Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

lịch sử việt nam

Vài nét về vua Duy Tân

...

Thái độ của vua Duy Tân với các đại thần trong Triều.

Ðể độc giả hiểu phần nào về vua Duy Tân lúc còn nhỏ đang trị vì. Tác giả trích dẫn lại những đoạn trong sách “Hồ sơ vua Duy Tân” nói về Ngài của một số nhân vật lịch sử đã từng có những liên hệ mật thiết với nhà vua thời bấy giờ là:

- Ông Huỳnh Côn, Thượng Thư Bộ Lễ triều vua Duy Tân.

-Ông Nguyễn Văn Mại, Thái Tử Thiếu Bảo, Hiệp Tá Ðại Học Sĩ, Tuần Vũ Quảng Trị lúc bấy giờ.

Trong tập hồi ký của ông Huỳnh Côn tự Ðan Tường, Thượng thư Bộ Lễ triều vua Duy Tân, do De Jean Jacnal ghi lại bằng Pháp văn và đăng tải trong Revue Indochinoise năm 1924, ông Huỳnh Côn đã kể lại như sau những chi tiết rất sống động về hai vị vua nói trên của nhà Nguyễn:

“Với chức vụ Thượng Thư Bộ Lễ, tôi có bổn sự chỉ vẽ cho nhà vua rõ vai trò của Ngài sẽ giữ trong cái lễ long trọng với trời đất là lễ Nam Giao.”

“Lần đầu tiên, năm 1909, tuy mới có 10 tuổi nhà vua đã thay mặt nhân dân đứng ra làm chủ tế lễ Nam Giao để cầu xin ơn trên ban lành cho trăm họ. Trong nhiệm vụ thiêng liêng ấy, nhà vua đã tỏ ra nghiêm túc mặc dù còn quá trẻ.

“Viên toàn quyền, viên khâm sứ và tất cả các nhân viên Pháp khác ngụ tại Huế, đều có mặt trong buổi lễ. Tất cả đều ngợi khen sự cố gắng phi thường của thiếu quân vương trong việc nhu cầu hạnh phúc và thịnh vượng cho toàn dân.

Làm chủ tế khi còn quá trẻ: Từ 3 giờ cho đến 6 giờ sáng, nhà vua đứng nghiêng mình, quỳ xuống lạy rồi đứng lên dâng phẩm vật: Các tác động cực nhọc ấy cứ như thế được nhà vua làm đi làm lại không biết bao nhiêu lần mà kể, khiến cho chúng tôi có cảm tưởng rằng nhà vua chắc không thể nào chịu đựng nổi cho đến cùng. Thế mà nhà vua đã tỏ ra một nghị lực phi thường mặc dù sức vóc của ngài chẳng được bao nhiêu. Một ngày nọ, sau Tết Nguyên Ðán, Ngài họp các vị Thượng Thư lại và ra lệnh cho họ ký một văn thư mà họ phải đích thân đem cho viên Khâm Sứ, Ngài còn chỉ thị hai người trong chúng tôi phải qua Pháp để đệ trình quan Giám Quốc một dự án sửa đổi bản hiệp ước Pháp-Việt ông chủ tịch hỏi Ngài định cử ai

đi Pháp thì Ngài đáp: “Một Thượng Thư Hoàng Tộc và một Thượng Thư Bộ Lễ.” Dĩ nhiên, chúng tôi từ khước sứ mạng ấy. Trái lại chúng tôi đến báo cáo các việc ấy với Hoàng Thái Hậu. Bà này rầy la Ngài một chập đích đáng.

“Một lần khác, trong khi tôi dậy chữ Hán cho Ngài, thì Ngài cắt ngang buổi học mà nói rằng: “Không có ông Thượng Thư nào chịu nghe tôi cả. Tôi làm Vua chỉ có hư danh mà thôi!” Giữa lúc ấy, Hoàng Thái hậu đến rầy la vua con, nhưng vô hiệu. Tôi tức tốc đi mời ngay ông Chủ Tịch Hội Ðồng và ông Thượng Thư Bộ Hình đến. Nhà Vua vẫn lập lại: “Các thầy không muốn nghe tôi. Không có ai trong các thầy lo thi hành mệnh lệnh của tôi cả!” Ngay lúc ấy, ông Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư Bộ Công xuất hiện và tâu: “Ngài ngự muốn đánh Pháp ư? Ðược rồi! Nhưng Ngài Ngự lấy gì mà đánh Pháp? Ngài Ngự không có tài chánh cũng không có quân đội!” Nhà Vua làm thinh một chút rối nổi lôi đình la to: “Lúc này chính là lúc phải xúi dân nổi dậy, trong lúc nước Pháp đang lâm chiến!”

“Thật là quá lắm rồi! Tôi không dấu giếm bạn đồng liêu của tôi cái ý kiến nếu nhà Vua còn nuôi dưỡng cảm nghĩ như thế, thì nên đề nghị Ngài thoái vị.”

Lúc này người Pháp thao túng chính trị Việt Nam, ai cũng hiểu thế mạnh của họ. Ða số các vị đại thần trong triều đã nghiêng về phía giặc. Tiền bạc, địa vị đã mê muội họ rồi!

Bây giờ họ chen chúc nhau tranh giành ân huệ của chính quyền bảo hộ. Như vậy nhà vua gần như hoàn toàn bị cô lập. Các bề tôi của Ngài chẳng giúp gì cho Ngài mà còn phản bội Ngài để bí mật lập công với Pháp.

Vua Duy Tân dưới mắt ông Nguyễn Văn Mại.

