Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

Âm mưu nô dịch Văn Hóa

...

Cảm thức về dân tộc chủ nghĩa này vẫn còn tiếp tục tác động một ảnh hưởng sâu xa cho đến ngay thời điểm hiện tại. Việt Nam trong quá khứ đã tìm kiếm sự trợ giúp của Trung Hoa trong sự theo đuổi các mục tiêu quốc gia của nó như trong cuộc chiến tranh với xứ Chàm, nhưng nó đã kháng cự mọi mưu toan của Trung Hoa nhằm lợi dụng các vị thế như thế và không có điều gì khiến chúng ta tin rằng nó lại sẽ không kháng cự một lần nữa các mưu toan như thế. Lịch sử kháng chiến của Việt Nam chống lại người Pháp rất nổi danh và và có vẻ là các bằng chứng gần đây về sự bất mãn ở địa phương đối với sự kiểm soát của Hoa Kỳ là một phần của một khuôn mẫu tuơng tự.

Nếu có bất kỳ một chủ điểm này trội bật hơn cả nơi dân tộc nhỏ bé nằm ở chóp mũi của tiểu lục địa Á Châu này, đó chính là các nỗ lực của nó để duy trì sự toàn vẹn quốc gia khi đối diện với sự chênh lệch gần như áp đảo. Lịch sử phát sinh được đọc một cách hào hứng và các học giả cho đến nay mới chỉ đào bới một cách hời hợt ngoài mặt.

"Mặc dù nhiều sách vở đã được viết về các quan hệ của Trung Hoa đối với các láng giềng của nó tại phía bắc, tây và đông, tương đối có ít tài liệu nói về các quan hệ với phương nam. Các cuộc nghiên cứu như thế có thể mang lại nhiều sự tương phản và so sánh quý giá và sẽ là sự trợ giúp quan trọng trong việc xác định vai trò lịch sử của Trung Hoa cũng nhu các ý định hiện thời của nó tại Đông Nam Á.

Chính sách truyền thống của Trung Hoa đối với các láng giềng phương bắc nằm ngoài Vạn Lý Trường Thành nói chung là một chính sách be bờ ngăn chặn (containment), chính sách của nó đối với các láng giềng phương nam là một chính sách chinh phục và sáp nhập. Việt Nam mang lại một trường hợp đáng chú ý một cách đặc biệt. Về mặt địa lý và văn hóa Việt Nam cống hiến một con đường hợp lý cho sự tiến bước liên tục của Trung Hoa xuống miền nhiệt đới và sự chinh phục của nó đối với toàn bộ phía đông bán đảo Đông Dương. Có một lúc điều này xem ra như thể sẽ xảy ra. Nhưng sự việc đã không diễn ra như thế, và biên giới phía nam của Trung Hoa sau rốt đã được ấn định ở phía bắc Thung Lũng Sông Hồng. Như thế nào và tại sao mà Trung Hoa đã bị chặn đứng trên đường nam tiến của nó?

Nếu có bất kỳ một chủ điểm này trội bật hơn cả nơi dân tộc nhỏ bé nằm ở chóp mũi của tiểu lục địa Á Châu này, đó chính là các nỗ lực của nó để duy trì sự toàn vẹn quốc gia khi đối diện với sự chênh lệch gần như áp đảo. Lịch sử phát sinh được đọc một cách hào hứng và các học giả cho đến nay mới chỉ đào bới một cách hời hợt ngoài mặt."

CHÚ THÍCH:

1. Paul Mus, "Vietnam: a nation off balance", Yale Review, XLI, 1952, các trang 526-527.

2. John E. Fairbank and Edwin O. Reischauer, East Asia: the great tradition, Boston, 1958, trang 449.

3. Mus, đã dẫn trên, trang 531.

 Xét về mặt truyền thuyết.

