Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

...

Trận Trafalgar (20-10-1805)

Ðây là trận thủy chiến lớn nhất và cũng là trận cuối cùng trong thời đại chiến thuyền chạy bằng buồm.

Trafalgar là tên gọi một vùng biển ở cực Nam nước Tây Ban Nha, phía Tây Ðại Tây Dương, gần eo biển Gibraltar. Nơi đây đã ghi chiến công của Hải Quân Anh đánh thắng Hải Quân Pháp vào ngày 20-10-1805.

Từ lâu, Hoàng Ðế Pháp là Napoléon có ý định đập tan hạm đội của Anh khi đó đang làm bá chủ mặt biển Ðại Tây Dương và kể cả Ðịa Trung Hải. Tây Ban Nha lúc này đứng về phe với Pháp nên Napoléon đã lập được nhiều căn cứ thủy quân ở dọc bờ biển phía Ðại Tây Dương và Ðịa Trung Hải. Ðầu năm 1805, thuyền chiến của Pháp và Tây Ban Nha đóng ở Brest, ở Rochefort và Cadix… Hải quân Anh do Ðô Ðốc Nelson chỉ huy đã đánh bại hải quân Pháp do hoàng đế Napoléon và đồng minh Tây Ban Nha trong trận này, quá nửa chiến thuyền của Anh bị đắm và Ðô Đốc tổng chỉ huy Nelson bị tử thương, nhưng Anh vẫn thắng. Sau chiến cuộc kết thúc, bên Pháp và Tây Ban Nha có trên 7000 binh sĩ bị chết và bị thương, còn phía Anh chỉ có 2.500 người.

Trận Waterloo (1815)

Napoléon bị lưu đầy gần một năm trở về Pháp để tiếp tục thực hiện giấc mộng thu phục là ngai vàng và chinh phục Châu Âu. Trước đây mỗi lần làm lễ ra trận Napoléon thường nói câu: “Ngày mai ta thắng trận Marangô, ngày mai ta thắng trận Austerliz”. Ðó là những chiến công đã đưa Napoléon lên đến đỉnh vinh quang và trở thành con người của huyền thoại. Nhưng năm 1812 sau khi tiến quân vào Nga ông đã sa lầy và cuối cùng quân đội bị đồng minh đánh bại vào năm 1814. Napoléon buộc phải thoái vị, bị đầy ra đảo Elbe theo quyết định của đồng minh tại Vienne, Thủ Ðô Áo. Trở lại Pháp lần này, ông tâm niệm một điều là “phải phục thù, phải rửa hận”. Nhưng ông đã không phục được thù, rửa được hận trong trận đại chiến Waterloo giữa Liên quân Anh, Phổ, Nga, Áo, Bỉ, Hà Lan đánh Pháp. Khi trận chiến kết thúc, một hiệp ước được ký kết giữa các nước đồng minh Anh, Phổ, Nga, Áo và Pháp tại Paris. Một lần nữa Napoléon buộc phải thoái vị và theo thỏa hiệp này, Napoléon lại tiếp tục phải đi đầy ở đảo Saint Hélène. Và cuối đời ông đã kết thúc một cách thê thảm vào năm 1821 trên hòn đảo héo lánh giữa Ðại Tây Dương.

Napoléon cùng thời với danh tướng Nguyễn Huệ. Người đánh trăm trận không thua trận nào. Nhà Tây Sơn dẹp Chúa Nguyễn ở phía Nam. Nguyễn Ánh hết lẩn trốn ở Hà Tiên, lại chạy ra đảo Phú Quốc. Bị truy nã gắt gao, chúa chạy đến đảo Cổ Long (Kolirong), cả cuộc đời vua chạy trốn, các tướng lãnh đến binh sĩ của vua Gia Long, cứ nghe đến tên Nguyễn Huệ là khiếp sợ, bỏ thành chạy hoặc quy hàng. Ánh cầu viện hoàng đế Pháp cũng không cứu được Ánh, đường cùng Ánh lại chạy sang Vọng Các (Bangkok). Khẩn cầu vua Xiêm, nước Xiêm bấy giờ dưới triều vua Chakkri đương lúc cường thịnh và đang nuôi mộng xâm lăng để mở rộng cõi bờ. Ðược Nguyễn Ánh xin cứu viện, vua Xiêm hoan hỉ nhận lời ngay. Chụp cơ hội tốt, mùa Hạ năm Giáp Thìn (1784) Chakkari Hoàng Ðế sai cháu là Chiêu Tăng làm chủ tướng và Chiêu Sương làm tướng tiền phong thống lĩnh hai vạn Quân Thủy và 300 chiến thuyền, đồng thời vua Xiêm lại phái hai tướng là Lục Côn và Sa Uyển cùng với tướng Chiêu Thùy Biện đem một đạo quân trên 3 vạn, tiến sang Chân Lạp rồi từ đó kéo xuống Gia Ðịnh. Phối hợp cùng với Thủy Binh của Chiêu Tăng và Chiêu Sương, cả thẩy gần 7 vạn Thủy quân Xiêm đổ bộ lên Rạch Giá, Bộ binh Xiêm đánh xuống Châu Ðốc. Các đạo quân Xiêm kéo vào nước ta một cách rầm rộ.

