Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG XI: Cảnh Hà Nội Ngày Nay

Hà Nội bây giờ có ba trung tâm: Một là lăng Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Ðình, hai là vườn hoa cửa Nam, ba là Hồ Gươm.

Khu phố Ba Ðình rộng 10,75 Km2. Nói về Ba Ðình, xưa nay vẫn là khu thành quách. Các công sở chỉ có ba phố vào loại “hàng” là Hàng Than, Hàng Bún, Hàng Ðẫy.

Dân số khu Ba Ðình, xưa đông đúc. Còn ngày nay dân cư Ba Ðình chỉ có một xác chết. Và một nhúm lãnh đạo đảng sống bám theo xác chết.

Quảng Trường Ba Ðình ở chỗ cũ của Tây Thành (Ðại Bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Ðội bảo vệ lăng và xác chết ở chỗ Sở Cát Tút cũ, nơi đây đúng là góc Tây thành. Men theo phố Hoàng Diệu là tường thành phía Tây của Cấm Thành. Thành Thăng Long của nhà Lý và các vua Trần ở nguyên vị trí Cấm Thành của nhà Lý. Ðến các vua Lê cũng ở đây. Nhà Lê chỉ xây thêm Ðông Cung ở phía Ðông thôi.

Khu cấm thành xưa rất rộng được xây theo hình chữ nhật giới hạn tường phía Tây vuông góc với phố Hồ Khẩu. Phía Bắc cấm thành chạy dọc theo đường Hoàng Hoa Thám, Phan Ðình Phùng, tiếp đến cấm thành phía Ðông chạy song song sát với Hoàng Thành từ phố Hàng Ðậu chạy dọc theo đường Phùng Hưng, rồi vuông góc với đoạn phía nam, chạy dọc bên trong đường Trần Phú, (tên đường Cộng Sản đặt) khu cột cờ và viện bảo tàng quân đội Cộng Sản, qua phố Ðội Cấn, Liễu Giai thì vuông góc với làng Hà khẩu. Trong cấm thành có điện Kinh Thiên, Ðiện Vạn Thọ, Thái Miếu, Ðông Cung… Theo ước đoán trung tâm cấm thành vào khu vực lăng Hồ Chí Minh bây giờ.

Ðặc điểm các đường của khu Ba Ðình là có bốn đường ngang, đi suốt từ Ðông sang Tây, tây bắc là đường Hàng Ðậu, đến vườn hoa Tháp Nước thì có một nhánh đi chếch lên phía Bắc, đường Quan Thánh đến Thụy Khuê, lên đến Bưởi, nhánh thẳng là đường Phan Ðình Phùng, rồi Hoàng Hoa Thám, cũng đến Bưởi, ba là đường Lê Hồng Phong (Cộng Sản đặt sau 1954) rồi đường Ðội Cấn đến Cống Vị, bốn là đường Nguyễn Thái Học, tiếp là đường Kim Mã đến cầu Giấy, chỉ có hai đường chính là đường Hùng Vương và Hoàng Diệu, đường Hùng Vương theo tường thành phía Tây.

Thành nhà Nguyễn cũ từ Bắc xuống phía tay phải là Phủ Toàn quyền cũ. Vào vườn Bách Thảo trước đây gọi là trại Bách thú, trại Hàng Hoa. Từ cửa Ðông Bắc, đi theo đường bên hồ dài trồng sen, đến một cái hồ tròn, trong đó nổi lên hòn đảo nhỏ. Nhưng cho đến thời Lê, trên con đường này có đền thờ vua Mai Hắc Ðế và đền Bà Ðá. Cạnh Hồ là quả núi Xưa, còn gọi là núi Xuân, cao 18m. Sau núi Xuân có miếu Thảo Xuân. Phía Tây vườn, còn ngôi đền thờ, mang ba chữ “Khám Xuân Từ”, bên một đền to nữa là Miếu Hội Ðồng. Nhà Nguyễn xây dựng để thờ “Bách Thần” (Một trăm vị thần). Có lẽ trên thế giới này không có kinh đô nước nào lại thờ nhiều vị thần như ở Thủ Đô nước ta. Nhân dân xây đền thờ những người có công dựng nước và giữ nước, từ các vị vua đến các vị anh hùng dân tộc, không thiếu một vị nào, từ vua Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, trước kia có đền thờ ở phố Ðức Chính Ba Ðình, rồi đến thờ các vị vua Hùng ở xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, thờ Trưng Nữ Vương (40-43) ở đền Ðồng Nhân quận Hai Bà Trưng, đền thờ Lý Bôn (544-602) ở xã Tây Mỗ, huyện Từ Liêm, Hà Nội, đền Thờ Triệu Việt Vương (549-571) ở đình làng Yên Canh phố Cửa Bắc, đền thờ vua Ðinh Tiên Hoàng (968-980) ở làng Cổ Ðiển, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, đền thờ Lý Chiêu Hoàng (1225) ở xã Mai Lâm, huyện Ðông Anh, đền thờ vua Lê Thái Tổ (Lê Ðại Hành) ở phố Hàng Vôi quận Hoàn Kiếm v.v…

