Quân Sử Việt Nam Một Ngàn Năm Thứ Hai - Quân Sử Ngàn Năm Thành Thăng Long

Phong Thủy Thăng Long 

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Thiên Đức

...

Tương tự như vậy cụm từ “hổ cứ” phải dịch là căn cứ của hổ, hay nơi ở của cọp.

Nếu từ Thăng Long dịch là rồng bay lên, trong khi cụm từ “long bàn, hổ cứ” dịch là rồng cuộn hổ ngồi, hay rồng chầu hổ phục, thể hiện hai lối dịch khác nhau về ngữ pháp không thể chấp nhận được.

Nếu cho rằng dịch rồng cuộn hổ ngồi, hay rồng chầu hổ phục là đúng, điều này gián tiếp nói rằng cụm từ “long bàn hổ cứ” đã viết sai ngữ pháp, thay vì phải viết là “bàn long, cứ hổ”. Sự kiện này hoàn toàn không thể xảy ra với một người học chữ hán từ nhỏ làm quan đại thần, lên làm vua, sử dụng chữ hán mỗi ngày vào thời điểm Việt Nam chưa có chữ Việt.

B /- Về phong thủy:

Ngoài ra lối dịch trên hoàn toàn sai lạc, đem lại nhiều nghịch lý theo ý nghĩa phong thủy của nó.

1)- Chữ rồng cuộn hay rồng chầu mô tả một trạng thái, hay động tác của con rồng an phận, định vị một nơi, trong khung trời hẹp. Điều này hoàn toàn tương phản với ý nghĩa của tên gọi Thăng Long là rồng bay lên trời, ở khung trời mở rộng mang trạng thái hoàn toàn tự do và phóng khoáng.

2)- Rồng cuộn, rồng chầu là loại rồng mang trách nhiệm tận trung phục vụ nhà vua hoàn toàn đối nghịch với hình ảnh rồng bay lên trời, chỉ sự chia ly, rời bỏ nhà vua ra đi, không hẹn ngày trở lại. Có thể nào đặt hai tình thế đối nghịch trong cùng một thế đất hay không?

3)- Rồng cuộn, rồng chầu ở thể TỊNH, trong khi rồng bay lên trời ở thể ĐỘNG, trong một vùng đất lại đặt tên vừa tịnh lại vừa động rất mâu thuần hoàn toàn trái với nguyên tắc dịch lý mà người xưa rất coi trọng.

4)- Theo truyền thuyết rồng luôn luôn ở trong mây, mới có thể vùng vẫy phát huy uy lực của mình, thế nhưng theo hai bản dịch rồng cuộn hay rồng chầu là hai loại rồng thoát ra ngoài môi trường thuận lợi vốn cần thiết của rồng. Như vậy đây là loại rồng thất thế, hết thời.

Hổ ngồi hay hổ phục cũng là loại hổ rời xa núi rừng, “dựa núi nhìn sông” chẳng khác gì loại hổ trong sở thú nuối tiếc một thời quá khứ như bài thơ “nhớ rừng’ của Thế Lữ tâm tình:

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
......
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?
Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?

Rồng và hổ trong hoàn cảnh như đã diễn tả không thể là loại sinh vật phát huy được sở trường và sở đoản của mình được, khó có sự trung thành bền bỉ khi chính những sinh vật này luôn luôn hồi tưởng quá khứ.

5)- Rồng là sinh vật theo truyền thuyết ở trên trời mây, vậy tại sao Lý Công Uẩn lại đặt tên cho vùng đất Đại La là rồng bay lên trời. Câu hỏi đặt ra rồng xuất phát từ đâu đến để có thể bay lên trời? Phải chăng từ trong lòng đất thiên đô. Nếu đúng như vậy thì chữ long bàn phải có nghĩa là vùng đất sinh sản ra rồng để bay về trời. Cũng theo truyền thuyết rồng là sinh vật có linh tánh, bay lên khung trời mở rộng, có khả năng chọn lựa một nơi tốt đẹp và thiêng liêng để sản sinh bảo tồn nòi giống. Như vậy vùng đất Thăng Long phải là nơi “linh thiêng”. Nói một cách tổng quát hơn đây là vùng đất “địa linh để sản sinh nhân kiệt”

6)- Hổ cứ được dịch là nơi trú ngụ của con hổ. Cũng còn ý nghĩa là nơi sản sinh ra mãnh hổ để bảo vệ vùng đất của mình. Như vậy đây là vùng đất nguy hiểm bất khả xâm phạm.

