Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Thăng Long Xưa Hà Nội Nay

ngàn năm thăng long, lịch sử việt nam

Trẩn Nhu

Nguồn: quanvan.net

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42

VÀI NÉT VỀ THÀNH CÁT TƯ HÃN

...

Quan bố chánh Eliacin Luro, như dân địa phương vẫn tiếp tục gọi bằng phẩm ngạch của triều đình Huế, trong thực tế giữ chức administrateur civil của các trấn An Giang rồi Vĩnh Long, đưa ra nhận xét: "Xã tắc An Nam do chiến thắng các cuộc xâm lược, không chịu ảnh hưởng của những thay đổi cơ cấu về sau của triều Mãn Thanh, nên đã giữ nguyên hình thái tổ chức cổ xưa đã hoàn toàn biến mất tại Trung Hoa" [6] . Nhận định của Luro đúng trên các mặt khoa cử, thuế khoá, thương mãi và binh bị, không thật đúng về sự khác biệt thể chế chính trị giữa Mãn Thanh và triều Nguyễn. Tuy nhiên, Luro đã sớm nhận ra chính tính cách quá cũ kĩ của mô thức triều chính và hành chính nhà Nguyễn, xây dựng trên khuôn mẫu nhà Lê mà những cải cách cuối cùng có từ thời Hồ Quý Ly, đã không cho phép Đại Nam phát triển tỷ lệ thuận với tiềm lực của 25 triệu dân sinh sống trên bán đảo Trung - Ấn.

Trước khi theo Renouvin sang Trung Hoa tìm hiểu nguyên nhân thất bại của Mãn Thanh trong công cuộc canh tân đế quốc, chúng ta có thể lượng giá phần nào những thẩm định của các quan toàn quyền về phẩm chất Việt.

Hầu hết quá chú tâm vào khả năng chiến đấu của dân tộc mà không nhìn thấy khác biệt căn bản giữa dân Việt với các sắc dân lân bang. Nếu người Hoa coi trọng kinh tế, xem trao đổi thương mãi đồng nghĩa sống còn, đối với dân Việt chính đất đai mới mang ý nghĩa sống còn. Bán đất đã luôn được xem là một thất thế. Khi Lanessan đánh giá dân An Nam "nhút nhát như bầy trâu của họ", hoặc Doumer nghĩ Việt và Nhật liên hệ huyết thống, do vậy tương đồng trong phẩm hạnh và cách ứng xử, cả hai nhận định đều quá vội vã. Việt không nhút nhát, nhưng chọn tình thế để biểu cảm thái độ. Khác hẳn Nhật Bản xem thường cái chết, Việt coi trọng cái chết. Nếu tinh thần võ sĩ đạo đề cao danh dự trên hết, trong mọi tình huống, ngay cả những xúc phạm nhỏ nhặt nhất vẫn có thể dẫn đến cái chết để rửa nhục; Việt cụ thể hoá danh dự qua đất đai, mà chỉ trong trường hợp này, cái chết mới được xem xứng đáng. Không "khinh bỉ cái chết" như Lanessan lầm lẫn, mà đồng hoá danh dự với đất đai, là khác biệt lớn giữa Việt Nam và Nhật Bản. Một thành tố khác mà các tổng trú sứ hoặc toàn quyền ít nhận ra: Không phải đức Phật Thích Ca mà chính tục thờ cúng tổ tiên, gia tộc đã chết, đặc biệt các tướng lĩnh và những kẻ chết trận, mới thật sự là quốc giáo làm nên sức mạnh của dân tộc này. Từ thiên tử xuống đến quan rồi thứ dân, không có biệt lệ. Đền thờ Sầm Nghi Đống, thờ kẻ cựu thù, vẫn khói nhang là một bằng chứng khuyến khích gương anh dũng và tiết tháo hy sinh trong chiến đấu. Sắc lệnh cấm đạo của hoàng đế Tự Đức, ban hành vào tháng 4 năm 1848, mở đầu bằng lời phán xét nghiệt ngã: "Đạo Gia-Tô bị các tiên đế Minh Mệnh và Thiệu Trị phế chỉ, hiển nhiên là một tôn giáo sa đoạ, vì đạo ấy không cúng thờ tổ tiên khuất mặt" [7] . Nhắc đến tổ tiên là nhắc đến công lao giữ đất, mở mang bờ cõi. Đạo dụ của Tự Đức nói lên tầm quan trọng của một quốc giáo sùng bái công lao này.

Một tổng trú sứ khác, Paul Bihourd ghi nhận các sắc tộc thiểu số bị kỳ thị. Không hẳn. Không phải dân Việt gay gắt vấn đề dị chủng, mà vì thang điểm giá trị của dân tộc xây dựng trên thước đo khả năng chinh chiến và kháng cự. Chấp nhận điều kiện của đối phương để chung sống hoà bình thường bị xem là hèn. Đây là lý do vì sao dân Việt xem trọng đất đai. Vì đã đổ quá nhiều máu để gìn giữ, rồi mở rộng. Vì không hèn, nên không nhượng đất. Vì không hèn, nên sẵn sàng tiếp chiến khi bị khiêu chiến. Đất đai đã trở thành danh dự, vì là chứng nhân và kết quả của lòng can đảm.

Thước đo giá trị trên cùng lúc giải thích vì sao dân Việt ít theo đạo Bà-La-Môn của Phù Nam, Shiva của Lâm Ấp, Hồi giáo của Chàm hay Ấn Độ giáo của Khmer, tuy Việt cũng theo Phật giáo như một bộ phận Khmer, nhưng là Phật giáo đến từ Trung Hoa chứ không từ Thuỷ Chân Lạp. Bản sắc Việt không cho phép yếu đuối, không chấp nhận đớn hèn. Chính bản sắc này đã khiến quân đoàn viễn chinh Đông Dương khó khăn bình định Đại Nam, trong lúc Cao Mên và Ai Lao quy hàng tức khắc. Nhưng kể từ thế kỷ 19, bản sắc chiến đấu không đủ để canh tân đất nước. Trong quan niệm nhân hoà của châu Á, hai yếu tố minh quânthuận lòng dân mới thực sự quan trọng.

[1]Paul Doumer, L’Indochine française, Souvenirs, nxb Librairie Vuibert, 1905, tái bản 1930

[2]Marie Antoine Jean Louis de Lanessan, L’Indo-Chine Française, Etude politique, économique, et administrative sur la Cochinchine, le Cambodge, l’Annam et le Tonkin, nxb Ancienne Librairie Germer Baillière et Cie, 1889

[3]Nguyên văn ghi trong bản Pháp văn: "Nhon-Dao, Thanh-Dao, Tien-Dao, Phat-Dao, Kdnong-Thai-Coug"

[4]Paul Bihourd, Carnets de voyage, Imprimerie nationale, 1887

[5]Đại tá Bertrand, "Nhật ký hành quân của tiểu đoàn 3 trung đoàn 1 Tán Binh Marốc" (1er Régiment de Tirailleurs Marocains), Revue Militaire, Jacques Favreau & Nicolas Dufour trích dẫn trong nghiên cứu Nà Sản la victoire oubliée 1952-1953, Base aéroterrestre au Tonkin, nxb Economica, 1999

[6]Eliacin Luro, Le Pays d’Annam, Etude sur l’organisation politique et sociale des Annamites, nxb Leroux,1878

[7]Philippe Devillers, Français et Annamites, Partenaires ou Ennemis? 1856-1902, nxb Editions Denoel, 1998

Trích dẫn trong bài "Suy nghĩ Mãn Thanh" của tác giả Trần Vũ

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42Quân Sử Việt Nam (TOP)