Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

Lợi dụng địa thế hiểm yếu và nước thủy triều lên xuống, Hưng Ðạo Vương cho quân lính và dân binh chặt những cây gỗ lớn cứng to trong những cánh rừng gần sông làm thành những hàng rào cọc nhọn được bọc sắt ở đầu đóng xuống lòng sông thành bãi cọc dầy ở khúc sông đã được chọn. Một mặt ông tập trung một lực lượng lớn mai phục ở hai bên bờ sông. Quân thủy của Ðại Việt với những thuyền nhẹ, cơ động, giấu trong những rạch nhỏ ăn thông ra sông, và được che kín bởi rừng cây (lậu) chịu nước mặn. Một bộ phận thiện chiến chủ lực được bố trí cách bên trên các hàng cọc một quãng được tính toán kỹ để có thể đánh vỗ mặt vào đoàn chiến thuyền có Ô Mã Nhi và các tướng, phía trên hàng cọc, Hưng Ðạo Vương lại bố trí một số đoàn quân nhỏ, và một bộ phận đội hải quân có nhiệm vụ khiêu chiến rồi bỏ chạy, nhử cho thuyền quân Nguyên qua bãi cọc, làm cho quân Nguyên thêm chủ quan. Một bộ phận khác bên dưới mai phục hai bên sông, làm nhiệm vụ khóa chặt đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi. Quân Thủy ở thượng lưu đánh xuống kết hợp với quân mai phục.

Bạch Ðằng Giang, điểm hẹn lịch sử - cũng trên con sông này, hơn ba thế kỷ trước Ngô Quyền phá quân Nam Hán. Chấm dứt đêm dài đen tối, bị đô hộ hơn một ngàn năm, tiền nhân ta vẫn còn đủ sức mạnh và trí tuệ chiến thắng kẻ thù khổng lồ phương Bắc năm Mậu Tuất (938). Hơn ba thế kỷ sau, năm 1288 vào những ngày quân của Ô Mã Nhi đã trên đường vào sông.

 Ðá Bạc- Ðó cũng là lúc Hưng Ðạo Vương đã chuẩn bị xong trận địa và quân mai phục sẵn sàng chờ quân Nguyên. Nhân lúc nước triều lên, Hưng Ðạo Vương cho một số thuyền tiến ra khiêu khích rồi bỏ chạy. Các chiến thuyền của Ô Mã Nhi lập tức đuổi theo tiến sát và vượt gần vào bãi cọc lúc nước thủy triều còn cao. Ðợi cho chiến thuyền cuối cùng của quân Nguyên lọt vào trận địa cọc vào lúc nước triều rút xuống. Lập tức một bộ phận của cánh quân mai phục hai bên sông và chiến thuyền, làm nhiệm vụ khóa đoàn thuyền của quân Nguyên lại.

Lúc bấy giờ vào khoảng giữa trưa ngày 9 tháng 4 nước thủy triều rút, Ô Mã Nhi ra lệnh cho đạo quân lao nhanh theo dòng nước triều, tưởng chừng sẽ thoát  được vòng nguy hiểm. Nhưng vào lúc đó, từ nhánh sông Giá, nhiều đoàn chiến thuyền lớn của quân Ðại Việt đột nhiên xuất hiện như từ trên trời thả xuống, thấy chiến thuyền đối phương tiến ra chặn đầu. Ô Mã Nhi vội ra lệnh cho những bộ phận đi đầu lao thật nhanh để mở đường rút chạy nhưng bị hàng rào cọc chận đứng. Trong khi quân địch đang rối loạn, hoảng hốt, thì từ trên thượng lưu hàng trăm chiếc mảng bốc lửa cao ngùn ngụt đang lao thẳng theo hướng rút chạy cũng là lúc những chiếc cọc bịt sắt nhọn đã nhô khỏi mặt nước thành một hàng rào chặn đứng làm cho hết chiếc thuyền nọ đến chiếc kia nối đuôi nhau trên đà xô vào hàng cọc, bị đâm vỡ chìm nghỉm, quay lại thì đường đã bị đóng. Thế quân Nguyên lúc bấy giờ như bị nhốt trong cái túi lửa khổng lồ đằng trước, đằng sau, trên dưới bị chận đánh. Bỏ thuyền chạy lên bờ thì bị phục binh và quân địa phương đón đánh.

Trận đánh diễn ra chớp nhoáng chỉ trong vòng nửa ngày từ lúc nước thủy triều lên, đến lúc nước triều xuống trong không gian thu hẹp là khu vực sông Giá, vùng hạ lưu sông Bạch Ðằng. Chiến thắng rực rỡ này kết thúc số phận tám vạn quân Nguyên. Các tướng Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ, Phàn Tiếp đều bị bắt.

Mặt trận trên bộ, quân Ðại Việt, theo lệnh của Hưng Ðạo Vương đặt quân mai phục các tuyến đường hiểm yếu trên trục lộ giao thông đi sang Tầu tại Bắc Giang và Lạng Sơn, sẵn sàng chờ giặc đến để tiêu diệt. Còn quân chủ lực lập tức được quay lại Vạn Kiếp, tiêu diệt đoàn quân chủ lực Thoát Hoan để giải phóng hoàn toàn đất nước.

