Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG XI: Cảnh Hà Nội Ngày Nay

...

Kháng chiến chống Pháp 9 năm kết thúc, mọi thứ đều thay đổi. Nhân dân không có phần chiến thắng. Chỉ có Bác đảng là đáng ca ngợi, còn đối với người khác đều là đồ bỏ đi cả. Những người ngoài đảng Cộng Sản không thể chia xẻ cái vinh dự đó, và chẳng có ân huệ gì đối với những người đã nuôi dưỡng mình. Cái công việc đổ xương máu, mồ hôi của các anh, là việc của các anh. Cái vinh dự là của chúng tôi, chẳng có liên quan gì đến người ngoài đảng Cộng Sản cả, và Bác là một ngoại lệ. Các vua chúa anh hùng dân tộc không được vượt lên trên. Với người Cộng Sản VN xem Các Mác Lenin là tổ tiên. Với người Việt Nam triều đại vua Hùng là triều đại đầu tiên của dân tộc. Người Việt đời đời nhớ ơn các vua Hùng. Ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm với nhân dân Việt Nam trở thành ngày Quốc giỗ thiêng liêng chung cho cả nước. Nhưng từ khi về tiếp quản thủ đô 1954 Hồ Chí Minh và đồng đảng không công nhận, họ bỏ hẳn ngày đó, đến năm 2001 cái quốc hội Cộng Sản mới chịu nhìn nhận ngày đó.

Tổ Hùng Vương, trong tiềm thức cũng như trong tâm tưởng mỗi người Việt là “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây”.

“Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng Ba.

Hoặc:

Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày giỗ Tổ tháng Ba mùng Mười”

Người Cộng Sản Việt Nam quên cả nguồn gốc, dưới thời Hồ họ chỉ tổ chức ngày sinh nhật Các Mác Lenin rất trọng đại. Mãi đến khi ông tổ Lenin bị quăng bỏ trên đất Nga, các nước Cộng Sản sụp đổ – Cộng Sản Việt Nam hết chỗ tựa mới bắt đầu có phong trào trở về nguồn, họ cho dân xây dựng lại các đền đài, chùa, miếu mạo mà trước đó họ đã triệt phá. Ở Hà Nội do sự gợi ý và vận động của giới trí thức nhiều năm, đến năm 2004 tượng đài vua Lý Thái Tổ mới được dựng ở vườn hoa nhà Kèn, bên cạnh Tòa Thị Chính cũ nhìn ra Tháp Rùa và dựng tượng đài Trần Hưng Đạo ở Nam Định…

Cũng nên biết rằng, nhà cầm quyền Cộng Sản không xuất ngân quỹ nhà nước ra để xây dựng, mà họ quyên góp tiền của nhân dân cả nước để làm, gọi là “quỹ đúc tượng danh nhân” được thành lập vào khoảng năm 1991, và họ cũng lợi dụng số tiền này đúc tượng những kẻ sát nhân như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Tôn Đức Thắng v.v…

Phác lại cảnh vật và con người Thủ Đô xa xưa, mong rằng thế hệ trẻ thấy được các đức tính của người trước. Xem các thần tích, đọc các văn bia làm rõ được nhiều điều… Khu vực Thủ Đô rộng lớn, lịch sử Thủ Đô phong phú. Cảnh vật thủ đô trăm vẻ. Con người Thủ Đô lịch lãm, chăm chỉ, dũng cảm.

Xem cảnh nhớ người xưa.
Từ thuở mang gươm đi mở nước,
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long

(Huỳnh Văn Nghệ)

Thành Thăng Long thời Lý đánh bại quân Tống xâm lược.

Thăng Long thời Trần ba phen lửa đạn, sau chiến thắng các binh sĩ ra phố là người lớn trẻ con vây quanh, đòi kể chuyện trận mạc. Vua Nhân Tông ra phố chơi luôn, gặp dân vui vẻ và gặp binh lính là hỏi đạo quân nào? và gửi lời thăm các tướng của họ. Đoàn kết với nhau chống một đại nạn, quý nhau như tình máu mủ. Đến vua Quang Trung khi vào thành Thăng Long, tiếng hoan hô vang trời, khí thế mạnh chuyển núi, trăm họ chật đường nghênh tiếp nhà vua và binh sĩ.