Cộng đồng Lạc Việt, Lạc Long Quân, Âu Cơ, những nhân vật trong truyền thuyết dân gian được ghi lại trong sử cũ, Ðại Việt có thể coi là hình ảnh khái quát của mọi thành phần dân tộc sống trong mảnh đất hình chữ S. Nói cách khác, từ trước khi quân Tầu xâm chiếm đất nước ta thì người Việt Nam đã có sẵn các biểu tượng văn hóa và các vị vua riêng của nước mình. Bao đời nay, trong tâm thức, người Việt tin rằng họ thuộc dòng dõi Lạc Hồng, là con rồng, cháu tiên và họ Hồng Bàng là triều đại mở đầu quốc thống của dân tộc Việt Nam. Niềm tin đó để lại dấu ấn trong nhiều đền đài, đình miếu cũ, mới, ở cả Bắc lẫn Nam. Quốc Sử xưa chép: Vua khai quốc dựng nghiệp họ Hồng Bàng, chữ Hán "hồng (..)" là chim hồng, họ Hồng, lại có nghĩa là to lớn đồng nghĩa với chữ Bàng. Người Việt Nam còn thường xuyên bắt gặp những hình ảnh, hình tượng của niềm tin ấy trong các lễ hội truyền thống như hội Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Ðông Anh, Hà Nội). Hội Mê Linh (Vĩnh Phú). Hội Gióng Sóc Sơn (huyện Sóc Sơn, Hà Nội). Hội Ðền Hùng, giỗ Tổ Hùng Vương v.v… Và hiện nay, ở làng Cổ Tích, núi Nghĩa Lĩnh vẫn còn là nơi thờ Ðền Hùng, thờ 18 đời vua Hùng Vương dựng nước (2897-258 trước Tây Lịch.) Khối đá Thiên Ân trời ban, cùng mộ Tổ Vua Hùng uy nghi hiện diện.

Tại Thanh Hóa còn đền thờ An Dương Vương năm 208, Trình Há gần ga xe lửa, nghĩa trang cách cầu Hàm Rồng 9 km, lại có đền thờ ở chân núi Mọ Dạ, cây số 108, trên đường Thanh Hóa đi Sinh, thờ An Dương Vương nơi nhà vua gieo mình xuống nước tự tử, và trên nữa ở cây số 56 cũng con đường ấy, có đền thờ công chúa Mỵ Châu, gần Bạng và Biện Sơn nơi nàng bị vua chém.

Ở Phú Yên, huyện Ðông Anh, ngoại thành Hà Nội, hãy còn ngôi làng nhỏ mang tên cũ Cổ Loa, cùng dấu tích Loa Thành, với lối kiến trúc xoáy trôn ốc tân kỳ. Ðền thờ An Dương Vương cũng ở tại đây, với giếng nước Trọng Thủy, bài học "Giặc ngồi sau lưng nhà Vua đấy" chắc vẫn còn nóng hổi. Việt Nam ta thời ấy (208 tr. Tây Lịch) còn mang tên Âu Lạc. Với biết bao nhiêu huyền thoại, giã sử… Mỵ Châu, Trọng Thủy, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Phù Ðổng Thiên Vương trong suốt 18 đời Vua Hùng dựng nước.

Gần Hà Nội là Sơn Tây được nhắc đến nhiều về bãi Ðồng Nhân, nay còn có đền thờ Hai Bà Trưng. Với cuộc khởi nghĩa tiêu diệt Thái Thú Tô Ðịnh và treo gươm nghĩa tử năm 43 sau Tây lịch.. rồi bà Triệu năm 248. Ðầu voi phất cờ vàng khởi nghĩa, trên 200 năm sau đó chống nhà Ngô đô hộ nước ta.

Hướng tới mạn Bắc, trong tỉnh Lạng Sơn ngày nay, vẫn còn có một tên gọi Chi Lăng chính ở nơi quan ải ấy người anh hùng áo vải Lê Lợi đã diệt quân nhà Minh cướp nước (1427) đông và mạnh gấp mười lần quân ta, và cũng ở nơi đây là nơi Nguyễn Trãi tiễn chân Phi Khanh.

Phía Nam Thanh Hóa, huyện Vĩnh Lộc ngày nay là thành nhà Hồ, một chứng tích cho một thời cải cách xã hội của Hồ Quý Ly.