Thoát Hoan ở Vạn Kiếp, nghe tin quân thủy đã bị tan vỡ, bèn vội vàng cùng các tướng Trình Băng Phi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Lý Quán cố đánh mở đường máu để tháo chạy về nước. Sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư chép: “Hưng Ðạo Vương trở lại Vạn Kiếp giao chiến với Thoát  Hoan và Lý Hằng, đánh bại được giặc, quân Nguyên chết rất nhiều. Lý Hằng đem quân hộ vệ Thoát  Hoan chạy về Tư Minh, quân ta lấy tên tẩm thuốc độc bắn trúng đầu gối bên trái của Hằng, Hằng chết, tùy tướng Lý Quán thu nhặt 5 vạn tàn quân còn lại, cho Thoát Hoan vào một đồ bằng đồng trốn về Bắc. Ðến Tư Minh Vương đuổi kịp dùng tên tẩm thuốc độc bắn trúng Lý Quán. Quán chết quân Nguyên tan rã (Dẫn sách Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư tập II Tr 89)

Sau trận kịch chiến giữa Thoát Hoan, với Hưng Ðạo Vương xẩy ra ở Vạn Kiếp, Thoát  Hoan thua bỏ chạy quân Nguyên hoàn toàn tan rã. Thủy binh bị tiêu diệt tám vạn. Bộ binh còn chết nhiều hơn. Như thế 50 vạn quân còn bao nhiêu tên trốn thoát trở về nước?

Chiến thắng Bạch Ðằng cũng nói lên trí tuệ siêu việt và khả năng lớn mạnh của dân tộc ta, có khả năng thắng những kẻ địch hùng cường nhất thế giới với những trận quy mô, không chỉ trên bộ mà cả thủy chiến.

Chiến thắng Bạch Ðằng còn là sự kết hợp nhịp nhàng của cả quân và dân đã ngày đêm tận tụy chặt gỗ, kéo gỗ, bọc đầu sắt đóng dưới lòng sông.

Sử sách ghi công ơn vua Trần Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn… nhưng cũng không quên ghi công  “một bà già bán nước vối, quà bánh ở bến đò Rừng. Do nghề nghiệp quanh năm sống bên sông, đã chỉ bảo cặn kẽ mực nước và ngày giờ lên xuống của thủy triều sông Bạch Ðằng để quân ta tổ chức trận đánh đúng thời điểm[1]:  

Chiến thắng Bạch Ðằng cũng làm nổi bật tài năng cầm quân của Hưng Ðạo Vương, Ông là người trong Hoàng Tộc nhà Trần được giáo dục học vấn nhiều lĩnh vực. Khi tham gia quân đội, ông tỏ ra là một chiến binh dũng cảm và gương mẫu trong trận chiến với quân Nguyên lần thứ nhất (năm 1258) là một tướng trẻ ông đã tỏ ra là một thiên tài quân sự. Trong cuộc chiến vệ quốc lần thứ hai (năm1285) Vua Nhân Tông phong cho Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn Quốc công tiết chế thống lĩnh toàn bộ quân đội kháng chiến chống quân Mông Cổ. Thâu tóm trong tay mọi quyền lực quân sự, mà không trở thành độc tài. Điều đặc biệt hiếm thấy trong lịch sử là sự hội hợp giữa tài năng chinh chiến với trí tuệ, học giả uyên bác trong một con người như Hưng Đạo Vương. Truyền thống gia tộc là một nhân tố quan trọng nữa, tạo nên nhân cách tài năng.

Hưng Ðạo Vương là vị đại nguyên soái mà binh pháp vào bậc thầy. Ông đã có những đóng góp rất lớn vào việc phát triển nền nghệ thuật quân sự. Hưng Ðạo Vương còn là tác giả của sách Binh Thư quý giá mà trong lịch sử phương Ðông có lẽ chỉ có hai tác phẩm binh thư, cuốn thứ nhất là sách “Tôn Tử Binh Pháp”, một cuốn cổ nhất của Trung Hoa, tác giả là Tôn Vũ, người nước Tề, làm tướng nước Ngô thời Xuân Thu (770-476 Tr C.N.)

Nói về tư tưởng binh thư của Hưng Ðạo Vương thì hai tác phẩm của Ngài là “Binh Thư Yếu Lược” và “Vạn Kiếp Tông Bí Truyền Thư” cuốn này đã thất lạc. Chỉ còn lưu lại sách Binh Thư Yếu Lược, theo Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư thì sách này cũng tam sao thất bản, không biết bộ mặt thật của nguyên tác ra sao nữa. Nhưng ngày nay chúng ta chỉ có thể tìm hiểu cái tinh thần Binh Pháp của Ngài một phần trong các cuộc kháng chiến vệ quốc với nhà Nguyên. Hưng Ðạo Vương thường tính đến mọi yếu tố tổng hợp của một cuộc chiến như hình thức chính trị, kinh tế, xã hội và dân sự. Ông có tầm nhìn xa và thận trọng trong việc giải quyết các nhiệm vụ chiến lược.

