nghệ...

Gần đây, người Nghệ ra Hà Nội để tham quan, du lịch, công tác, buôn bán ... ngày càng tăng, do đó số lượng người nói tiếng Nghệ trong lòng Hà Nội ngày càng tăng...

Một bài viết khác của ông Vũ Bá Hùng PGS TS Viện Ngôn Ngữ học Hà Nội cũng đưa ra những nguyên nhân người xứ Nghệ đến định cư ở Hà Nội ngày càng nhiều. Ông viết: “Trong sự thăng trầm của lịch sử dân tộc nói chung và sự thịnh vượng các triều đại phong kiến nói riêng, kinh đô Thăng Long từ triều Lý đã mang những tên gọi khác nhau đến Hà Nội. Chính vai trò và vị trí của đất Thăng Long ngàn năm văn vật là tiền đề lịch sử của Hà Nội, Thủ Ðô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ mùa thu năm 1945. Nhưng chỉ sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi năm 1954, lịch sử của Hà Nội mới chuyển sang trang mới trong sự nghiệp cách mạng của cả nước: Xây dựng và bảo vệ Chủ Nghĩa Xã Hội ở miền Bắc và giải phóng miền Nam thực hiện thống nhất nước nhà.

Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng trong niềm hân hoan của ngày hội lớn. Tiếp đó là nhân dân Hà Nội đón mừng Hồ chủ tịch và cùng trung ương đảng và chánh phủ từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ Ðô đồng thời Hà Nội cũng đón nhận hàng vạn cán bộ nhân viên cùng gia đình thuộc các cơ quan trung ương, các đơn vị quân đội từ khắp các địa phương của Việt Bắc khu 3 khu 4.

Thực hiện Hiệp định Geneve về Ðông Dương (20-7-1954) nhân dân miền Bắc trong đó có Hà Nội, đón một lực lượng lớn cán bộ, chiến sĩ và cả con em miền Nam ra tập kết.

Ðó là những dữ kiện cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển cơ học về mặt dân số Thủ Ðô trong suốt 40 năm qua.

Quả vậy, trong những năm tháng chiến tranh, người Hà Nội ra đi cùng đội quân trùng điệp của cả nước “Xẻ dọc Trường Sơn” đi giải phóng miền Nam. Trong khi đó, nhiều đơn vị quân đội từ nhiều địa phương khác nhau được tập trung để bảo vệ Thủ Ðô, chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Tình hình đó, xét về mặt ngôn ngữ xã hội, đã tạo nên một bức tranh về ngôn ngữ có nhiều mầu sắc và cũng khá thú vị ở Thủ Ðô. Giữa những năm 1950, sự giao tiếp xã hội trên đường phố Hà Nội hoặc trong các cửa hàng mậu dịch, trong công viên và các sinh hoạt khác, bên cạnh giọng nói Hà Nội, chúng ta còn gặp giọng nói Nam Bộ, khu 5, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên... Sự ngỡ ngàng của người Hà Nội trước những sắc thái phương ngữ về mặt phát âm hoặc từ ngữ đã đi qua rất nhanh bởi quy luật đối ứng chặt chẽ, rõ ràng về ngôn ngữ.”

Trong khi dân số Thủ Ðô có trên 3 triệu người tứ chiếng quần cư, nhưng họ lại không biết bảo nhau chung đúc tài năng, “gạn đục khơi trong” rũ bỏ thói lề quê cũ. Ngược lại, có thể thấy rõ ở đây là người Nghệ đã tạo nên một tập thể đông đảo quan trọng, trong các hoạt động văn hóa xã hội ở Hà Nội. Về phương diện ngôn ngữ: “Nếu họ cố ý giữ gốc gác xứ Nghệ”.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)