Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

CHƯƠNG III: Bàn về một vài nét của trận Ðại Hoàng và trận Ðại Thủy Chiến Bạch Ðằng

...

Lực lượng tham chiến:

- Quân Ðại Việt: Toàn bộ thủy quân với sự phối hợp của một số đơn vị bộ binh chủ lực và dân binh địa phương.

-  Quân Nguyên 80.000 thủy quân với 400 chiến thuyền.

Bước vào cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba. Do những cuộc tấn công liên tục và mạnh mẽ của quân dân Ðại Việt ở khắp lãnh thổ, sau bốn tháng, quân Nguyên nằm trong thế bị bao vây uy hiếp bốn bề, tuyệt vọng đường lương thực, nên phải tính đến chuyện rút quân về nước. Ðã quyết định rút lui, nhưng rút lui bằng cách nào? Theo An Nam Chí Lược 4 tờ 56 thì thần nỏ Tổng quản Giã Nhược Ngu dâng lời nói rằng: “Quân có thể về, không có thể giữ”. Và chính bản thân chủ Soái Thoát  Hoan cũng bảo: “Ðất nóng ẩm thấp, lương thiếu, quân mệt, không thể ở lâu”. Sau đó đã có những cuộc bàn thảo giữa các tướng Mông Cổ. Cuối cùng chúng đã đi đến quyết định rút quân về nước theo hai hướng đường thủy và đường bộ.

Nắm được ý đồ của giặc, vua Nhân Tông và Hưng Ðạo Vương đã quyết định sẽ đánh một trận tiêu diệt đạo quân thủy chiến lớn của Ô Mã Nhi trên sông Bạch Ðằng trước, diệt quân bộ sau. Nắm vững lộ trình đường thủy của quân Ô Mã Nhi, Hưng Ðạo Vương vạch ra kế hoạch tiêu diệt toàn bộ thủy quân của giặc ở sông Bạch Ðằng. Lúc bấy giờ cửa sông Bạch Ðằng còn nằm sâu phía trong nội địa nhiều hơn hiện nay. Tại các đoạn sông núi đá Tràng Kênh và rừng rậm bên tả ngạn sông Hồng. Ðó là nơi hiểm yếu, sông rộng hơn cả cây số và cả vùng Ðông Bắc đổ ra Vịnh Hạ Long, vùng cửa sông vừa rộng lại vừa thấp nên chịu ảnh hưởng của thủy triều rất lớn, mực nước chênh lệch giữa hai con nước có khi đạt đến gần 4 mét. Nhưng khi thủy triều lên gặp gió chướng, sóng bạc đầu nổi trắng xóa dâng nước lên cao cả vùng mênh mông, nên sông mới có tên là “Bạch Ðằng” là vì thế. Còn bờ biển phía Nam sông Bạch Ðằng là dãy núi đá vôi Tràng Kênh cao ngất với nhiều hang động, khe núi, các thung lũng kín đáo tiện cho việc dấu quân. Quân Nguyên muốn rút về nước bằng đường thủy buộc phải đi qua cửa sông Bạch Ðằng hoặc muốn vào nước ta bằng đường biển cũng phải qua cửa sông này. (Chính đoàn thuyền vận chuyển lương thực của tướng Trương văn Hổ, bị Khánh Dư đánh úp bắt gọn ở đoạn sông hiểm yếu này. Theo sử chép Nhân Huệ Vương là một danh tướng thời Trần đã có nhiều chiến công lớn, nhưng vì thông dâm với công chúa Thiên Thụy, vua xuống chiếu đoạt hết chức, tịch thu hết tài sản, tướng phải lui về Chí Linh làm nghề bán than, chở củi. Sau quân Nguyên sang xâm lăng lần thứ hai ông được phục chức. Vì là sống trên sông nên ông rất thông thạo những địa thế.)

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)