Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG IX: Giống người Hán nhát như chuột.

...

...

Văn minh xã hội thuộc nhiều bình diện và đa phương của nền văn hóa mỗi dân tộc, văn minh như kiến trúc, hội họa, văn học, nghệ thuật, phong tục, tập quán, nghi lễ, giỗ, Tết, hội hè, đình đám, đến trang phục, quốc phục, đều là di sản của văn minh văn hóa.

Giá trị khai sáng và ý nghĩa biểu tượng cho mỗi quốc gia, mỗi miền theo không gian, địa lý và thuần phong mỹ tục của hàng trăm quốc gia, muôn màu muôn vẻ.

Chúng ta thấy các quốc gia trên thế giới, từ những nước nhỏ bé vài triệu dân đến những quốc gia có hàng trăm triệu dân, họ đều có trang phục, lễ phục riêng như các quốc gia vùng Trung Đông, Iran, Afghanistan, bán đảo Ả rập, Bắc Phi, Marốc, Algeria, Tunésie, Libya, Đông Nam Á, Ấn Độ, Miến Điện, Thailand, Lào, Việt Nam, Campuchia, Mỹ Latin, Argentina, Chile, Paraguay, Péru, Ecuador, Trung Mỹ, El Salvador, Costa Ria, Mexico v.v.. không nước nào ăn mặc giống nước nào.

Các vị nguyên thủ quốc gia mỗi khi họ đi thăm viếng nước khác, hoặc tiếp khách nước ngoài, hay những ngày lễ hội dân tộc, họ đều mặc quốc phục, mặc dù thời đại ngày nay đã có những đổi thay, nhưng phong tục tập quán ấy họ vẫn trân trọng gìn giữ.

Ở nước ta các triều đại: Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn, các vua chúa vẫn có những sắc chỉ quy định về quốc phục, từ đấng thiên tử, đến các vị đại thần, quan lại, công chức các cấp. Tuy mỗi triều đại quy định một cách khác nhau, nhưng chỉ khác về kiểu dáng, rộng hẹp, thêu vẽ, hoa văn, màu sắc, tơ lụa, chứ cốt cách căn bản vẫn là áo hai thân, áo bốn thân, quần hai ống, khăn đội đầu. Đến khi người Pháp sang đánh chiếm nước ta để thiết lập nền cai trị thực dân, thì bộ lễ phục ấy vẫn tồn tại đến ông vua cuối cùng của triều Nguyễn là Hoàng đế Bảo Đại, sang ngang dưới thời Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hoà miền Nam. Và sau cả biến cố 30/4/75 nó vẫn dai dẳng ở một bộ phận người Việt lưu vong ra nước ngoài, những ngày giỗ Tổ Hùng Vương và các vị anh hùng dân tộc, các bô lão vẫn còn giữ được bộ quốc phục đó một cách trang trọng. Người Việt chạy qua đất Chùa Tháp và Thái lan, sau nhiều thế hệ, họ vẫn giữ được bộ quốc phục. Cũng cần biết thêm rằng khi người Pháp đến xâm lăng nước ta, một số người làm việc cho Pháp, hoặc giới thượng lưu đua nhau mặc bộ âu phục. Trái lại, đa số nhận thấy mặc quốc phục là nét bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, là quốc hồn, quốc túy, nên họ không thể bỏ, xem các bức hình của các bậc danh nhân  như cụ Nguyễn Khuyến, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản v.v…Đặc biệt là những chiến sĩ Cần Vương, khi ra pháp trường họ vẫn ung dung trong bộ quốc phục, hình ảnh này làm cho chúng ta vô cùng thán phục và xúc động.

 [1] Dẫn sách Tinh Thần Phật Giáo Nhập Thế tập I tr. 148, Nguồn Sống xuất bản 2005

lịch sử việt nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm

Tổng Thống Ngô Đình Diệm mặc Quốc Phục tiếp khách (trái); Triều đình Huế trong quốc phục Việt Nam (phải)

CHƯƠNG X: Quan hệ giữa quốc phục và bản sắc dân tộc.

