Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Phong Thủy Thăng Long 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Thiên Đức

...


III/- Hậu thế học được gì từ những sự kiện lịch sử của thời nhà Lý:

Để trả lời chính xác vấn đề này không gì tốt hơn, là làm một cuộc so sánh những sự kiện đã xảy ra trong hai thời đại nhà Lý và chế độ csvn, tất yếu sẽ có lời đáp thỏa đáng.

A/- Thời đại nhà Lý:

Khởi đầu từ cuối năm 1009 đến năm 1225, tồn tại được 215 năm trải qua 9 đời vua, đã lập nên những trang sử oai hùng vẻ vang cho đất nước nhờ vào các yếu tố:

Thịnh Thiên thời:

Triều đại nhà Lý được thành lập do một tình cờ may mắn của lịch sử xảy ra vào tháng 10 năm 1009, vua Lê Ngọa Triều băng hà, không còn con cháu nhà Lê nào xứng đáng để kế vị, ông Lý Công Uẩn được triều thần tôn vinh lên ngai vàng, mở đầu cho một triều đại mới. Đây là một dấu ấn vàng son đầu tiên của lịch sử Việt Nam về sự chuyển giao triều đại trong ôn hòa, không đổ máu, không hận thù, rất được thịnh thiên thời.

Tạo Nhân Hòa:

Sau khi lên ngôi, ông Lý Công Uẩn rất coi trọng sự việc tạo dựng nhân hòa là một trong ba yếu tố cần có của người mưu sự việc lớn “trị quốc, bình thiên hạ”. Sự việc tạo nhân hòa đã thực hiện trong suốt triều đại nhà Lý chứ không riêng gì thời ông Lý Công Uẩn. Đặc biệt đáng chú ý nhất là việc đại xá nhằm đoàn kết toàn dân.

Triều đại nhà Lý trải qua hơn hai thế kỷ, việc đại xá xảy ra rất nhiều khó thống kê đầy đủ, thế nhưng chỉ cần tính trong 30 năm đầu tiên của nhà Lý ( từ 1009 đến 1040) việc đại xá được ghi nhận như sau:

1)- Năm 1009 mùa Đông, tháng 10, ngày Tân Hợi, vua Ngọa Triều băng hà, ngày Quý Sửu, Lý Công Uẩn tự lập làm vua.

Thế rồi cùng nhau dìu Công Uẩn lên chính điện, lập làm thiên tử, lên ngôi Hoàng đế. Trăm quan đều lạy rạp dưới sân, trong ngoài đều hô “vạn tuế”, vang dậy cả trong triều. Đại xá cho thiên hạ, lấy năm sau làm niên hiệu Thuận Thiên năm đầu. Đốt giềng lưới, bãi ngục tụng, xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiện cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết. (tr.79)

2)- Năm 1010 Vua tự tay viết chiếu dời đô, tháng 12, cung Thúy Hoa làm xong, làm lễ khánh thành (thành Thăng Long), đại xá các thuế khóa cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả.

3)- Năm 1017 Mùa xuân, tháng 3, xuống chiếu xá tô ruộng cho thiên hạ.

4)- Năm 1028 Đại xá thiên hạ. Vua xuống chiếu cho lấy tiền lụa ở kho lớn ban cho thiên hạ .

5)- Năm 1031 Mùa thu, tháng 8, mở hội chay để khánh thành chùa Đại xá thiên hạ.

6)- Năm 1036 tháng giêng, mở hội ở Long Trì khánh thành pho tượng phật Đại Nguyện. Đại xá thiên hạ.

7)- Năm 1040 Mùa đông, tháng 10, mở hội La Hán ở Long Trì, đại xá thiên hạ, tha tội lưu, tội đồ và một nửa tiền thuế cho thiên hạ. (1)

Ngoài ra còn nhiều sự kiện lịch sử khác mang tính nhân hòa xảy ra trong triều đại nhà Lý như sau:

- Năm 1055 Mùa đông, tháng 10, [1b] đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng: “Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu, và cấp cơm ăn ngày hai bữa".