Nay chúng ta xem các đường phố, các cánh đồng, các hồ, các đền thờ… mỗi bước chân chúng ta đi là những vết tích của người xưa. Và thấy rõ ràng ông cha chúng ta viết lên lịch sử thế nào. Những con người đã chôn nhau, cắt rốn ở kinh kỳ, làm việc, viết văn, xây dựng, đánh giặc, đã làm cho Hà Nội Thăng Long nổi tiếng “Thơ Kinh Kỳ, hàng Kẻ Chợ”, văn Trường Hà, lịch sử người Tràng An. Nổi tiếng phong khí chiến đấu của ông Gióng, người Mê Linh, người Hàm Tử, người Đống Đa v.v…

Trên đây là kể sơ lược về Thăng Long Xưa. Ngày nay dân muốn đi thăm cấm thành Thăng Long cũ (Lý, Trần, Lê), không được nữa rồi! Vì nơi đó bây giờ đã trở thành một hải đảo cô lập hoàn toàn.

Quảng Trường Ba Đình ngày nay không còn thuộc về dân Hà Nội. Không còn là chỗ vui chơi của người Hà Nội. Không ai tới đó để “thư dãn”, để ngồi tâm tình với nhau dù nó rất đẹp, rất nên thơ, rất rộng rãi khoáng đạt, không khí trong lành nhất, ít có xe hơi qua lại, chỉ có các xe của giới lãnh đạo đảng.

CHƯƠNG XII: Hà Nội - Thời Đại Văn Hóa Dép Lốp

Thủ đô là bộ mặt của cả nước, cũng là niềm tự hào dân tộc. Nên các triều đại đều cố gắng tạo dựng cảnh đẹp và bảo tồn, gìn giữ các di tích lịch sử, nhất là về phương diện văn hóa, nếp sống văn minh của người Thủ Đô.

Ðối với các sứ thần (Ðại Sứ), các quan khách quốc tế đến nước ta thường tìm hiểu ngọn nguồn Thủ Đô, chiêm ngưỡng các danh lam thắng cảnh, tiếp xúc với người Thủ Đô, qua đó họ có thể hiểu được văn hóa Việt Nam.

Văn Hóa không chỉ thể hiện bằng văn, thơ, văn hóa cũng không phải chỉ ở đền đài cung điện mỹ lệ hay những nhà tư tưởng lớn và nhà thơ, nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm vượt không gian và thời gian, những cái đó chỉ thể hiện một phần của nền văn hóa. Có nhiều cách đánh giá, cách nhìn văn hóa. Nhưng đã nói đến văn hóa là nói đến con người, vì văn hóa là cách sống, cách cư xử giữa người với người, từ lời ăn tiếng nói...

Ai muốn tìm hiểu văn hóa Việt Nam không thể không quan tâm đến lời ăn tiếng nói của người dân Thủ Ðô, cũng như những mặt sinh hoạt khác có liên quan đến diện mạo văn hóa truyền thống và hiện đại.