Ở bên Tàu, đời nhà Thanh thi hành lệnh cắt tóc và đổi trang phục, họ ép buộc thi hành chế độ trang phục Mãn Châu. Thời Càn Long đã từng có đại thần dâng sớ lên Cao Tông, khuyên nhà vua đổi quốc phục sang Hán. Có một hôm vua mặc thử cồn nệm[1] ????? người Hán, vua soi gương thấy rất đẹp, thế nhưng ông vẫn cự tuyệt và nhấn mạnh vào những phong tục, nề nếp mà các vua Mãn Châu trước truyền lại, tự mình tuân theo, mũ áo không thể thay đổi, các quần thần thấy thế đều phải tuân theo. Đời nhà Đường, Tôn Vũ Đế lên ngôi, lệnh Hồ Đức đã gắn việc áo mũ với việc hưng vong của quốc gia. Ở nước ta thời gian Lê Long Đĩnh làm vua, y tự ý thay đổi lại quan chế và triều phục cho các quan văn, võ và tăng đạo theo như nhà Tống bên Tàu (Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư tập 1 trang 234).

Lê Long Đĩnh là một ông vua u mê, tàn bạo nổi tiếng trong lịch sử nước ta, đời sống nhân dân cũng như nền chính trị quốc gia lâm vào cảnh cùng khốn lung lay. Vận mệnh triều Lê ngắn ngủi, nguồn gốc của tai hoạ cũng từ đó mà ra. Sau Lê Long Đĩnh một nghìn năm, nước ta gặp phải vận xui, dân tộc Việt Nam vướng phải nghiệp nạn, lại có Hồ Chí Minh bắt chước họ Mao, mặc trang phục theo Tàu. Tuy không có chiếu chỉ thay đổi quốc phục phải mặc theo người Tàu, nhưng ông là mẫu mực cho cả nước. Từ cái hình ảnh Hồ Chí Minh xuất hiện trước quốc dân, đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 02 tháng 9 năm 1945, với bộ trang phục áo bốn túi màu vàng (màu của Công An). Kể từ ngày đó, mỗi khi Hồ Chí Minh xuất hiện ở bất cứ nơi đâu, lễ hội Quốc Khánh, kỷ niệm ngày sinh nhật Mác-Mao…hoặc viếng thăm nước ngoài, đi đâu Hồ Chí Minh cũng mặc quần kaki, áo bốn túi màu vàng nhạt, cổ cài khuy, chân đi đôi dày vải đen, hoặc khi tiếp xúc ngoại giao nhất nhất là mặc trang phục theo Tầu. Trên báo chí, hàng trăm ngàn hình ảnh, chỉ thấy ông mặc bộ đại cán bốn túi như Mao, cho đến khi người ta đặt ông trong hòm kính vẫn bộ đồ ấy. Và cũng kể từ năm 1945, tất cả cán bộ từ cao thấp trong đảng và chính phủ, người này kẻ khác nối nhau mặc đại cán bốn túi rồi thành lệ. Chuyện này không có gì lạ. Ngày xưa thời nhà Tống bên Tàu, chúa Vương Diễn tự làm khăn quấn đầu hình cái chùy, thế là các quan trong triều đều phải làm theo. Về cuối đời Vương Diễn lại đội mũ nhỏ, các quan, phi tần cung nữ đều làm theo vua. Trở về trước thời hậu Thục, chúa thích búi tóc cao, trong triều mọi người lại làm theo. Cho nên việc cả đảng Cộng Sản lẫn các quan chức trong chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bắt chước Hồ Chí Minh mặc đại cán theo Tàu Mao cũng là lẽ thường.

