Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Quân Sự Việt Nam Nhà Trần  - Trang Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

Trận Bạch-Đằng Giang

1, 2, 3

Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo, Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc hiệu đính

Tháng 12 năm 1257, quân Mông-cổ xua quân xâm lấn nước ta lần thứ nhất. Thái tổ nhà Trần vua Trần Thái Tông thống lãnh quân lực Ðại Việt đánh bại quân thù ở Ðông-bộ-đầu.

Quân Mông-cổ quyết chí phục thù, nên sau khi họ tiêu diệt nhà Tống vào năm 1279 (quân Tống bị đánh úp ở Nhai Sơn phía Nam huyện Tân Hội tỉnh Quảng Ðông Trung Quốc), kết thúc bằng sự kiện tả thừa tướng Lục Tú Phu cõng vua Tống nhảy xuống biển chết vào mùa Xuân cùng hằng vạn quân dân nhà Tống khác (cũng là năm vua Nhân Tông lên ngôi), Hốt Tất Liệt, Nguyên Thái Tổ đã chuẩn bị binh sĩ cũng như cho đóng thêm chiến thuyền để xâm lăng nước ta lần thứ hai.

Ðể tránh bị thất bại như lần trước vào năm 1258, khi bị Thái tổ Trần Thái Tông đánh bại, quân Nguyên dự trù mở ba mặt trận làm thế gọng kềm hầu đè bẹp nước Ðại Việt. Chúng dự định đem quân đánh chiếm Chiêm Thành làm mũi tấn công từ phía Nam, đồng thời phối hợp với hai hướng tiến quân từ phía Ðông Bắc và Tây Bắc, từ dưới đánh lên và phía trên cho quân tràn xuống với khí thế vô cùng hung liệt.

Thái tổ nhà Trần vua Thái Tông băng hà năm Bảo Phù thứ 5, 1277, thọ 6o tuổi, trị vì 33 năm. Nghe tin Thái tổ nhà Trần viên tịch (lúc đó vua Thái Tông cũng đã xuất gia), nhà Nguyên muốn lợi dụng nước ta đang có tang muốn đem quân sang xâm chiếm nước ta.

Trước khi tiếp theo sự kiện quân Mông-cổ xua quân xâm lăng nước ta lần thứ hai, giờ đây chúng ta hãy duyệt xem nhà Trần đã tổ chức quân đội ra sao để chống trả cũng như xem qua binh đội của quân Mông-cổ như thế nào.

* Sự phối trí của quân lực và tổ chức hành chánh Ðại Việt:

Ðời vua Trần thái Tông, Nhâm Dần, năm thứ 11 (1242 nhằm đời Tống, năm Thuần Hựu thứ 2), mùa xuân tháng 2, nước ta được chia làm 12 lộ (một hình thức tỉnh ngày nay). Về trai tráng, 18 tuổi là tiểu hoàng nam, 20 tuổi là đại hoàng nam.

Về tổ chức hành chánh đời nhà Trần như sau:

Các địa phương tổ chức chính quyền ba cấp: phủ lộ, huyện châu, hương xã. Nhà Trần đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ sau đây:

- Thiên Trường (Nam Hà); Long Hưng (Thái Bình); Quốc Oai (Hà Tây); Bắc Giang (Bắc Ninh, Bắc Giang); Hải Đông (Quảng Ninh và một phần Hải Dương); Trường Yên (Ninh Bình); Kiến Xương (Đông Thái Bình); Hồng (phần Hải Dương); Khoái (phần Hưng Yên); Thanh Hóa (Thanh Hóa); Hoàng Giang (phần đất Hà Nam); Diễn Châu (Bắc Nghệ An).

Vào thế kỷ XIV còn đặt các phủ:

- Lâm Bình (Quảng Bình và Quảng Trị); Thái Nguyên (Bắc Cạn, Thái Nguyên, Cao Bằng); Lạng Giang (Bắc Giang, Lạng Sơn).

Tháng 2 mùa xuân Bính-ngọ, thứ 15 (1246, Tống năm Thuần Hựu thứ 6), nước ta tổ chức quân đội chia làm thượng, trung, hạ. Tuyển mộ những người khỏe mạnh vào quân Tứ Thiên, Tứ Thánh, Tứ Thần. Lộ Thiên Trường và lộ Long Hưng, hiệu quân là Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần; Hồng Lộ và Khoái Lộ, hiệu quân là Tả Thánh Dực và Hữu Thánh Dực; lộ Trường An và lộ Kiến Xương, hiệu quân là Thánh Dực và Thần Sách. Ngoài ra các loại quân khác được sung vào quân cấm vệ; còn hạng sau cùng là đội chèo thuyền. Theo Lịch Triều Hiến Chương của Phan Huy Chú chép rằng mỗi đội quân có 2400 người, quân cấm vệ cũng như ở các lộ khác không đầy mười vạn người.

Tuy nhiên vào niên hiệu Thiệu bảo đời vua Trần Nhân Tông (1279-1289) lúc quân Nguyên sang xâm chiếm, quân lực nhà Trần đã quy tụ đến hai mươi vạn người. Cũng do các vương tôn quốc thích nhà Trần được tuyển mộ riêng binh lính của mình để phòng khi có biến. Cấm-quân từ đời Trần đã được đặt ra, sau này càng tăng thêm, số lượng bao nhiêu các quyển sử cũ không có ghi ra.

Tháng 2 năm Tân-sửu (1274) chọn những người có võ nghệ, bổ vào làm Thượng-đô-túc-vệ.