- Năm 1064 Mùa hạ, tháng 4, vua ngự ở điện Thiên Khánh xử kiện. Khi ấy công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa, bảo ngục lại rằng: “Ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót, từ nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm”.

- Năm 1076 mùa hạ, tháng 4, đại xá, Xuống chiếu cầu lời nói thẳng

- Năm 1103 Mùa xuân, Thái hậu phát tiền ở kho Nội phủ để chuộc những con gái nhà nghèo đã phải bán đi ở đem gã cho những người góa vợ. (1)

Từ những dòng sử liệu trên,  có thể đưa đến những kết luận như sau:

1)- Trong 30 năm, nhà Lý đã thực hiện bảy lần đại xá để tạo sự đoàn kết của toàn dân, tính trung bình trên dưới năm năm một lần. Như vậy ở vào triều đại này, một tù nhân vì bất cứ lý do gì, cũng được xét cho đại xá trong vòng năm năm.

2)- Vào thời điểm nhà Lý còn chịu ảnh hưởng của Khổng học Đông Phương, lý thuyết dân chủ, nhân quyền của Tây phương (nếu có) cũng chưa du nhập vào Việt nam, thế mà các vị vua thời Lý đã có ý so sánh sự đói lạnh của người tù và người dân bình thường. Đây là một ý tưởng đầy nhân bản tiếc rằng vào thời này chưa trở thành một quyền thực thụ có tên gọi như ngày nay đó là quyền sống, và được sống bình đẳng.

3)- Những con gái nhà nghèo được Thái hậu bỏ tiền ra chuộc để khỏi gả bán cho người góa vợ, cũng là một ý tưởng nhân bản tôn trọng giá trị nhân phẩm người phụ nữ, bản thân cái nghèo không phải là một cái tội.

4)- Ngoài sự việc đại xá để đoàn kết, nhà vua thời Lý đã dũng cảm tiên phong ra chiếu chỉ vào năm 1076 cầu mong được lời nói thẳng. Chiếu chỉ này ban ra sau khi đã đại xá thiên hạ. Hành vi này chẳng những thực hiện được chính sách đoàn kết dân tộc mà còn là một chính sách biết tôn trọng ý nguyện của người dân “Ý dân là ý trời”. Đây chính là bản tuyên ngôn đầu tiên của nước Việt Nam về tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận. Rất tiếc, những dòng sử liệu về bản chiếu này hiện nay vẫn chưa được các nhà sử học tìm thấy và khai thác.

Xây Địa lợi

Sau khi ổn định ngôi vua, ông Lý Công Uẩn đã có tầm nhìn xa, hiểu rất rõ giá trị phong thủy của vùng đất Đại La, nên đã cho dời đô và đổi tên là Thăng Long. Đây là vùng đất “địa linh sản xuất ra nhân kiệt” hoàn toàn không phải là vùng đất có long mạch dùng để địa táng như một số người lầm tưởng (3). Thời nhà Lý rất trân quý vùng đất này.

Bằng chứng là Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) và Lý Nhân Tông mất đều được an táng tại phủ Thiên Đức, cách xa Thăng Long, nằm kế cận thành Hoa Lư, bên cạnh sông Thiên Đức tức là sông Đuống ngày nay.

Ở đây có hai điểm lưu ý quan trọng:

a)- Thuật ướp xác: đã xuất hiện từ thời nhà Lý, tiếc thay không thấy sử liệu ghi chép lại, bằng chứng rõ nét nhất là:

• Vua Lý Thái Tổ mất vào tháng 3 năm 1028 đến tháng 10 mới an táng, tức là 7 tháng sau khi chết mới chôn vào huyệt mộ.

• Vua Lý Nhân Tông mất vào tháng 12 năm 1127 đến tháng 6 năm 1128 mới an táng.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Quân Sử Việt Nam (TOP)