Về phương diện lịch sử, lưu vực sông Hồng từ 5000 năm vốn là cội nguồn, cái nôi của văn minh dân tộc, nơi phát tích về nhiều mặt. Ðặc biệt là từ sau thế kỷ thứ ba trước công nguyên, vùng đất Thăng Long (Hà Nội) đã nổi lên như một trung tâm văn hóa qua các mốc của lịch sử: Nước Âu Lạc ra đời với kinh đô Cổ Loa, hai Bà Trưng khởi nghĩa đóng đô ở Mê Linh, các tướng tài của Lý Bí là Triệu Quang Phục, Phạm Tu quê ở Thanh Trì, Lý Phục Man lập phòng tuyến ở cửa sông Tô Lịch, cũng lần đầu tiên Lý Nam Ðế dựng chùa Mở Nước (Chùa Khai Quốc), sau này là chùa Trấn Quốc bên bờ Hồ Tây, Phùng Hưng, Ngô Quyền, đều khởi binh từ Ðường Lâm. Ông chọn Cổ Loa làm nơi định đô. Ðến năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về thành Ðại La (Hà Nội). Thành Thăng Long đã diễn ra những dữ kiện văn hóa lớn: Xây Văn Miếu, và Quốc Tử Giám được tu sửa lại năm 1253, gọi là viện Quốc Học. Ðó là trường Ðại Học cao cấp không chỉ dành cho con em quý tộc mà được mở rộng cho sĩ phu cả nước. Chế độ giáo dục và thi cử đời Trần có quy củ hơn đời Lý. Các khoa thi ở Thăng Long được tổ chức đều đặn.

Những người trúng tuyển gọi là Thái Học sinh (Tiến Sĩ) và từ năm 1247 đặt thêm học vị Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa (gọi là tam khôi) tặng cho những người đỗ xuất sắc nhất. Ba vị tam khôi đầu tiên đều rất trẻ: Trạng Nguyên Nguyễn Hiền 12 tuổi, Bảng Nhãn Lê văn Hựu 17 tuổi, Thám Hoa Ðặng Ma La 13 tuổi, Lê Văn Hựu sau trở thành nhà sử học lớn, tác giả của bộ Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư 30 quyển, hoàn thành năm 1272.

Về giáo dục, thi cử phát triển cùng với việc lập viện Quốc Học, năm 1253 nhà Trần lập Giảng Võ Ðường (khu giảng võ hiện nay). Từ trường võ bị cao cấp đầu tiên này đã đào tạo ra một đội ngũ tướng soái tài ba của quân đội nhà Trần, trong đó có nhiều người lập nên công trạng bình Nguyên Mông, Trần Quốc Tuấn soạn hai bộ binh thư: Binh Thư yếu lược và Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư, làm cơ sở lý luận cho việc tập luyện và đào tạo tướng tài.

Về mặt hành chính công việc quản lý Thủ Ðô thuộc Ty Bình Bạc. Năm 1265, nhà Trần đổi Ty Bình Bạc thành Kinh Sư An Phủ Sứ, năm 1341 đổi thành Kinh Sư Ðại Doãn, năm 1394 lại đổi làm Trung Ðô Doãn. Người đứng đầu chính quyền Thăng Long được chọn lựa rất chặt chẽ. Trước hết là phải có học vị cao, theo quy định năm 1265, người đó phải trải qua chức An Phủ Sứ các Lộ, nghĩa là đủ lệ khảo duyệt... nhờ đó Thăng Long đời Trần có nhiều viên quan cai trị tài năng, đức độ nổi tiếng như Trần Thì Kiến (An Phủ Sứ Kinh Sư năm 1297, Nguyễn Trung Ngạn “Ðại Doãn Kinh Sư” năm 1341).

Ðó là những nhân tố làm rạng rỡ cho Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến. Theo đó là tiếng Hà Nội cũng có một vị thế vô cùng quan trọng, là tiếng nói của Thủ Ðô, trái tim của cả nước. Tiếng Hà Nội sở dĩ được yêu thích, ngưỡng mộ và trở thành ngôn ngữ văn học thống nhất từ lâu, một ngôn ngữ văn học làm chuẩn mực cho ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Theo quy luật chung, nơi nào có trình độ phát triển cao hơn về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội... thì ngôn ngữ của nó cũng phát triển hơn.

Nhưng những biến động của Lịch sử, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, năm thập niên qua nói chung đã tác động đến cấu trúc cũng như chức năng của tiếng Hà Nội. Nếu coi ngôn ngữ vừa là sản phẩm đồng thời là yếu tố phương tiện của văn hóa thì tiếng Hà Nội là tấm gương phản ảnh văn hóa Hà Nội.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)