Nhưng tất cả các đạo quân của Xiêm đã bị tiêu diệt trong vòng một ngày ở Rạch Gầm, Xoài Mút vào tháng Giêng năm Ất Tỵ (1785). Nguyễn Ánh một lần nữa lại trốn thoát chạy qua Xiêm xin tỵ nạn. Từ đây dân Nam được an cư lạc nghiệp.

Năm 1786, Nguyễn Huệ vào thành Thăng Long bắt Trịnh Khải. Nền thống trị của họ Trịnh bị lật đổ, đất nước thống nhất.

Chúa Trịnh Khải bị giết, quân Tây Sơn rút về Nam trao quyền bính về vua Lê. Tiếc rằng Chiêu Thống không nắm giữ được binh quyền, thiếu tự tin, mà triều thần không có người quyết đoán, thấy có giặc thì bỏ chạy. Bản thân Chiêu Thống muốn nắm giữ hoàn toàn chính quyền, bãi bỏ nhà Chúa, nhưng thiếu tài đức để làm việc lớn lại không có hấp lực gì mạnh để lôi cuốn được quần chúng.

Ðảng Trịnh lại nổi lên gồm một số quan võ. Một nhóm Tôn Phù Trịnh Lệ, nhóm khác tôn phù Trịnh Bồng, tranh giành nhau. Phe Trịnh Bồng thắng thế, kéo vào thành chiếm phủ Chúa cũ. Chiêu Thống không trị nổi phe Ðảng Trịnh, bất đắc dĩ phải phong Trịnh Bồng làm Án Ðô Vương. Trịnh Bồng được nhiều võ quan làm vây cánh đòi nắm giữ hết thẩy mọi quyền trị nước như các chúa Trịnh trước. Phe Võ Quan khinh thường vua có kẻ bàn truất phế Chiêu Thống lập vua Lê khác. Bị Trịnh Bồng hiếp chế quá độ, Chiêu Thống lại hạ chiếu vời Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp.

Chỉnh trừ được họ Trịnh, Lê Chiêu Thống phong Hữu Chỉnh chức Ðại Tư Ðồ, bằng Quận Công. Hữu Chỉnh từ đó chuyên quyền ở Bắc Hà, Chỉnh đóng ở phủ Chúa, cậy công khinh người, tự ý giải quyết mọi việc, không cần đến Vua, Chiêu Thống lại lầm to! Muốn trừ khử bỏ Chỉnh đi nhưng không còn biết trông cậy vào ai.

Trong khi đó Bắc Bình Vương ở Phú Xuân thấy Hữu Chỉnh lừng lẫy ở đất Bắc, lại mưu lấy lại Nghệ An thì không thể tha thứ, liền sai Vũ Văn Nhậm ra đánh Bắc Hà tháng 11 âm lịch 1787, Ngô Văn Sở và Phạm Văn Lâm đem quân ra Nghệ An phối hợp Vũ Văn Nhậm, quân Tây Sơn ra đến Thanh Hóa, bộ hạ của Hữu Chỉnh là tướng Lê Duật bỏ chạy bị giết, Nguyễn Như Thái và Ninh Tốn vào chống giữ. Sau một trận kịch chiến ở núi Tam Ðiệp giáp giới Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái bị bắn chết, Tôn chạy thoát  thân. Hữu Chỉnh và con là Hữu Du mang đại quân ra chống cự, bị Vũ Văn Nhậm phá tan ở sông Thanh Quyết huyện Gia Viễn và ở Châu Cầu Phủ Lý Nhân. Cha con Chỉnh thu tàn quân chạy về Thăng Long, quân lính trốn gần hết. Chỉnh vượt sông Cầu đến vùng núi huyện Việt Yên thì Du bị bắt chém. Chỉnh chạy ngược hướng Bắc rồi bị bắt đóng cũi đưa về Thăng Long.