7)- Cụm từ “long bàn hổ cứ” tự thân cũng có ý nghĩa bổ sung cho nhau. Nếu cho rằng vùng đất này sản sinh ra rồng tượng trưng cho nhà vua, thì chính vùng đất này cũng phải sản sinh ra mãnh hổ tượng trưng cho binh tướng giỏi để hỗ trợ cho nhà vua. Vì rằng vua mà không có binh tướng giỏi thì chẳng làm được việc gì cả.

8)- Theo hai bản dịch thế đất rồng cuộn hổ ngồi hay rồng chầu hổ phục mang tính huyền bí, phức tạp, mơ hồ khó hình dung ra được vị trí thế đất như thế nào. Trái lại theo nội dung văn bản chiếu dời đô rất trong sáng và rõ ràng đây là thế đất bằng phẳng, “chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước” lại nằm tại vị trí “chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước”.

9)- Như vậy, dưới nhãn quan phong thủy Thăng Long có giá trị như là vùng đất “nội ngoại lưỡng toàn”.

Thứ nhất về phía đối nội đây là thế đất địa linh sản xuất ra nhân kiệt mọi người dân đều có cơ hội phát huy mọi tài năng của để vươn lên trong khung trời mở rộng không giới hạn.

Thứ hai về đối ngoại đây là thế đất bất khả xâm phạm. Tất cả mọi thế lực ngoại bang xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam như đi vào hang cọp đều phải trả giá bằng mạng sống không có đường về.

Đúc kết từ những ý nghĩa trên, cụm từ “long bàn, hổ cứ” nên dịch là “ ổ rồng, hang cọp” (là nơi rồng và cọp ở và sinh sản, cũng là nơi bất khả xâm phạm) lối dịch này có ưu điểm ngắn gọn thay vì giải thích dài dòng, nhưng lại bao quát được hai ý nghĩa là nơi cư trú (về mặt ngôn ngữ) cũng là nơi sản sinh rồng, cọp (về mặt phong thủy). Lại phù hợp với nội dung của bản chiếu dời đô đã mô tả thế đất Thăng Long.

Người xưa thường hay sử dụng ngôn ngữ đầy sáng tạo hoặc hư cấu nhằm che dấu một nội dung phong thủy nào đó, với điều kiện ngôn ngữ này lại không quá xa rời mục đích và hình tượng của nó. Và cụm từ “long bàn, hổ cứ” cũng không thoát ra ngoài thông lệ cố hữu đó.

Điểm quan trọng cần nói thế đất “ổ rồng, hang cọp” là thế đất “vượng phát cho dân tộc và đất nước” chứ không phải là thế đất vượng phát riêng cho một cá nhân ông vua, hay một triều đại nào cả. Ý niệm này đã được thể hiện trong phần đầu của chiếu dời đô: Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng:

“Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”

Do vậy khi tìm hiểu giá trị phong thủy của đất Thăng Long là phải xét đến hiệu quả của thế đất này trong suốt quá trình sử dụng, chứ không thể chỉ chú trọng đến thời điểm nhà Lý dời đô.

II/- Kiểm chứng qua lịch sử:

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, nước Việt Nam được hình thành từ năm 2879 trước Tây Lịch cho đến nay 2010 sau Tây Lịch tổng cộng là 4889 năm, đã trải qua nhiều thời kỳ hay triều đại như sau:

Bảng thống kê các triều đại (thời kỳ) Việt Nam

Qua bản thống kê, có thể rút ra những tổng kết như sau:

• Thời tiền sử từ năm 2879 đến 258 trước Tây Lịch tổng cộng 2672 là thời gian dài, rất tiếc là không có sử liệu ghi chép đầy đủ, do đó vẫn còn nhiều tranh cãi.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Quân Sử Việt Nam (TOP)