Trong tập hồi ký bằng Hán Văn nhan đề là “Lô Giang Tiểu Sử”, ông Nguyễn Văn Mại hàm Thượng Thư, Thái Tử Thiếu Bảo, Hiệp Tá Ðại Học Sĩ, kiêm Tỉnh trưởng Quảng Trị triều Duy Tân, đã viết về vị vua này như sau (Tập hồi ký này do ông

Nguyễn Hy Xước, con ông Nguyễn Văn Mại, phiên dịch ra Việt văn và quay ronéo đóng thành tập.)

“Ngày 20 tháng 3 ta về kinh Thiên Quan. Lúc ấy, vua Duy Tân đã lớn, đã nạp phí. Gặp ngày Thiết Triều, các quan đại thần và ta vào chầu. Có quan dặn rằng:

-“Có vào yết, thì Ngài Ngự hỏi chi nói nấy, đừng nên nói chi khác.”

“ Ta ngạc nhiên. Ðại Triều, vua triệu ta vào. Khi ấy vua vào đông viện Cần Chánh, ngồi một mình ở ghế nhỏ, khiến ta ngồi bên cạnh. Vua im lặng nhìn ra ngoài. Khi đó ta có phụng tín một hộp bạc chạm, một khay gỗ khảm xà cừ, vua chẳng nhìn. Ta trông Ngài có vẻ tức giận. Hồi lâu vua hỏi:

- “Dân tình Quảng Trị đói, nay đã bình phục chưa?”

-Ta lấy việc đó tâu lại. Ngài im lặng, ta bái từ đi ra. Mới hay tháng trước, vua xuất viện thành Phàn Chánh Bản Giáp Thân Hòa Ước mà viện Thần Cần Cà. Và nghe được việc ấy, vì đó Ngài cũng viện thần sinh ác cảm lúc ấy ta về kinh, có đem theo tập “Việt Nam Phong Sử” tặng mỗi người một quyển.

Từ khi còn nhỏ. Vua đã có những việc làm và lời nói cương nghị, chống Pháp rất quyết liệt. Có lần ngồi câu trước bến Phú Vân Lâu cùng với thầy học là Nguyễn Hữu bài. Vua ra vế đối:

“Ngồi trên nước không ngăn được nước. Chót buông câu nên lỡ phải lần”.

Nguyễn Hữu Bài đối lại:

“Nghĩ việc đời mà ngán cho đời. Ðành nhắm mắt đến đâu hay đến đó.”

Mặt đượm buồn. Vua nói: “Hóa ra thầy là người cam chịu bó tay trước số mạng. Theo trẫm, sống như thế thì buồn lắm. Phải có ý chí vượt gian khổ, khó khăn để tiến lên thì cuộc sống mới có ý nghĩa.

Cuối năm 1916 được một tổ chức cứu nước giúp đỡ nhà vua

đã bí mật gặp hai nhà chí sĩ của Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bội Châu chủ trương và Trần Cao Vân, Thái Phiên bàn mưu khởi nghĩa đánh Pháp. Vua Duy Tân chủ động tham gia và quyết định ngày khởi nghĩa sớm hơn để khỏi lỡ thời cơ. Không may bị lộ nhà vua đã bị Pháp bắt vào ngày mồng 6 tháng 5 năm 1916 cùng nhiều chiến sĩ cứu quốc khác. Giặc dụ dỗ ngài khẳng khái trả lời:

- Nếu các người dùng bạo lực bắt ta thì cứ bắt. Còn ta nhất định không về!

Toàn quyền Pháp ở Hà Nội đích thân ra gặp và dụ dỗ vua trở lại ngai vàng. Nhà vua bình thản trả lời:

-Các ngươi muốn buộc tôi phải làm vua nước Nam. Thì hãy coi tôi như một ông Vua đã trưởng thành và có quyền tự do hành động. Nhất là quyền tự do trao đổi thư tín và chính kiến với chính phủ Pháp.” Không chấp nhận được. Toàn quyền Pháp ra lệnh cho Khâm Sứ đưa vua Duy Tân vào tạm giữ ở đồn Mang Cá. Cuối cùng Ngài bị đưa đi đày ở đảo Reunion.

Dựa vào sự nhận xét của các vị đại thần triều vua Duy Tân. Chúng ta có thể nói, Ngài là một trong những bức tranh vô song về cuộc sống và nhân cách. Cũng như cung cách ứng xử của Ngài với người Pháp và các quan trong triều. Ở cái tuổi 16, thì đúng là chỉ có bộ óc phi thường mới làm được điều ấy.

Ghi chú: Nguyễn Thế Anh, Thạc Sĩ học xuất bản tại Sài Gòn năm 1973.

Sách tham khảo:

1- Duy Tân 1900-1945 trên trang ViệtSiences; 2- Rời bỏ ngai vàng cùng toàn dân đánh Pháp; 3- Bách khoa điện tử, truy cập 3- 20081; 4 -Hoàng Trọng Thược “Hồ sơ vua Duy Tân” Mõ Làng xuất bản năm 1993; 5- Trần Trọng Kim “Việt Nam Sử Lược”; 6- Phan Trần Chúc “Vua Hàm Nghi” (Chánh ký – Hà Nội năm 1952)

Tài liệu tham khảo:

7- Trần Ðông Phong “Người Hùng Tân Sở -Hàm Nghi Một Nhà Ái Quốc, Một Nghệ Sĩ Ða Tài”

Theo tài liệu còn được lưu trữ tại trung tâm văn khố Pháp tại Aix-Nem-Provence.

Http://www.VietNamexodus.org , 11-04-2009; Tạp chí “Sông Hương” xuất bản tại Huế tháng 8 năm 1988

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)