Ðền thờ các vị anh hùng dân tộc như Trần Hưng Ðạo, ở phố Khâm Thiên quận Ðống Ða, đền thờ Trần Khánh Dư ở xã Xuân Nộn huyện Ðông Anh ngoại thành Hà Nội, đền thờ Nguyễn Khắc Chung cũng ở huyện Ðông Anh, đền thờ Lý Thường Kiệt ở phố Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm v.v…

Ðến các danh nhân văn hóa như Nguyễn Trãi có đền thờ ở huyện Thanh Trì ngoại thành, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491) có đền thờ ở Hà Nội, nhưng tác giả không còn nhớ ở đâu, đền thờ Liễu Hạnh ở Phủ Tây Hồ cạnh Hồ Tây thuộc quận Tây Hồ ngày nay. Ðây là nơi kỷ niệm cuộc gặp gỡ giữa Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan và Liễu Hạnh. Câu chuyện về cuộc gặp gỡ này được ghi lại trong nhiều tác phẩm như Vân Cát thần nữ của Ðoàn Thị Ðiểm, sự thờ phụng các vị thánh bất tử ở Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên, Hà Nội Xưa Nay của Trần Huy Bá có ghi:

Ðền thờ các vị Quốc Sư có công phò vua giúp nước như: Viên Thông Quốc Sư (1080-1151 tác giả không nhớ nơi thờ), Từ Ðạo Hạnh (1115) được thờ ở chùa Láng Quận Ðống Ða, Thiền Sư Minh Không (1066-1441) ngài là quốc sư, trước có đền thờ ở quận Hoàn Kiếm v.v…

Các vị danh thần, như Tô Hiến Thành được thờ ở làng Dã Chợ huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, Ðỗ Trung có đền thờ ở thôn Tế Xuyên, huyện Gia Lâm, Phan Tu được thờ ở Xã Thanh Liệt, huyện Thành Trì, ngoại thành v.v…

Hà Nội thờ cả những vị thần huyền thoại như Rùa Vàng Hồ Hoàn Kiếm, thờ thần Kim Quy (Xin xem tích Trọng Thủy Mỵ Châu và nỏ thần). Thần Kim Quy là vị thần gắn liền với lịch sử thành lũy của Việt Nam, Thần Bạch Mã (được thờ ở phố Hàng Buồm quận Hoàn Kiếm.) Tích xưa ghi rõ, vua Lý Thái Tổ dời đô về thành Ðại La, thuyền vua đậu ở dưới chân thành, bỗng thấy rồng bay lên bèn đổi tên là thành Thăng Long, rồi đến Sơn Tinh được thờ ở đình làng Kim Liên là một trong những vị thần của Thăng Long tứ trấn. Ðền thờ Sơn Tinh có ở rất nhiều nơi trong nước, riêng ở Hà Nội trước kia có tới hơn hai mươi chỗ thờ Sơn Tinh, những nơi thờ chính vẫn là đền Thượng trên núi Ba Vì, quê Ma Thị, mẹ nuôi của Sơn Tinh. Nguồn gốc truyện Sơn Tinh ở vùng núi Tam Ðảo, vị thần thời vua Hùng Vương thứ XVIII, rồi đến thờ Thánh Gióng ở làng Mạch huyện Ðông Anh, làng Phù Ðổng huyện Sóc Sơn đều ở ngoại thành Hà Nội.

Xin trở lại khởi điểm, đền thờ “Bách Thần” nay trong vườn Phủ Thủ Tướng Cộng Sản. Vườn Bách Thảo là đất của thôn khám Xuân cũ, sau đổi thành phường, thuộc huyện Vĩnh Thuận. Ðặt tên như vậy vì đất thôn này trải dài từ Khám Sơn đến tân Xuân Sơn. Năm 1890, thực dân Pháp đuổi dân làng đi để lấy đất xây Phủ Toàn Quyền (nay đổi chủ là Dinh Chủ Tịch), cả khu Ðông của Phủ Chủ Tịch là thành Hà Nội thời Nguyễn, nay chỉ còn cột cờ. Khu đất nầy đầu thế kỷ XX, người Pháp làm một vườn hoa đẹp nhất Hà Nội, gọi là vườn Hoa Canh Nông, khi Hồ Chí Minh về tiếp quản Thủ Đô cho dựng ngay tượng đài Lenin ở đây, cạnh cột cờ cũ, phía trái là cơ quan của Trung Ương đảng Cộng Sản. Xây trên khu núi Khám Cũ. Quảng trường Ba Ðình, nhà Quốc Hội bù nhìn của đảng và trụ sở Bộ Ngoại Giao… Sau lăng Hồ Chí Minh trồng đủ mọi thứ cây, vườn cây ở đây được trồng để lấy bóng mát cho xác chết, và làm cảnh.