Thời đại văn minh khoa học ngày nay, chúng ta có đủ mọi phương tiện để truy cập dễ dàng các tài liệu lịch sử: Ðông, Tây, Kim, Cổ trên mạng Internet, hoặc xem Bách khoa Toàn thư của Pháp, Anh, Hoa Kỳ v.v… Ðể so sánh, đối chiếu những trận đánh lừng danh trong lịch chiến tranh nhân loại với trận Bạch Ðằng giang (9/4/1288) Trận Chi Lăng Xưởng Giang (18/10-3/11/1427), và trận Ngọc Hồi Ðống Ða (25/1/1789). Thì ta mới thấy rõ các trận đánh lớn trong lịch sử chiến tranh thế giới từ tối cổ đến cận kim, không có trận nào ngang ngửa tầm cỡ với ba trận đã xẩy ra trên đất nước ta, mà sách sử đều ghi chép rõ ràng như trận Bối Thủy Hàn Tín phá Triệu (năm 204 Tr C.N.) lực lượng tham chiến, quân Hán 50.000 người, quân Triệu 100.000. Kết quả Hán tiêu diệt phần lớn quân Triệu. Trận Xích Bích năm 208 là trận nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa cổ gồm một số trận đánh quyết định thế (chia ba thiên hạ) tạo thành thời đại Tam Quốc với ba nước Ngụy, Thục, Ngô. Theo chính sử của Trung Quốc về thời ấy của sử gia Trần Thọ thế kỷ thứ III, tuy khẳng định Xích Bích là một trận đánh lớn, nhưng chỉ ghi chép như sau: “Tôn Quyền chấp nhận lời thỉnh cầu của Gia Cát Lượng, mưu sĩ của Lưu Bị, phái hai tướng là Chu Du và Trình Dục đưa ba vạn quân giúp Lưu Bị tổ chức chống Tào. Liên Quân Tôn Lưu tổ chức trận đánh ở Xích Bích, dùng hỏa công diệt hàng vạn quân Tào”.  Sau này, các tiểu thuyết gia Trung Hoa miêu tả rất phong phú trong Tam Quốc Chí diễn nghĩa, họ phóng đại con số chứ không theo chính sử của Trung Hoa.

Ta lại qua một phương trời khác: Trận Marathon (490 trước Công Nguyên), tại vùng đồng bằng Marathon thuộc địa giới Hy Lạp cổ đại đã diễn ra trận đánh nổi tiếng giữa quân Athènes với quân Ba Tư trong đó thắng lợi thuộc về người Athènes. Ðây là trận đánh điển hình có ý nghĩa trọng yếu trong cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân Athènes thời cổ đại. Quân Ba Tư thua, chạy ra biển. Kết thúc thắng lợi, quân Athènes thu 7 chiến thuyền, quân Ba Tư tử vong 6.400 chiến binh trong khi quân Athènes chỉ chết 200 người.

Trận Can (Cannes?) (Năm 216 Tr. C.N.)

Trận Can xẩy ra giữa quân Carthage với quân La Mã. Trên đường tấn công xuống miền Nam Italia (Ý). Quân đội Carthage dưới quyền thống lĩnh của danh tướng Hannibal đã đánh bại quân đội La Mã cổ đại trong mấy trận liền ở Bắc Italia bằng nghệ thuật phối hợp tác chiến giữa bộ binh đột phá ở chính diện với kỵ binh hai bên sườn đánh kẹp lại và vu hồi sau lưng đối phương. Kết thúc trận đánh vào ngày 2-8-216 Tr. C.N. quân Carthage đã chiến thắng, quân La Mã bị giết 48.000 người, còn quân Carthage thì chỉ có 6 ngàn người bị tử vong.

Trận Lépante (năm 1571).

Ðây là trận thủy chiến lớn giữa quân Thổ Nhĩ Kỳ và quân Hy Lạp. Xẩy ra tháng 2 trên cả một đảo eo biển dài trên 8 hải lý, cuối cùng quân Thổ đại bại chết hơn hai vạn người, trong đó có cả thủy sư Ðô Ðốc tài danh của Thổ là Pacha Ali cũng bị hy sinh.

Trận Pôltava (năm 1709).

Xẩy ra giữa quân Thụy Ðiển và Quân Nga, vào một ngày đầu mùa Thu 1709 tại vùng rừng núi phía Bắc thị trấn Poltava. Khi tiếng súng và tiếng kèn xung trận đã im hẳn, rải rác đó đây khối lửa cuộc chiến vẫn mù mịt. Nga đã đánh bại cuộc xâm lược của Thụy Ðiển. Quân Thụy Ðiển tử vong 11.500 người, quân Nga chỉ có 1.340 người. Ðây là thời kỳ huy hoàng của nước Nga cổ kính dưới sự lãnh đạo của Ðại Ðế Piốtr.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)