Thời mở cửa, quan chức nhà nước Việt Nam ra nước ngoài đã có thay đổi đôi chút, nhiều khi họ ăn mặc “complê” bảnh bao, nhưng cũng gặp nhiều chuyện ô nhục về cung cách cư xử và ăn mặc. Vào năm 1991 chính phủ Nhật tổ chức lễ đăng quang của Nhật Hoàng, có hàng trăm đoàn đại biểu các nước đến chào mừng, trong số đó có đoàn Việt Nam. Theo nghi thức lễ đăng quang, đoàn nước nào cũng phải mặc quốc phục của nước mình. Họ có gửi thông báo và hướng dẫn cho xem xét trước. Bộ nghi lễ của Nhật Hoàng thấy đoàn Việt Nam mặc đại cán bốn túi, họ hết sức kinh ngạc, nói với đoàn Việt Nam là ăn mặc kiểu này không phải lễ phục truyền thống của quý quốc. Đoàn Việt Nam lúc này hết sức bối rối và lúng túng, họ liên tiếp gọi điện thoại về Bộ Chính Trị Hà Nội xin ý kiến. Nhưng tất cả các vị lãnh đạo chóp bu của đảng đều không biết quốc phục Việt Nam thế nào, người trong kẻ ngoài không biết nên giải quyết việc này ra sao, đến phút cuối cùng đoàn Việt Nam phải xin bỏ cuộc. Thật là nhục nhã cho một đất nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến.

Lại một lần khác vào năm 1998 trong lễ trình quốc thư của đại sứ Việt Nam lên Vương quốc Bỉ, cũng có một tiết mục phải mặc quốc phục, lúc này cả ông đại sứ lẫn đoàn tùy tùng đều đau đầu, không biết phải ứng xử ra sao, bí quá họ lại phải điện về Hà Nội xin ý kiến, các vị lãnh đạo đảng vẫn cứ tưởng bộ đại cán bốn túi Hồ Chí Minh thường mặc là quốc phục, phía Bỉ bác bỏ không chấp nhận, họ điện đi điện về cũng không ai giải quyết được.(Theo báo Văn nghệ số 15, ngày 11/4/1998 xuất bản tại Hà Nội), bài của nhà văn Hoàng Tiến thuật lại thì “Sau nhiều lần thương lượng, với chính phủ Bỉ, họ nhân nhượng để cho phía Việt Nam mặc “nhờ” kiểu âu phục Áo đuôi tôm, khoác ngoài, complê bên trong, thắt nơ chớ không cà-vạt, mũ phớt cao, tất cả đều màu đen dịu.” [2] 

Sự đời đã đến nước này thì hết thuốc chữa! Thời phong kiến xa xưa, các bậc đế vương phần nhiều là những người có văn hóa trong dân nước đó. Thời nay cũng vậy, các vị nguyên thủ quốc gia đều là những người có học vấn cao, thông hiểu đủ cổ kim để làm đẹp lòng thiên hạ. Nhưng thật khốn khổ ở cái nước được gọi là Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, những người lãnh đạo đảng và chính phủ chỉ vỏ vẽ lớp ba, lớp bốn trường làng, đọc sách chưa thông thạo, khó có thể hiểu được lễ nghĩa. Cái họa ô nhục quốc thể này phải kể từ thời Hồ Chí Minh, khi ông bắt đầu lên cầm quyền đã thay đổi tiêu chuẩn chọn quan lại trị dân, với cái khẩu hiệu “ trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Đây là thất bại lớn của những người lãnh đạo đảng Cộng Sản. Khi họ phân định “thành phần giai cấp” xuất thân trong xã hội, để tổ chức nền cai trị đất nước, và trả thù những người cộng tác với chế độ cũ. Thể hiện rõ nhất là khi hấp hối, Hồ Chí Minh còn viết di chúc cho đảng trả thù Quân nhân miền Nam. 

Người muốn xây dựng việc lớn, không nghi kỵ oán nhỏ, không báo thù, nhưng khoan dung, tất sẽ được quần chúng ủng hộ. Nhà lãnh đạo sáng suốt phải là người không tính tới hoàn cảnh xuất thân của người khác. Bất kỳ một người nào có đại lược lãnh đạo quốc gia đều là người giỏi phát hiện nhân tài, sử dụng nhân tài và điều khiển nhân tài. Nội các và các vị nguyên thủ quốc gia lựa chọn để điều hành việc nước là tối ưu quan trọng. Đây là một sự thực muôn thuở, được rút ra từ lịch sử. Xem sử nước Tàu, tôi thấy Chu Nguyên Chương, là người lật đổ triều Nguyên sáng lập ra triều Minh, nhưng ông ta đã để mắt đến các nhân tài, văn võ của triều Nguyên, không cho cái lỗi trong quá khứ là tội. Tân Tòng Long, Quách Vân và Hồ Mỹ Lợi v.v… là những văn võ tiếng tăm triều Nguyên. Chu Nguyên Chương không phải là người đầu tiên mà từ cổ đến kim, từ Đông sang Tây, cách nhìn “xuất thân là đại kỵ trong sự lựa chọn nhân tài”. Quốc gia hưng vong, sự nghiệp thành bại đều liên hệ chặt chẽ với người lãnh đạo. Không có một dân tộc nào bất hạnh cho bằng một dân tộc mà quyền hành lãnh đạo nằm trong tay người lãnh đạo kém cỏi.