Ðời vua Trần Thánh Tông, Tân-dậu năm thứ 4 (1261, Tống năm Cảnh Ðịnh thứ 2; Mông-cổ năm Trung Thống thứ 2), vào mùa xuân tháng 2, tuyển mộ các dân đinh khỏe mạnh sung vào quân ngũ, còn những người khác vào làm ở các sảnh, viện, cục (một hình thức công chức), và sung vào đợi tuyển phong ở lộ, phủ, huyện. Nhâm-tuất, năm thứ 5 (1262, Tống năm Cảnh-định thứ 3; Mông-cổ Trung-thống thứ 3), tháng 3 vua Trần Thánh Tông hạ chiếu cho quân đội tập trận ở bãi Phù Sa sông Bạch Hạc (địa phận huyện Bạch Hạc, tỉnh Sơn Tây. Sông này phía trên giáp với sông Thao, sông Ðà, phía dưới nối liền với sông Phú Thương), cuộc diễn tập này bao gồm cả thủy và lục quân.

Tháng 8 năm Ðinh mão (1267 Tống năm Hàm Thuấn thứ 3; Mông-cổ năm Chí Nguyên thứ 4), định đội ngũ trong quân đội. Mỗi quân chia ra 30 đô (nghĩa là một khu vực lớn hơn ấp, ở đây là một đơn vị quân đội, gần bằng một đại đội), mỗi đô 80 người, chọn những người trong hoàng gia rành võ nghệ và binh pháp ra cai quản.

Ngoài ra còn có quân Tứ-xương là những binh sĩ phải thay phiên nhau canh giữ bốn cửa thành. Tuy nhiên, quân Tứ-xương không thiện nghệ bằng quân cấm-vệ. Trong cuộc chiến vệ quốc lần thứ nhất chống quân Mông-cổ (Ðinh tỵ 1257), nhà Trần còn có quân Tính-cương vì vậy Thái tổ nhà Trần vua Thái Tông mới hỏi thái-úy Trần Nhật Hiệu rằng quân Tính-cương ở đâu?

An Nam Chí Lược của Lê Tắc trong quyển 14 phần Binh chế ghi rằng quân lính không có sổ bộ nhất định, tuyển chọn những người có sức khỏe sung vào quân đội, năm người làm một ngũ (Gồm chữ Nhân đứng bên cạnh chữ Ngũ. Nghĩa là dàn thành hàng ngang năm người gọi là ngũ, ý khác là một đội lính. Ðó là lý do chữ Ngũ này có chữ Nhân đứng đi cùng và có 6 nét khác với chữ Ngũ là số 5 đứng một mình chỉ có 4 nét), mười ngũ làm một đô (đô tương đương với một trung đội). Trong đây lựa hai người có khả năng ra để huấn luyện và chỉ huy quân lính. Ðể tiết kiệm ngân khố quốc gia, khi nước có biến những người này là lính, lúc thanh bình thì họ được cho về quê làm ruộng. Cho nên quan niệm động vi quân tĩnh vi dân bắt đầu từ thời này vậy. Tổng quát có 3 loại binh chủng khác nhau gồm:

1/ Thân quân có Thánh-dực-đô, Thần-dực-đô, Long-dực-đô, Hổ-dực-đô, Phụng-vệ quan-chức đô (có nhiệm vụ tuần tra và bắt tội phạm. Các đô trên đều có tả hữu đô).

2/ Du quân có Thiết-lâm-đô, Thiết-hạm-đô, Hùng-hổ-đô, Vũ–an-đô.

3/ Gia-nhân của các Vương-hầu gồm Toàn-hầu-đô, Dước-đồng-đô, Sơn-liệu-đô v.v…Cấp tướng cai quản quân các đô phải là người trong hoàng tộc phải thông thạo võ nghệ và binh pháp.

Về Bộ binh, bấy giờ quân Ðại Việt có Cấm-quân và quân ở các lộ khác như trên vừa trình bày, ngoài ra còn có chu-sư (tức hải quân) gồm các đoàn đội trạo-nhi là những người chèo thuyền đánh trận; các thuyền này có tên là «Kim-phượng», «Nhật-quang» và «Nguyệt-quang» mà tháng 10 năm Tân-sửu (1247), chính vua Trần thái Tông đi tuần-lược nơi biên giới bằng các thuyền trên vào tận các trại Vĩnh-an và Vĩnh-bình thuộc nước Tống. Về quân phục lúc bấy giờ ra sao, các sách sử không đề cập tới, riêng đạo quân của Trần khánh Dư ở Vân-Đồn có đội nón ma-lôi (thứ nón đan bằng nan dương tức thanh bi trúc do làng Ma-lôi ở Hồng-lộ nay là Hải dương chế tạo, nên gọi theo tên của làng ấy. Vì lâu ngày, tên riêng của nón trở thành tên chung, do đó chữ ma-lôi không viết hoa).

Đứng đầu bộ chỉ huy quân sự là một vị tiết-chế. Tiết chế được chỉ huy các quân binh chủng hải và lục quân trong nước, ngày nay tương đương là Tổng tham mưu trưởng, tuy nhiên vẫn phải dưới quyền điều động của hoàng đế đương kim (tương đương với Tổng tư lịnh tối cao quân đội). Danh xưng các vị tướng quân là phiêu-kỵ tướng-quân, là chức riêng phong cho các hoàng tử. Còn trấn quốc tướng-quân, phó tướng-quân, cấm vệ tướng quân, chư vệ tướng quân…đều coi giữ việc binh. Kỷ luật của quân đội rất nghiêm minh, kẻ nào đào ngũ, bị quan bắt được thì chặt ngón chân;  nếu tái phạm thì phải bị voi đạp.

1, 2, 3

Quân Sử Việt Nam (TOP)