Khi quân Tây Sơn vào Thăng Long. Chiêu Thống chạy sang Kinh Bắc, tướng trấn thủ là Nguyễn Cảnh Thước đóng cửa thành không ra đón tiếp. Sau khi Hữu Chỉnh bị bắt rồi. Chiêu Thống không còn biết nương nhờ vào ai trong bước đường cùng chỉ còn trông chờ vào quân đội nhà Thanh. Tâu xin vua Thanh cử binh tướng sang đánh quân Tây Sơn.

Tháng 7 Lê Chiêu Thống cho người sang Tầu cầu nhà Thanh giúp khôi phục ngôi vua, sẵn máu mê xâm lược tưởng ngon ăn vua Tầu nhận lời ngay.

Tháng 10 năm ấy 29 vạn quân Tầu chia làm ba đạo do Tôn Sĩ Nghị làm thống Soái kéo sang xâm lược nước ta.

Kết quả là đạo quân xâm lược bị tiêu diệt hai mươi vạn, một con số phá kỷ lục trong các cuộc chiến tranh của nhân loại. Trận Ngọc Hồi Ðống Ða một lần nữa đã chứng tỏ thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ. Trước hết là nghệ thuật chuyển quân thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc, Nguyễn Huệ đã thiết lập một hệ thống tổ chức hành quân đạt hiệu quả tối đa chưa từng có trong lịch sử. Một kỳ tích ở thời ấy mà trong một thời gian ngắn hành quân đã vượt một chặng đường dài gần 1500 km với biết bao nhiêu chướng ngại của thiên nhiên, cực nhọc, gian khổ, cùng lúc lại còn huấn luyện bổ sung quân số. Song đã tới đích như ý định. Ðể giải quyết sự thống nhất giữa hai mặt khách quan và chủ quan, biết rõ tình hình giặc và việc nắm chắc địa hình chiến trận có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó là những điều kiện cho phép Nguyễn Huệ khai triển ngay tức khắc với 10 vạn quân vào một thế trận tấn công liên hoàn chớp nhoáng làm cho quân địch không kịp trở tay. Mười vạn quân, nhưng đã sẵn sàng đón nhận trận quyết chiến không cân sức sắp xảy ra, với con mắt của mình, Nguyễn Huệ thấy lực lượng quan trọng được tập trung dồn vào giống như một dòng thác đã tạo nên thế mạnh như sóng thần, nước lũ. Thế ấy càng nhân lên gấp bội, sức mạnh của 10 vạn quân có mặt cùng lúc ở Thăng Long, trong khi quân giặc vẫn không hay. Thì số phận của hơn hai mươi vạn quân Tầu dù đông hơn cũng đã được định đoạt cả rồi.

Ðiều này cho thấy rõ Nguyễn Huệ đã luôn luôn phát hiện ra những sai lầm của đối phương để rồi từ đó quyết tâm xử lý kịp thời, chính xác. Một đặc điểm nữa là luôn luôn vươn lên, dành quyền chủ động điều khiển thế trận theo cách biến hóa mưu lược của mình. Ông là một vị tướng rất linh hoạt và sáng tạo. Tài năng quân sự của Nguyễn Huệ được bộc lộ rõ là một nhà chỉ huy thiên tài và chính trị xuất sắc hiếm có trong lịch sử.

Mỗi người một vẻ! Nhà đại danh tướng thời Trần có thiên tài về binh pháp, có trí tuệ quảng bác, kinh bang tế thế luôn nghĩ đến an dân “an cư lạc nghiệp” làm lý tưởng. Một người vĩ đại, tự tin nhưng không kiêu ngạo. Có tinh thần thượng võ, nhưng thượng võ có đạo lý chứ không phải hiếu chiến lấy võ lực làm cứu cánh. Biết biến hóa tùy thời cho thích hợp với mọi tình huống xã hội, lại giỏi tâm lý quần chúng, coi lính như con, và trên hết là có một nhân sinh quan sâu rộng, thâm diệu, nhất quán để nhìn bao quát tất cả mọi khía cạnh xã hội, các vấn đề và nắm bắt được những mối liên hệ tương quan, mà những tư tưởng lớn “Thu đắc phụ tử chi binh”, “Khoan dân lực dĩ bi thâm căn cố đế chi kế” đều là những tư tưởng vượt giới hạn của tri thức về binh pháp để đi vào đạo tâm dẫn trong sách “Lịch Sử tư tưởng Việt Nam” của Nguyễn Ðăng Thục.

[1] “Sử nhà Trần” nhà xuất bản Hải Phòng 2003 của tác giả Trần Xuân Sinh.

 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

Quân Sử Việt Nam (TOP)