Người Do Thái lưu lạc trên khắp thế giới, họ vẫn giữ truyền thống văn hóa cũng như gia tài thứ nhất của họ là trí tuệ. Vốn là một dân tộc nổi tiếng về trí thông minh. Đất nước tài nguyên họ chẳng có gì! Lại bị lưu lạc mấy ngàn năm. Có lẽ tài sản lớn nhất của ông cha họ để lại cho các thế hệ sau bao giờ cũng là trí tuệ. Nếu có trí tuệ là có tất cả. Nước Nhật cũng là một bài học đáng giá ngàn vàng. So với nước ta tài nguyên của họ không có rừng vàng, biển bạc như ta. Nhưng họ biết sử dụng và tôn trọng trí thức. Họ trở thành một quốc gia vĩ đại. Trong khi đó Việt Nam dưới chế độ Hồ Chính Minh, trí thức bị gạt ra ngoài lề chính quyền và bị coi như “cục phẩn”. Những kẻ thất học trở thành giai cấp lãnh đạo ưu tú của đất nước, chúng hết sức căm thù những bậc tài danh, coi những người có văn hóa như mối nguy hiểm tiềm ẩn, uy hiếp chính quyền vô sản. Từ đó nền văn hiến, văn hóa  dân tộc bị xoá sạch. Chúng vất bỏ tôn miếu, nghi lễ truyền thống dân tộc, chỉ tôn thờ Mác-Mao. Đây là sự mất gốc hết sức đau lòng. Thương thay những người Cộng Sản, họ cũng là một thành phần của dân tộc Việt Nam, từ khi theo Hồ Chí Minh làm cách mạng vô sản, họ đã bỏ mất quá mau bản sắc dân tộc!

Tôi viết những trang này cống hiến bạn đọc một dịp trở về nguồn để nhận định rõ hơn những công đức của tổ tiên, đã xây dựng nên đất nước này và cả những nỗi đau thương lẫn sự bi tráng suốt ngàn năm được un đúc bằng xương máu, để Việt Nam đến nay vẫn còn là Việt Nam, không bị xóa nhoà vào cái khối Đại Hán. Các bạn phải luôn luôn nhớ đến công lao của tiền nhân ta đã kiên cường, dũng cảm chống lại bọn phong kiến phương Bắc, dân tộc ta mới tồn tại đến ngày nay. Bổn phận của chúng ta là phải nuôi dưỡng và phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống, làm cơ sở cho cuộc tranh đấu với mọi thế lực ngoại bang, khẳng định chủ quyền quốc gia, đề cao lòng tự tôn dân tộc, chống mọi khuynh hướng lai căn mất gốc.

Xin các bạn trẻ lưu ý, giữ gìn truyền thống, chống mọi khuynh hướng lai căn mất gốc, không có nghĩa ôm khư khư những cái cũ đã lỗi thời, không phải luyến tiếc níu lại những cái gì đã mất hay đang mất đi, có những cái mất đi là tiến hóa, song có những cái mất đi lại là đại họa. Ở đây tác giả không đi vào lý luận, bình giải chi tiết các đề mục đã nêu, mà chỉ trình bày sơ lược về khí chất của dân tộc Trung Hoa và một vài nét cốt tuỷ của tinh thần Đại Việt, đối chiếu, so sánh một số sự kiện lịch sử giữa Trung Hoa với Việt Nam.

[1]
[2]  Trích dẫn báo Văn Nghệ số 15 ngày 11 tháng 4 năm 1998

lịch sử việt nam, Phan Bội Châu

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)