Ðể bảo vệ biên thùy vì dân Chàm thường quấy rối. Vua Lê Thánh Tông đem quân đánh dẹp (1470) và cũng là bắt đầu cuộc Nam tiến

Cả truyền thuyết lẫn văn hóa, lẫn lịch sử, hai điểm ấy đều sẽ còn tồn tại, nếu như Việt Nam về địa lý nó nằm ở Châu Lục khác. Không bao giờ tiếp xúc với Trung Hoa "Dù ai đi ngược về xuôi - Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba" hay "Ai về Phú Thọ cùng ta, Vui ngày giỗ Tổ tháng ba mồng mười". Một câu ca dao, thế mà liên tục trong dòng sống dân tộc, một thứ liên tục sống động trong tâm tư, tình cảm người Việt Nam. Nên những thần thoại được gọi là dã sử hay huyền sử trở nên bất tử, vì chúng đảm nhiệm được sứ mạng nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, khiến cho con cháu vẫn sống an nhiên với niềm tin kiêu hãnh mình là con cháu Tiên rồng theo nghĩa cao trọng!

Về các sự kiện lịch sử được ghi chép thì sách sử của Sử gia Trung Hoa còn lưu lại đến nay có niên đại khá cổ. Ví dụ như sách Hoài Nam Tử do Lưu Ân viết vào thế kỷ II Tr CN. Sách Hán thư được Ban Cố soạn vào thế kỷ I sau CN. Giao Châu ngoài việc ký viết vào thế kỷ IV sau CN, các sách Nam Viết Chí, Quảng Châu Ký được xác định biên soạn vào thế kỷ V sau CN. Ngoài ra trong các sử chí, Thông điển từ thời Tùy, Ðường đến Minh, Thanh cũng ghi, sao lại, bổ sung, hoặc hiệu chính về nước Văn Lang, về Âu Lạc.

Các sách do tác giả Việt Lưu biên soạn, hiện còn được biết, đều là những tài liệu có niên đại từ thế kỷ XIV về sau. Khi viết sử lược Việt Điệu U Linh do Lý Tế Xuyên soạn vào năm 1329. Sách Lĩnh Nam Chích Quái do Trần Thê Pháp sưu tầm, biên soạn vào thế kỷ XIV v.v…

Ðề cập riêng về thời kỳ đầu tiên này dưới tiêu đề "Họ Hồng Bàng" và "Họ Thục – An Dương Vương"… Những sách vở của tác giả Việt được biên soạn khá muộn, nhưng có nội dung phong phú, tập hợp được nhiều tài liệu, truyện tích từng lưu truyền lâu đời trong dân gian có liên quan xa gần đến thời Văn Lang – Âu Lạc, như truyện họ Hồng Bàng, truyện Ngư Tinh, truyện Hồ Tinh, truyện Mộc Tinh, truyện Phù Ðổng Thiên Vương, truyện Nhất Dạ Trạch, truyện Bánh Chưng, truyện Dưa Hấu, truyện Núi Tản Viên, truyện Rùa Vàng v.v…

Ngoài ra, người ta còn ghi nhận trong xã hội hàng ngàn vạn di tích, mộ táng thời bấy giờ trên địa bàn sinh tử của tập đoàn người Việt Cổ, có nội hàm văn hóa thống nhất, nhưng cũng có những biểu hiện đa dạng. Các đa dạng ấy đã tạo nên những đặc trưng văn hóa riêng trên đất Lạc Việt mà từ khoảng 1000 năm Tr CN, danh xưng Việt đã xuất hiện phổ biến ngoài những ghi chép ở Dật Chu Thư, trong Chu đông quan khảo công ký, Tân thu Ký niên cũng ghi rõ. Vào năm thứ 24 (1040) Tr CN đổi thành Vương nhà (Tây) Chu. Vu Việt lai tân (Vu Việt đến làm khách). Ngô Việt là một Chi của Bách Việt. Vu Việt là tôn danh của nước Việt… đến sách Chu Lễ có ghi chép địa hình, núi sông, và các sản vật trong vùng cư trú của Bách Việt.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)