Nó được chăm sóc chu đáo cẩn thận và ít bị tác động bởi con người (vắng vྻ) nên nhiều cây trở thành cổ thụ trông như một khoảng rừng xanh bạt ngàn, đã vậy lại còn khu vườn cây cảnh và nhà sàn của Hồ Chí Minh, viện bảo tàng Hồ Chí Minh chạy dài mãi xuống Chùa Một Cột.

Nhà sử học phẫn nộ, GS Nguyễn Huệ Chi, trong một bài viết trên trang web (www.talawas). Ông đã than phiền như sau: “Nhân nói về Hồ Chí Minh, tôi nhớ lại có nhiều lần làm công tác đưa khách nước ngoài đi thăm một số di tích Hà Nội, nhưng cứ hễ đến ngắm cảnh quan chùa Một Cột hiện nay là ai cũng phải ngao ngán lắc đầu. Bảo tàng Hồ Chí Minh đã choán không gian của cụm chùa Diên Hựu và chùa Một Cột, đến nơi mới nhìn cứ tưởng đâu như cụm di tích này là một công trình phụ nép vào bảo tàng hoặc nó được mọc lên từ một đáy giếng! Bởi vì chiều cao của chùa tính từ mặt sàn cho đến đỉnh mái là 2/20 chỉ bằng 1/10 chiều cao của lăng Hồ Chí Minh.”

Đối với con người, trong các loại văn hóa thì di sản văn hóa dân tộc được coi như thiêng liêng nhất bao giờ cũng được bảo vệ giữ gìn. Thế mà dưới thời Hồ Chí Minh đã đập phá biết bao nhiêu di tích lịch sử!

Ôi! Hà Nội ngày nay đã mất một địa vị là Thủ Đô của nước Việt Nam ngàn năm văn hiến, mà chỉ còn là một trung tâm thờ ma quái! Quảng trường Ba Đình lịch sử bị quỷ vương chiếm giữ!

Năm 1945, Hồ Chí Minh và đồng đảng cướp chính quyền từ tay chính phủ quốc gia Trần Trọng Kim. Ngày 2 tháng 9, Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình. Nhưng y lại làm tay sai cho Nga, Tầu.

Độc lập không thể là một biểu tượng của từ ngữ chính trị, hay lời nói mị dân, nói cho đúng: độc lập là loại bỏ hẳn mọi sự can thiệp của bất cứ một thế lực ngoại bang nào, qua tất cả hành vi tư tưởng chúng ta đều thấy rõ Hồ Chí Minh chỉ là một tên tay sai của quốc tế Cộng Sản. Y đã lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam để phục vụ cho ý đồ của bọn Đế quốc đỏ. Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp của toàn dân, khi về tiếp quản thủ đô Hà Nội theo tinh thần hiệp định Geneve, Hồ Chí Minh và đồng đảng, không mảy may nghĩ đến các bậc tiền bối đã có công dựng nước và giữ nước, mà y chỉ nghĩ đến xây dựng công viên của Lenin, tượng đài Lenin thật lớn ở Thủ đô. Trong khi vua Lý Thái Tổ người cha đẻ của Thăng Long không có dấu ấn ở đây, và các vị anh hùng dân tộc cũng hết đất đứng ở Thăng Long! Đền Hai Bà Trưng bị đập, kiệu rước dùng làm xe phân của hợp tác xã (theo nguyên văn bài viết của giáo sư Nguyễn Huệ Chi ở trong nước)… Các ngài bị bọn Cộng Sản “truy lùng gắt gao”! trong các chiến dịch bài phong kiến. Vì có những khác biệt về tư tưởng, một bên duy tâm, một bên duy vật, một bên vô tổ quốc, một bên vị quốc, bị lên án là phong kiến đáng đánh. Thái độ này được bộc lộ khá đậm nét, và được thực hành qua nhiều chiến dịch, và phong trào (bài phong) phá các chùa chiền, đền miếu thờ các vị vua, đến khai quật mồ mả.

Những nhân vật hào kiệt với những võ công oanh liệt trong lịch sử nước nhà bị đặt trước cảnh bể dâu biến đổi, đền đài miếu mạo trở nên hoang phế điêu tàn trên đất nước ngàn năm văn hiến!

Hai bà Trưng, bà Triệu, Lê Đại Hành, Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo… đã thâm nhập và chiếm địa vị tối cao trong tâm thức người Việt Nam. Nhưng rồi đã không chịu nổi những tiếng hò hét, đả đảo phong kiến của đám thanh niên Hồ Chí Minh trong các chiến dịch bài phong, và phút chốc bị mất chỗ đứng.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)