Lịch Sử Quân Sử Việt Nam

Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Quân Sự Việt Nam Nhà Lý 

Quân Sự Việt Nam Đánh Tống

Dưới thời vua Lý Nhân Tông, để cảnh cáo nhà Tống trong mưu đồ xâm lược nước ta, triều đình đã chấp thuận đề nghị của danh tướng Lý Thường Kiệt trong việc phạt Tống. Lý do đưa ra là đòi nhà Tống phải trả lại Nùng Thiện Mỹ và 700 thuộc hạ làm loạn trong xứ ta và đào tỵ sang Tàu. Ông tâu rằng: «Ngồi im đợi giặc, không bằng đem quân ra trước để chận thế mạnh của giặc». Đây là sách lược chiến tranh phòng ngự, nghĩa là đánh phòng hờ. Lực lượng quân sự trong công cuộc Bắc phạt của Lý Thường Kiệt bao gồm từ sáu đến mười vạn người được chia ra hai đạo thủy lục. Hướng tiến quân nhằm đánh vào các cứ điểm quân sự của nhà Tống ở các đồn biên giới, các cửa biển như Khâm Châu, Liêm Châu và mục tiêu chính là thành Ung Châu.

Ngày 27/10/1075 ngày quân đội Đại Việt lên đường Bắc tiến. Quân ta tiến như chẻ tre, lần lượt nhổ đi các đồn canh biên giới của giặc, ngày 30/12/1075 chiếm được thành Khâm Châu, bắt sống toàn bộ quan quân mà không phải giao tranh một trận nào; ngày 2/1/1076 hạ thành Liêm Châu bắt sống 8000 thổ binh; 42 ngày sau ta hạ được thành Ung Châu, đây là cuộc chiến được ghi nhận là khó khăn và khốc liệt. Sau chiến thắng thần tốc, ý thức rằng mục đích đã đạt được là làm giao động tinh thần giới lãnh đạo nhà Tống cũng như xáo trộn mưu đồ xâm lăng nước ta, Lý Thường Kiệt đã ra lịnh cho toàn thể đạo quân Bắc phạt nhanh chóng rút về nước chuẩn bị đánh trả đòn phục thù của giặc.

Tác giả Hoàng Xuân Hãn ghi lại cách bố phòng của quân ta như sau trong sách Lý Thường Kiệt «Xét qua địa thế, ta hiểu rằng Lý Thường Kiệt đem chủ lực chận con đường từ trại Vĩnh Bình đến sông Nam Định (sông Cầu), bằng cách đặt những doanh đồn và phục binh ở hai ải tiếp nhau: ải Quyết Lý ở phía Bắc Châu Quang Lang và ải Giáp Khẩu (Chi Lăng) ở phía Nam châu ấy. Nếu hai phòng tuyến bị tan thì phải cố thủ ở phòng tuyến thứ ba, tức nam ngạn sông Nam Định.

Muốn cản quân Tống qua sông, Lý Thường Kiệt sai đắp đê Nam Ngạc cao như bức thành. Trên thành, đóng tre làm giậu, dày đến mấy từng. Thành đất lũy tre, nối với dãy núi Tam Đảo, đã đổi thế sông Nam Định và bờ nam ngạn ra một dãy thành hào, che chở cả vùng trung nguyên nước Việt. Thành hào ấy dài gần trăm cây số, hẳn khó qua và dễ phòng thủ hơn là thành hào một đồn lẻ như thành Thăng Long».

Trúc Lâm Lê An Bình biên khảo, Trúc Lâm Nguyễn Viêt Phúc Lộc hiệu đính

 

 

Quân Sử Việt Nam (TOP)